Người viết báo cũng có cái duyên của nó

Thứ tư - 12/06/2019 21:51
Vĩnh NguyênNGƯỜI VIẾT BÁO CŨNG CÓ CÁI DUYÊN CỦA NÓBoong tàu lau xong sạch bóng. Toàn thể mọi người tập trung boong trước ănsáng. Ăn xong, tôi cùng một số anh em cụm lại (cũng ở boong trước) nghe đàitiếng nói Việt Nam. Hồi ấy, toàn phân đội, tàu nào cũng được phát một cái đàiorionton để nghe tin tức, nghe chương trình ca nhạc vào những giờ nghỉ…
Người viết báo cũng có cái duyên của nó
  • Video có tiíh chất minh họa

  • Vĩnh Nguyên
    NGƯỜI VIẾT BÁO CŨNG CÓ CÁI DUYÊN CỦA NÓ
    Boong tàu lau xong sạch bóng. Toàn thể mọi người tập trung boong trước ăn sáng. Ăn xong, tôi cùng một số anh em cụm lại (cũng ở boong trước) nghe đài tiếng nói Việt Nam. Hồi ấy, toàn phân đội, tàu nào cũng được phát một cái đài orionton để nghe tin tức, nghe chương trình ca nhạc vào những giờ nghỉ… Tôi nhìn thấy tay liên lạc tiểu đoàn từ trên bờ bước xuống cầu thang tàu rồi lên tàu. Như đã quen, tay liên lạc chui vào khoang thuyền trưởng. Một lát sau, thuyền trưởng Nguyễn Hoàng Thiết cùng tay liên lạc đi lên và tới chỗ chúng tôi. Thuyền trưởng Thiết nói với tôi: “Đồng chí Vinh, về phòng thay quân phục chỉn chu rồi lên tiểu đoàn có việc gấp.”  Tôi cùng tay liên lạc đi lên tiểu đoàn đang đóng quân trong các nhà dân làng Hạ Đoạn. Vừa đi, tôi tò mò hỏi tay liên lạc cùng cấp binh nhất: Cậu có biết tiểu đoàn gọi tớ lên là việc gì không? Hắn ta nói: Có ông bộ binh mang quân hàm trung úy (ngang cấp tiểu đoàn trưởng) đang trao đổi công việc chi đó. Thì cứ lên rồi biết.
    - Báo cáo tiểu đoàn trưởng, tôi binh nhất Nguyễn Quang Vinh, báo vụ tàu 171, tiểu đoàn 200, có mặt!
    - Rất tốt, tiểu đoàn trưởng nói rồi chỉ chiếc ghế trống đối diện trung úy bộ binh đang ngồi. Trung úy bộ binh có khuôn mặt rất tươi đã chăm chú nhìn tôi từ lúc tôi bước vô nhà và đứng nghiêm đưa tay chào theo quân lệnh.
    Tiểu đoàn trưởng 200 vẫn ngồi yên trên ghế của mình. Trung úy bộ binh quay nhìn sang tôi, nói: Tôi tên là Nguyễn Phúc Nghiệp (không nói rõ chức vụ) ở báo Quân đội Nhân dân. Chúng tôi đã đọc mấy bản tin, bài của đồng chí gửi đến báo chúng tôi. Tòa soạn chúng tôi rất quý. Nhưng cánh hải quân ít bài lắm. Cánh bộ binh thì bài vở quá nhiều. Vì ít nên càng quý. Trung úy Nghiệp nói tiếp: Tôi vừa trao đổi với tiểu đoàn trưởng của đồng chí, là đồng chí Vinh đã có ý thức về đơn vị của mình, tuyên truyền việc làm tốt của đơn vị lên mặt báo. Chúng tôi nhận thấy qua những bài đồng chí gửi tới, đồng chí rất có khả năng. Nếu chịu khó trau dồi, cần mẫn học tập rồi viết nhiều hơn nữa, tương lai, đồng chí sẽ trở thành một nhà báo chuyên nghiệp.
    1
  •  Tôi lặng lẽ không biết nói gì. Tiếp đó, Trung úy Nghiệp mở cặp rút ra một tờ giấy đã in sẵn, những hàng
    có dấu chấm chấm (…) cũng đã ghi rõ họ tên, tuổi, quê quán, đơn vị công tác của tôi. Ở phía dưới đã có đóng dấu đỏ của báo Quân đội và người ký. (Người ký cấp hàm cao hơn trung úy Nghiệp). Trung úy Nghiệp nói tiếp: Chúng tôi muốn đồng chí Nguyễn Quang Vinh làm cộng tác viên của báo Quân đội Nhân dân, nếu đồng chí Vinh đồng ý thì kí vào đây. Trung úy Nghiệp đưa bút cho tôi, và tôi đã ký tên. Từ đó, tôi thành cộng tác viên của báo quân đội Nhân dân Việt Nam. (Khiđó vào khoảng gần cuối năm 1964). Trên đường từ trụ sở tiểu đoàn về  tàu, tôi nghĩ lại những bản tin, những bài báo đã gửi cho báo Quân Bạch Đằng (báo lưu hành nội bộ của Bộ tư lệnh Hải quân) và báo Quân đội Nhân dân. Tôi lẩm bẩm trong mồm: Ồ cái thằng Vê, dânbiển Thanh Khê tham  gia cuộc thi bơi lội “ Vượt sông Bạch Đằng truyền thống toàn quốc”, giật được cái giải bét mà tòa báo Quân đội Nhân dân chú ý tới mình đến vậy ta?
               Sau đó không lâu, tôi được mời dự Hội nghị cộng tác viên của báo Quân Bạch Đằng. Từ bến cảng Hạ Đoạn cuốc bộ lên Hải Phòng, đến Bộ tư lệnh Hải quân phải mất hơn hai giờ đồng hồ. Phòng vô tuyến điện của tôi cùng khoang tàu với thuyển trưởng. Tôi thức dậy lúc 5h kém 10. Chuẩn bị lên boong sau đuôi tàu đánh răng, rửa mặt, thì đã nghe ba tiếng gõ cửa cóc cóc cóc. Tôi mở cửa, Thuyền trưởng Nguyễn Hoàng Thiết ha hả cười: Dậy rồi à, sáng nay khỏi tập thể dục với anh em. Vinh đi bộ lên tới đó là thể dục rồi. Họ đã mời dự Hội nghị một ngày chắc là có ăn bữa sáng.  Nhưng theo tớ, tới trước cổng Bộ, quanh đó thiếu gì quán mì kẹp thịt, cứ xơi một ổ cho chắc bụng. Rồi vào Hội nghị với người ta. Nhớ ghi chép cho kỹ người ta nói những gì. Đồng chí Vinh được đi dự Hội nghị viết báo là vinh dự cho cả phân đội và tiểu đoàn ta đó nghe. Đúng như lời thuyền trưởng Thiết dặn dò. Tôi trình giấy tờ ở cổng gác rồi đi vào. Đoàn quân “tập viết báo” từ trong nhà ăn đã ăn xong đi ra. Nhiều người đang xỉa răng, uống nước trước một cái hành lang rất dài. Có một trung sĩ nói với tôi:
    Đồng chí binh nhất ở đoàn nào, chắc ở xa giờ mới tới, chưa ăn sáng chứ gì, vào ăn đi, phở còn nhiều lắm. Tôi nói tôi mới tới thật, nhưng tôi đã ăn rồi. Tôi trả lời qua
    2
  • loa cho xong chuyện. Bởi là lần đầu khá lạ lẫm nên tôi chú ý xem những ai cùng binh nhất với tôi. Hóa ra có cả binh nhì, hạ sĩ, trung sĩ đông hơn. Cấp sĩ quan có nhiều chuẩn úy, một số thiếu úy (ngang cấp thuyền trường Thiết), lác đác chỉ vài trung úy. Vào Hội nghị, chính cậu trung sĩ khi nãy lên nói nội dung chương trình Hội nghị cộng tác viên của toàn binh chủng Hải quân (Hội nghị chỉ một ngày) và giới thiệu giảng viên. Người giảng viên tên họ gì đến giờ tôi không còn nhớ nữa, chỉ nhớ một ông trung úy, nói tiếng trọ trẹ giọng như người quê miền Trung Hà Tĩnh hay Nghệ An rất dễ nghe là giảng viên chính. Ông là phó Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Thủ đô Hà Nội mà Bộ tư lệnh Hải quân mời về giảng. Còn vị trung sĩ lên giới thiệu chương trình, sau này nhân ngày chủ nhật, tàu 171 của tôi vào đốc sửa chữa, tôi được phép lên thành phố Hải Phòng chơi, anh em tàu thường gọi “bát phố”, tôi tới thẳng báo Quân Bạch Đằng mới biết vị trung sĩ kia là nhà báo Sĩ Thoại, phụ trách tờ báo “lưu hành nội bộ” của Bộ tư lệnh Hải quân. Tôi còn biết thêm Đình Kính, Sĩ Hưởng, Lê Hoài Nam, Lương Sơn… là những tay bút cừ khôi của báo Quân Bạch Đằng thời đoạn đó. Ông giảng viên đang nói chính trị về tình hình miền Nam (trong chương trình là một giờ) nào nhân dân miền Nam đang nổi dậy như thế nào để chống lại sự kẹp của chính quyền Sài Gòn và quân đồng minh đang nhảy vào… Toàn những chuyện nhàm chán tôi đã nghe các buổi học chính trị ở Tiểu đoàn, Trung đoàn… Nhưng đến giờ sau, cho đến hết cả buổi chiều, ông giảng về chuyên môn nên tôi tập trung hết sức cao độ: Nào là, giờ các đồng chí đang viết tin ngắn, tin dài, những việc làm tốt và những sai sót ảnh hưởng đến danh dự của người chiến sĩ cách mạng… Các đồng chí cần nêu gương người tốt việc tốt. Ông nhấn mạnh: Phải tìm các gương điển hình, phải nêu bật cái dũng khí của họ, giả dụ như lúc bị thương, vượt qua hiểm nghèo như thế nào…tư tưởng, bản lĩnh ra sao và trực diện chiến đấu với quân thù…Viết gương người tốt việc tốt (bây giờ gọi là phi hư cấu) vẫn thành truyện ngắn hay mà như báo Quân đội Nhân dân thường cho in. Báo Quân Bạch Đằng của ta đây cũng đã in những gương như vậy rồi, nhưng, tôi nhấn mạnh chữ nhưng là phải tìm những gương điển hình cao nhất, lột tả tính cách của họ, và chi tiết, rất cần chi tiết sống động của họ… khi ấy mới có thể nên “ truyện”
    được.Cuối giờ. ông tươi cười nói lời tạm biệt: “Tòa báo Quân đội mong nhận được rất nhiều và rất nhiều... những bài báo tốt từ lớp tập huấn này”.
    3
  •  Đồng chí trung sĩ mời cả lớp ra sân chụp ảnh kỷ niệm trước khi ăn bữa cơm thân mật để chia tay. Sau đó, báo Quân Bạch Đằng gửi về cho tôi một tấm ảnh. Tấm ảnh rặt toàn lính mặc áo trắng, yếm trắng sọc xanh, không mũ. Tôi cố giữ tấm ảnh này nhưng bây giờ không biết nó đã biến đi đâu? Sau đó không lâu, tôi nhận được báo biếu, báo Quân Bạch Đằng rồi tiếp báo Quân đội Nhân dân in bài của tôi. Báo Quân đội Nhân dân có gửi nhuận bút còn báo Quân Bạch Đằng “lưu hành nội” thì không. Tôi lại được bát phố đến 61 phố Cầu Đất mua lạng chè móc câu và cân kẹo lạc đường trắng về khao anh em tàu 171 thân yêu. Tôi xin phép lên Hà Nội hai ngày. Tôi tìm tới các hiệu sách và mua được trọn bộ giáo trình Đại học tổng hợp văn. Tôi mừng quá ôm nó về tàu tự học. ( Sau này, khi biết cô em dâu Đỗ Thị Khẩn đang học khóa học 10+3 ra dạy cấp 2, tôi đã gửi bộ giáo trình này cho Khẩn để cô có thêm cứ liệu giảng dạy).Tôi tiếp ra bưu điện Hải Phòng đặt mua dài hạn ba loại báo và tạp chí: Tuần báo văn nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội và tạp chí Tác phẩm mới. Lấy địa chỉ trên bờ là cảng vụ X46 Hải Phòng. Tôi không quên dặn người phụ trách cảng vụ giữ báo cho tôi trong những lúc tàu đi làm nhiệm vụ. Chiến sự miền Nam giữa quân dân ta với đồng minh chính quyền Sài Gòn ngày càng khốc liệt. Chúng hay cho tàu nhỏ chạy nhanh vượt tuyến ra quậy, khiêu khích vùng biển Vĩnh Linh và phía Bắc đảo Cồn Cỏ. Rồi sự kiện vịnh Bắc bộ xảy ra. Phân đội có ba tàu, trong đó có tàu 171 của chúng tôi nhận nhiệm vụ vào ém ở cửa sông Gianh. Ôi gần nhà quá! Qua huyện Bố Trạch, qua thị xã Đồng Hới là tới quê tôi rồi. Một số anh em quê Bố Trạch, Quảng Trạch gần đôi bờ sông Gianh được thuyền trưởng linh động (thay nhau) về thăm gia đình bốn đến năm giờ đồng hồ. Còn chỉ một mình tôi là vô tuyến điện nên không được rời tàu. Sự kiện lịch sử xảy ra với Hải quân nhân dân Việt Nam: vào khoảng 3h chiều ngày mồng 5 tháng 8 năm 1965, không quân Mỹ tập kích ra miền Bắc đánh phá 3 nơi: Cảng sông Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa) và Quảng
    Ninh. Ba tàu phân đội rời bến ra giữa sông Gianh. Tôi được lệnh bỏ máy trực vô tuyến điện lên boong chuyền đạn. Trước khi chuyền đạn cho khẩu đội pháo boong trước, tôi lên đài chỉ huy lắp máy bộ đàm lên đầu thuyền trưởng để nhận lệnh chiến đấu với phân đội trưởng đang trên một chiến hạm khác. Máy bay Mỹ lao tới.Chúng l ượn một vòng trên quân cảng. Pháo tàu phân đội được lệnh nổ súng rần rần. Bốn phi cơ Mỹ lượn trắng bụng trên dòng sông Gianh và thi nhau phóng bom.
    4
  • Lúc ấy, tôi đang trên đài chỉ huy chưa kịp xuống boong tiếp đạn. Tàu 171 trúng bom khói đạn mịt mù trùm kín. Đồng chí lái tàu ngã xuống dưới chân tôi hy sinh. Thuyền trưởng nhảy qua cầm tay lái. Tôi bị thương ở đùi phải. Thuyền trưởng vẫn bình an. Sau một giờ bắn phá, quân cảng sông Gianh đã bị đánh sập. Máy bay Mỹ đã
    cút. Hai tàu có chiến sĩ hy sinh, bị thương được lệnh cập cảng phụ làng Thuận Bài để nhờ địa phương an táng số quân hy sinh và băng bó thương binh. Tôi được lên bờ, chân đi cà nhắc. Một ông nông dân cao lớn sốc nách tôi lên lưng cõng vào một ngôi nhà cạnh bờ sông để các cô y tá băng bó cho nhiều người. Số chiến sỹ an lành được lệnh lấy những thoi gỗ đã cất sẵn trong kho và búa ra nêm chặt hai mạn tàu bị nhiều lỗ thủng. Người bị thương nặng được lệnh ở lại địa phương chăm sóc. Tôi bị thương nhẹ, băng bó xong, tôi xin trở lại tàu. Tôi nhìn hai mạn chiến hạm 171 như nhìn con nhím đang xù lông thế thủ trước địch thủ muốn tấn công mình. Đêm đó, tàu 171 được lệnh về đốc Hải Phòng sửa chữa. Còn hai tàu của
    phân đội vẫn ở lại sông Gianh. Chiến hạm 171 bị thương tích đã đưa chúng tôi về đốc X46 Hải Phòng. Phiên họp toàn thể tàu, thuyền trưởng công bố số anh em quê Hải Phòng được nghỉ phép ba ngày. Nếu ai là ngành trưởng các ngành phải nộp lên cho thuyền phó bản “kế hoạch sửa chữa” của ngành, mới được rời tàu.
    Thuyền phó lên cảng vụ báo cơm. Tôi cũng theo thuyền phó lên đó để lấy báo. Báo tuần, tạp chí tháng tôi đặt về đây cuộn tròn như những ống thổi lửa khá nhiều. Tôi kiếm sợi dây bó thành một bó to vác về phòng. Số anh em thích đọc tạp chí Văn nghệ quân đội, tôi cho họ mượn bớt. Còn tôi, cứ theo dấu bưu điện ngày báo tới mà mở ra đọc dần dần... Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng đã sơ tán nhiều loại máy ra các bến bãi, che lán để hoạt động. Nhờ thế, tôi làm quen một cháu gái mới 16 hoặc 17 tuổi tên Nga xin vào nhà máy học làm thợ máy. Nga kể, nhà cháu chỉ có 3 người là bố, mẹ và Nga, nhà đang ở phố Thượng Lý, gần cầu Thượng Lý. Tàu 171 sắp hạ thủy. Mà hạ thủy là phải đi xa. Tàu phân đội hai chiếc đang hoạt động vùng biển khu 4, Quảng Bình. Tôi tâm sự với thuyền trưởng Thiết: phòng báo vụ nhỏ hẹp nhất tàu, mà sách báo, tạp chí chật ních. Vậy xin thuyền
    trưởng cho sơ tán chúng nó lên bờ. Sơ tán lên đâu? Gần cầu Thượng Lý, nhà cháu
    5
  •       Nga vào nhà máy Bạch Đằng học làm thợ máy. Nhiều vậy phải đi mấy chuyến mới hết? Báo cáo thuyền trưởng chỉ một chuyến thôi. Em cho hết vào hai bao tải. Em đã liên hệ được cái xe đạp không chuông, không   phanh, của bác đi chợ trên cảng vụ. Mày giỏi thật. Làm nhanh lên. Không kịp với máy bay Mỹ thì toi giữa đường. Tôi chuyển được hai bao tải lớn sách báo, tạp chí tới nhà cháu Nga bên kia
    cầu Thượng Lý khi cháu Nga không có ở nhà. . Cũng năm 1965, điểm mà không quân Mỹ ném bom đầu tiên xuống Hải Phòng là cầu Thượng Lý. Chúng muốn cắt đứt mạch giao thông đường bộ chính giữa hai thành phố lớn Hải Phòng – Hà Nội. Tàu 171 đang hoạt động dài ngày ở một tọa độ xa được lệnh trở về Hải Phòng. Tàu vừa cập cảng đã nghe xôn xao máy bay Mỹ vừa đánh phá cầu Thượng Lý. Chúng đánh nhanh rồi rút nhanh. Chúng tập kích bất ngờ. Nhưng lực lượng phòng không Hải Phòng đã cảnh giác. Rada ta phát hiện sớm đã cho nổ súng đón đầu nên chúng thi nhau bổ nhào, dội bom nhưng không trúng cầu mà trúng vào các nhà dân. Tin cho biết nhiều người bị thương và một bé gái chết cháy thiêu, tội lắm! Chắc nhà cháu Nga bị rồi? Họ có đi sơ tán không? Hay đã đi sơ tán nhưng chủ quan lại trở về nhà? Những băn khoăn của tôi, tôi trình bày với thuyền trưởng. Và xin thuyền trưởng cho tôi chạy nhanh lên đó xem tận mặt rồi chạy về. Thuyền
    trưởng nói: tàu mới về có lệnh gì cấp tốc vì sao? Nhưng ông cười rồi đổi giọng thân mật: Tớ cho cậu chạy 2 tiếng có kịp không? Tôi bảo kịp. Ông lại bảo: Tớ cho cậu mặc thường phục, buộc giày cho chặt mà chạy!
    Tôi làm i như vậy. Cầu Thượng Lý chưa bị sập. Tôi vượt qua. Nhà cháu Nga bị sập hoàn toàn. Tôi hỏi nhiều người gần đó về những người trong gia đình nhà cháu Nga có ai việc gì không. Họ nói cả nhà đó đi sơ tán nên chưa hề biết nhà mình bị cháy bị sập. Tôi nhìn qua nhà xa xa 100m nhiều người xôn xao, có người khóc. Tôi lại hỏi nhiều người. Họ bảo: Chú qua đó mà xem. Tội nghiệp lắm, một cháu gái 10 tuổi bị bom thiêu đen thui. Bố mẹ nó còn sống đang cấp cứu ở bệnh viện. Giờ bà con đang tính an táng cháu như thế nào? Tôi lại chạy ù qua đó. Đúng là một bé gái bị cháy đen, tóc sém vàng. Gia đình này đã đi sơ tán bỗng mang cả con về...Tôi vừa chạy về tàu vừa khóc tức tưởi như khóc cho đứa em gái của mình... Tôi chạy trở về tàu khôngnhanh như lúc chạy đi. Bởi chỗ vết thương ở đùi mảnh đạn vẫn còn nằm trong đó. Khi làm thuốc y tá chỉ rửa qua thuốc đỏ rồi băng mà đâu biết mảnh đạn chui vàosâu. (Đến bây giờ, mảnh đạn vẫn còn trong người tôi. Mùa lạnh giá có buốt đôi
    6
  • chút, còn bình thường thì không hề gì, nó đã thành quen. Các con tôi có phàn nàn: Sao ngày trước ba không giải phẫu vết thương, làm thẻ thương binh? Giờ mỗi kỳ thi, ba biết không, các con được cọng thêm một điểm rưỡi! Tôi quát: Việc các con học là lo học cho giỏi. Còn đây là việc của ba. Bạn ba vừa đồng đội vừa đồng
    hương ngã chết dưới chân ba thì bây giờ gia đình người ta được những gì? Ba là thủy thủ. Ba còn khỏe, chớ lo. Bruce Weigl - Nhà thơ nước Mỹ, năm 1967 là lính chiến ở chiến trường Quảng Trị, nay cùng Đoàn Nhà văn Mỹ sang thăm và giao lưu với Nhà văn tỉnh Thừa Thiên- Huế, qua Đào Kim Hoa phiên dịch, tôi và Bruce
    vui vẻ nắn bóp vết thương của nhau. Sau đó, tôi viết “ Brucs Weigl và tôi” có câu: … Rồi chúng tôi sờ nắn vết thương nhau/ Như hỏi nơi ấy có còn đau?). Nay chạy nhanh, chạy lâu căng cơ nên rất đau. Nhưng vì sợ trễ giờ tôi vẫn chạy. Tôi tin với tốc độ tuy hơi chậm nhưng vẫn chạy liên tục vẫn kịp giờ.
    Tôi bước lên tàu là nằm vật ra boong. Thuyền trưởng cười còn hoan nghênh: Giỏi, còn những 15 phút kia đấy!
    Nhớ em bé bị chết cháy, tự nhiên tôi nhẩm hai từ “ngọn lửa”. Tôi nghĩ: lửa này không phải lửa đạn của quân thù mà là ngọn lửa căm hờn tột độ của nhân dân ta với quân đế quốc dã man! Và đêm đó tôi viết bài thơ “ngọn lửa”, mà không viết bài cho báo.
    NGỌN LỬA
    Em ngủ
    Quyển sách gối đầu nâng giấc em ngoan
    Anh nhìn em ngủ
    Đôi tay trần trắng trong
    Tối nay em ngủ sớm
    Anh bảo cả nhà đi đứng nhẹ nhàng
    Thương em theo trường sơ tán
    Thứ bảy chiều qua em mới đạp xe về
    Nhưng em tôi không thể nào dậy nữa
    7
  • Ôi em tôi
    Mới đây thôi
    Với đôi tay trần trắng trong màu sữa
    Giờ biến thành màu than
    Mái tóc em mảng cỏ sém vàng!
    Em ngủ?
    -Không!
    Em đã là ngọn lửa!
    Tôi chép bài “Ngọn lửa” gửi báo Quân đội Nhân dân. Và được quý báo in rọn vẹn (vào cuối năm đó). Đó là bài thơ đầu tiên trong cuộc đời văn nghiệp của tôi sau này. Sự kiện này đã ghi trong (“Tổng tập Nhà văn quân đội – kỷ yếu và tác phẩm”, do nhà xuất bản Quân đội Nhân dân ấn hành tháng 11 – 2000. Phần thơ, tập 2 trang 140). Tàu 171 lại về Hải Phòng. Tôi lại có dịp “bát phố”. Tôi gặp mấy anh trong báo Quân Bạch Đằng. Các anh nhắc khéo: Phân đội chiến đấu, tiếp tế các đảo vang lừng thế, sao không thấy gửi bài, hay có thơ đăng trên Quân đội Nhân dân oách quá lại lơ anh em báo “lưu hành nội”? Tôi nhỏ nhẹ cười cho qua chuyện. Sự thực
    tâm hồn tôi đã nghiêng qua văn học.
           Sang năm 1966, Hải Phòng nhiều nơi bị máy bay Mỹ bắn phá dữ dội. Nhất là chúng phong tỏa cửa biển bằng ngư lôi, bom từ trường, bom nổ chậm. Tàu buôn nước ngoài chỉ thả neo ngoài khơi xa mà không thể nào vào cửa Nam Triệu để cập cảng Hải Phòng. Binh chủng Hải quân có sáng kiến phá thông luồng lạch, bằng
    cách: Cho tàu nhỏ, chạy tốc độ cao kéo theo sợi dây cáp gây kích nổ. Thế là bom nổ chậm, bom từ trường, thủy ngư lôi cứ nổ đùng…đùng… đùng… theo sợi dây cáp dài cả trăm mét…Sự sống, cái chết chỉ trong gang tấc! Và tôi viết bài thơ “Các anh đi thắp bình minh”. Bài thơ được đăng ở tạp chí
    Cửa Biển thuộc Hội văn học nghệ thuật Hải Phòng. Hội vhnt Hải Phòng gọi tắt làHội văn nghệ Hải Phòng tổng kết công tác cuối năm, tôi được mời dự. Chủ tịch Hội là nhà văn Nguyên Hồng, nhưng ông vẫn ở Hà Nội. Buổi tổng kết cuối năm vẫn không có ông. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm và ông Văn Tiến, hai phó Chủ tịch,
    8
  • phụ trách. Điểm qua bài vỡ cộng tác viên gửi tới, bỗng nhiên ông nhắc đến tôi: một chiến sĩ hải quân mới xuất hiện một bài mà nội dung đã có tầm tư tưởng, tứ thơ mạnh và cách viết cũng rất mới! Tôi biết nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, và dịch giả bằng tiếng Pháp Nguyễn Viết Lãm qua sách báo chứ đã gặp ông bao giờ. Ấy mà Cửa Biển mới in cho tôi một bài đầu tiên mà ông đọc, ông nhận xét và khen. Lòng tôi cứ nao nao làm sao! Nhà ông
    ở phố Cầu Tre, tôi có ý định tới thăm nhà ông vào một chủ nhật đầu năm mới, nếu tàu vẫn neo đậu cảng Hạ Đoạn. Chiến tranh ngày càng ác liệt. Tàu lại cách bờ. Tôi đâu còn kịp thăm ai. Thân tình như thuyền trưởng Thiết, và chiến hạm 171 mà chúng tôi rất đỗi tự hào bởi nó cùng mang tên- số hiệu với Trung đoàn (sau này giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Trung đoàn 171 chuyển vào Nam thành Lữ 171), qua năm 1967 đã phải chia tay nhau, mỗi người đi nhận một nhiệm vụ mới khác… Tôi nhận nhiệm vụ bảo quản tàu ở hang Ma (Vịnh Hạ Long- Quảng Ninh). Về đây buồn quá! Thầy mẹ tôi đã mất, ngôi chùa Bảo Thiên thầy mẹ tôi xây dựng
    khi tôi chưa ra đời và cả ngôi nhà ba gian hai chái đã ra tro bụi. Gia đình hai chị gái tôi ở Quảng Bình đang sơ tán vào rừng, hai em tôi đứa vào bộ đội đặc công, đứa gái út ra Hà Nội học đại học cũng sơ tán học ở các tỉnh trung du xa xôi làm sao gặp được. Tết lại đến. Đêm, chim lợn kêu éc... éc... trên các hòn đảo mới rời rợi
    buồn…Lại nhớ lời thuyền trưởng Nguyễn Hoàng Thiết, quê Vinh Tân, thành phố Vinh: “Sao ngày trước em không khai thành phần là bần cố nông để được đào tạosĩ quan”? Có hai người nữa cũng thân tình hỏi tôi như thế. Đó là ông Trần Đàm,học ở Trung Quốc, lấy bằng thuyền trưởng ở Trung Quốc, quê làng Lệ Kỳ cùng xã
    với tôi. Người thứ ba là ông Trần Đình Bạo, chính trị viên tiểu đoàn, quê thuốc lá  Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Và tôi đã nói với họ: Làm sao tôi có thể khai gian lý lịch. Nếu không có cái “uy” của thầy tôi thì khi cải cách ruộng đất, gia đình tôi phải quy phú nông, bởi gia đình tôi nhiều ruộng mà mẹ tôi thuê người giúp việc ở luôn trong nhà. Thành phần gia đình tôi là trung nông lớp trên, tôi phải khai đúng như thế. Còn tôi, cứ làm lính cũng tốt, có sao đâu… Cách mạng miền Nam ngày càng phát triển mạnh. Quân ta thắng nhiều trận lớn. Có cả một Trung đoàn Việt Nam cộng hòa bỏ súng đầu hàng quân giải phóng ở mặt trận đường 9 - Nam Lào. Nếu không bảo quản tàu cho tốt thì khi giải phóng miền Nam, ta lấy đâu ra tàu mà vào giải phóng? Công việc bảo quản tàu còn dài…
    9
  • ... Tôi về Trung đoàn 171 nhận lệnh mới: bổ sung vào phân đội mới ba tàu lên Hà Nội với nhiệm vụ bảo vệ cầu Long Biên lịch sử, chia lửa với quân dân Thủ đô chờ quân giặc tới! Và mười hai ngày đêm Điện Biên Phủ trên không đã diễn ra… Tàu tôi đậu phía bờ sông Hồng gần Bát Cổ Viện, tàu chỉ huy đậu gần cầu Long Biên phía Gia Lâm bắn máy bay bổ nhào, tàu thứ ba đậu phía trên làng Bắc Cầu bắn chéo cánh sẻ. Súng, pháo quân dân Hà Nội cùng nổ ran trời. Tôi lên boong trước chuyền từng băng đạn cho khẩu đội pháo 37 hai nòng.
    Ta nhận định đúng. Chúng thi nhau bổ nhào phóng bom phá cầu Long Biên. Từng chiếc, từng chiếc lao xuống phóng bom và mất hút. Chẳng có ai nói máy bay bốc cháy, mà nói “cầu Long Biên đã gãy rồi”. Tôi nhìn thân cây cầu, nó gãy đoạn gần bờ phía Gia Lâm, gần tàu chỉ huy. Chắc tàu chỉ huy không thể tránh khỏi thương vong? Tàu chỉ huy hy sinh ba pháo thủ. Đêm đó, họ được an tang trong vườn dâu
    của làng Bắc Cầu. Mấy tháng sau trên báo Thủ đô có in bài thơ của nhà thơ Bằng Việt, có câu:
    “Tháng tám cầu nhô hai nhịp gãy”, thế mà tôi đứng gần, nhìn rất gần cầu Long Biên gãy gục lúc khói bom trùm kín mà chẳng viết được câu nào? Tin vui truyền đi mọi nẻo đường, mọi ngôi nhà: Ta đã buộc Mỹ ngừng ném
    bom trên toàn miền Bắc Việt Nam, trong một hiệp định tại Paris năm 1973. Phân đội tàu chúng tôi trở lại Hải Phòng. Đơn vị cho tôi nghỉ phép 12 ngày về thăm gia đình ở Quảng Bình. Ôi sung sướng quá! Về nhà gặp được hai chị, còn hai em đang ở xa thì không sao. Nhân cơ hội này tới thăm các anh chị trong Hội văn nghệ và Sở Văn hóa Quảng Bình. Trước đó, tôi đã gửi nhiều thơ về hai địa chỉ này và được đăng khá nhiều. Giờ tôi tới thăm mang quân phục hải quân, vai gắn lon thượng sĩ chắc họ quý tôi lắm? Sáng hôm sau, tôi tới cơ quan Hội văn nghệ Quảng Bình, gặp anh Xuân Hoàng – phó Chủ tịch trực Hội, tôi đặt vấn đề thẳng với anh là muốn chuyển ngành về Hội. Nhiều người rất tán thành, nhưng nhà thơ Xuân Hoàng nói: Riêng mình thì mình đồng ý rồi, nhưng còn tổ chức cậu ạ. Để tôi hội ý Ban thường vụ rồi trả lời đồng chí việc tiếp nhận. Nhà thơ cười ha hả nói thêm: 10h sáng mai Vĩnh Nguyên trở lại đây có được không? Tôi trả lời: Dạ được, rồi nói thêm: Quý hóa quá, trong thời gian này em được đi thăm bà con, rồi còn trả phép. Đường còn nhiều hố bom xe phải đi vòng... Nhà thơ Xuân Hoàng lại cười ha hả, nói:” Chúng tớ ở trong túi bom còn lạ lùng gì. Thôi em về gặp bà con. Mai đến đúng giờ nghe”...
    10
  •     Tôi cầm tờ tiếp nhận nhân viên mới có chữ ký, đóng dấu đỏ của Ban thường
    vụ Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình, về đơn vị. Còn đứng trên bờ, chưa bước chân xuống cầu thang gỗ để lên tàu, tôi đã bô bô với các chiến hữu bộ phận buồm dây: Bây giờ tớ là dân sự rồi nhé. - Giỏi thế làm gì mà chẳng xong – Ngan, quê Nghệ An nói và cười. Tôi trình giấy cho thuyền trưởng, tiếp lên trình giấy cho tiểu đoàn. Rồi lên Trung đoàn. Tôi đưa giấy tờ cho trung úy phụ trách hậu cần. Trung úy xem giấy tôi trình rồi rút trong tập giấy trước bàn một tờ giấy đã in sẵn đưa cho tôi và nói: Bút đây, tôi đọc và anh ghi vào các khoảng trống cho đúng, cho nhanh: Bộ Tư lệnh Hải quân/ Trung đoàn 171/ số 1780L Ngày 22 tháng 01 năm 1974
    Thủ trưởng Trung đoàn 171
    ………….
    Xét đề nghị của các đồng chí: Thủ trưởng cơ quan quyết định
    Điều 1 – Nay chuẩn y cho đồng chí Nguyễn Quang Vinh nhập ngũ tháng 04-
    1962. Xuất ngũ: Không. Tái ngũ: Không. Cấp bậc: Thượng sĩ. Chức vụ: Trưởng
    đài vô tuyến điện.
    Đơn vị: Trung đoàn 171 Bộ tư lệnh Hải quân.
    Được: chuyển ngành. Về: Tổ chức dân chính. Ủy ban hành chính tỉnh Quảng
    Bình.
    Điều 2- Đơn vị chịu trách nhiệm giải quyết mọi quyền lợi cho đồng chí Vinh từ
    4 – 1962 đến hết ngày 22 – 01 – 1974.
    Điều 3- Các đồng chí tham mưu trưởng, chủ nhiệm chính trị, chủ nhiệm hậu
    cần, các cơ quan có liên quan và đồng chí Nguyễn Quang Vinh chiếu quyết định
    thi hành.
    Thủ trưởng Trung đoàn 171
    Thiếu tá Phạm Quang Nho đã ký và đóng dấu.
    Cầm tờ quyết định chuyển ngành mừng lắm, tôi đi khoe khắp, mừng lắm. Tôi cho anh em hết quần áo quân phục, mừng lắm. Nhưng đâu đã được rời tàu. Còn phải bàn giao máy móc, khí tài, vật tư cho đồng chí báo vụ mới. Chờ lâu chưa có
    11
  •  người thay thế thì có thể “linh động” nếu, ông thuyền phó nhận cho. Rồi còn bữa cơm thân mật chia tay “tàu là nhà, biển là quê hương”. Khi ấy mới được rời tàu. Riêng về phần tôi khi rời quân ngũ hải quân, có đôi chút bùi ngùi: Mất số sách báo và những ghi chép gửi ở nhà cháu Nga là phần nhỏ. Phần lớn là không biết họ đang ở đâu để tôi nói đôi lời lúc chia xa. Rất nhiều lần, tôi vào nhà máy hỏi Ban tổ chức tìm hộ địa chỉ nhưng vẫn bằng không… Thứ hai là, tôi đã đóng một quyển sách bìa cứng và dày như quyển từ điển. Một phía tôi ghi nhật ký về những hoạt động trong đời thủy thủ, những con người, những con tàu tôi cùng chung sống và có thể cùng chết với họ… Một phía tôi đã ghi các bài học, chức năng các đèn điện tử. Nghề vô tuyến điện ra biển sóng gió,
    sấm sét là khó nhọc vô cùng, thì các cực lưới của đèn sẽ lọc sóng mang cho ta nhận được tín hiệu rõ ràng hơn. Sau này tâm sự với nhà văn Nguyễn Quang Lập (Từ phòng không không quân chuyển về Sở văn hóa Bình Trị Thiên), Lập cho biết:Bây giờ có đèn sóng chạy, nó lọc sóng tốt hơn 8 cực lưới bên hải quân của bác dùng máy Nga Xô rất nhiều. Biết là để biết vậy về nghiệp vụ của nhau một chút cho vui. Tôi bùi ngùi lạnh buốt tận tim gan về phía cuốn nhật ký, nó là nguồn tư liệu rất quý rất thiết thực cho việc viết báo và cho cả văn học sau này của tôi. Tiếc quá! Mỗi lần nhớ lại nó là tôi muốn khóc!.
           Rời tàu, tôi không tìm ra nó. Tôi chẳng biết hỏi ai. Tôi cũng không báo cáo chỉ huy tàu. Nhưng, tôi tự nhận: Lỗi tại tôi. Tôi tự động câu đèn trong máy ra để đọc sách khuya. Tôi cũng biết tiết kiệm điện của tàu chứ. Khi làm việc là bật đèn thật sáng. Còn đọc sách chỉ dùng bóng đèn quả nhót và độ sáng (oát) thấp nhất, kéo tận
    giường nằm đọc, khi đi ngủ thì kéo dây ra. Dù biết tiết kiệm điện cho tàu, dù sự thiệt hại chỉ bé xíu thì vẫn là có lỗi. Còn việc nghi là nghi anh em ngành cơ điện, công việc của họ là nạp ắc quy hàng ngày. Họ cũng không báo cáo lãnh đạo về sự vi phạm của tôi, vì sự tiêu hao chả là bao. Nhưng tôi nghe có người trong ngành ấy
    nói bâng quơ về tôi cũng chỉ để tôi nghe: Tay “tịt tà tà tịt” làm sụt thế điện chớ còn ai? Nó viết báo rồi lại viết thơ, sao nó viết được nhiều thế? Hèn chi, những lần tôi mua trà, bánh về khao anh em tàu, có một hai anh cơ điện không lên dự, họ giả vờ nói là đang bận tay… Tôi đã biết lỗi... ngậm ngùi... nhưng mãi đến bây giờ mới có dịp nói ra trên mặt báo cho thiên hạ cùng hay…
                Tôi về Hội văn nghệ Quảng Bình chừng được nửa năm, cơ quan Hội cho đi học lớp bồi dưỡng viết văn (Khóa 7) thuộc Hội nhà văn Việt Nam sắp mở tại Hà Nội. Mới học được mấy tháng, bất ngờ Huế giải phóng. Học viên Huế có hai người nói
    12
  • xin về thăm Huế vài ngày rồi ra tiếp tục học. Nhưng họ đã bỏ hẵn. Rồi Sài gòn giải phóng (30/04/1975), số học viên Sài gòn có 4 người, họ cũng nói xin nhà trường về thăm Sài Gòn như thế… nhưng họ đã không trở lại trường... . Khóa học học viên có vợi bớt nhưng vẫn học bình thường... Nhiều ngày chủ nhật, tôi thường bỏ cơm trường, đi bộ về nhà anh Phùng Quán chơi. Tôi đã đọc “ Vượt Côn Đảo” của anh. Có bản báo nói rằng: chuyện là do các tù Côn Đảo kể, Nhà văn Phùng Quán nghe được ở Thanh Hóa rồi viết. Còn anh chưa tới Côn Đảo bao giờ… Chưa tới Côn Đảo mà vẫn viết được rứa là người tài rồi? Gặp anh, anh tươi cười. Tay vuốt vuốt chòm râu cằm rồi kéo tôi lên nhà. “Nhà anh là cái chòi ngắm sóng cho các thi sĩ đến đây tha hồ ngắm”! Vừa nói, anh vừa ôm hủ rượu ra đặt giữa sàn nhà lát gỗ. Thủng thẳng chưa vội rót, anh giải thích cặn kẻ về hủ rượu: Ngoài ni có loại mơ Hương Tích thơm lắm quý lắm. Đến mùa mơ chín, người ta chọn mơ rồi cho vào hủ ngâm với đường trắng là thành sirô mơ. Khi đã chắt hết nước, anh cho rượu trắng 40 độ vào là thành rượu mơ… Này, thi sĩ Quảng Bình ra học trường Nguyễn Văn Du hả? Anh ngúc ngúc đầu mủm mỉmcười… nói tiếp: Anh chị em Quảng Bình ra học, anh cũng tiếp họ trên cái chòi này mà thành danh đó… Anh đưa chén rượu vào tay tôi và đọc “ Rượu như lửa ta uống tràn thay nước”, thi sĩ Quảng Bình, uống đi! Cha chả, anh lại gọi tôi là thi sĩ? Tôi là đứa hay khóc thì có. Chứ đã viết được cái gì đâu. Anh gọi thế làm tôi ngượng quá! Rồi anh bùi ngùi nói về quê anh ở Huế. Giờ Huế giải phóng rồi nhưng anh đâu có “tiêu chuẩn” mà về! Anh đã ra ga Hàng Cỏ, ra các bến xe, nhìn người nhìn xe nhộn nhạo vào Nam… và vuốt nước mắt trở về! Nghe hai chữ “tiêu chuẩn” tôi đã ứa nước mắt với anh! Anh say sưa kể về vùng quê Thủy Dương của anh đầy súctích… Anh kể  về những tháng ngày anh đi trồng sắn trồng khoai gian nan trên Thái Nguyên như những người tù giam lỏng như thế nào bởi dính vụ Nhân văn-Giai phẩm… Anh càng kể càng cuốn hút tôi. Tôi quý và yêu anh từ đó…
    Tôi đi thực tập về nông nghiệp ở huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương đang lên, sau “Bài ca 5 tấn” tỉnh Thái Bình. Trở lại trường, tôi viết thu hoạch và “nộp quyển”. Tôi trong tốp học viên học giỏi được nhận giấy khen của nhà trường khi ra trường. Trở về cơ quan Hội văn nghệ Quảng Bình, đã nghe kế hoạch nhập tỉnh Bình Trị
    Thiên, và đầu năm 1977 chúng tôi là hội viên Hội văn nghệ Bình Trị Thiên. Hội ra tập san “ Văn nghệ Bình Trị Thiên” ( Ba tháng một số).Tôi nghe hợp tác xã Thủy Dương làm ăn khá, được thủ tướng Phạm Văn Đồng và Tổng bí thư Lê Duẩn về thăm. Quê hương anh Phùng Quán đây rồi! Tôi xin đến đó lấy tư liệu. Đúng là họ
    13
  • làm ăn khá thật. Cả làng Thanh Thủy Thượng đang đấu úng: Vùng ruộng Ô Bàu Choàng rộng mênh mông mấy chục ha nhất đẳng điền đang ngập nước sâu nhất, nếu không bơm, tát khô nước, thì làm sao kịp cắm cây mạ xuống?... Và, tôi đã viết bút ký “Trên quê hương anh Phùng Quán”. Chị Trịnh Hoàng Anh ( Chị con bác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn) đánh máy bản thảo này. Tôi trình bản thảo cho Ban biên tập. Hai anh trong Ban biên tập là HPNT và NKP nhận xét là bài viết rất khá nhưng nên bỏ chữ Quán, bởi ai cũng yêu quý anh Quán, nhưng ý cấp trên chưa cho tuyên truyền tên anh. Và bản thảo sửa lại đâù đề để được in: “Ghi chép trên quê
    hương anh Phùng”. Tập san ra mắt, tôi xin 2 số. Đáp chuyến tàu Huế- Hà Nội, đến nhà anh chạng vạng tối, tôi đứng trước cổng số 3 phố Hàng Cân, tôi gọi: Anh Quán ơi, em là Vĩnh Nguyên ở Huế ra thăm anh chị đây. Anh Quán ra mở cửa đưa tôi vào nhà. Đặt chai rượu Chuồn tặng anh lên bàn rồi rút hai tập san Văn nghệ BTT
    trong túi xách ra đưa vào tay anh, tôi run run nói: Anh Quán ơi, họ bỏ tên anh mất rồi, chỉ còn anh Phùng thôi! Anh vỗ tay vào vai tôi an ủi: Đúng rồi em ơi. Cứ anh Phùng là tốt rồi. Cứ rứa đã. Em làm căng cũng không được. Và người ta cũng không in cho. Rồi dần dần người ta sẽ hiểu…Chị Bội Trâm nói (qua bên xóm chút)
    đã đưa về một dĩa kiệu muối trộn với thịt heo ba chỉ tú ụ. Và đêm ấy, tôi thức trắng nghe chuyện anh kể và nghe anh đọc thơ… Đến tháng sáu năm 1983 thành lập tạp chí Sông Hương, tôi được Hội nhà báo
    Việt Nam cấp thẻ nhà báo để đi viết báo. Biết Quảng Bình có hai thuyền chuyên đánh cá mập, lấy vây và sụn cá này xuất khẩu, tôi ra đó đi theo thuyền của thuyền phó Lược ra khơi xa và tận mắt nhìn cách đánh loài cá này. Về Huế viết bài bút ký “Theo thuyền đánh cá mập”, tôi gửi bài cho Tuần báo văn nghệ và Đài tiếng nói Việt Nam. Hạnh phúc đã đến với tôi: Hai cơ quan báo và đài trên đang đồng tổ chức cuộc thi bút ký, và bài của tôi đã trúng giải thưởng cao. Bút ký này cũng in tạp chí Sông Hương số 4. Hết xuống biển, tôi lại lên rừng. Miền Trung đang cao trào tìm trầm hương. Tôi ra Lệ Thủy (lúc này nhập huyện thành Lệ Ninh), tôi theo một bận trầm lên tít Ngân Thủy- Ngân Sơn giáp biên giới rừng Lào. Tôi chính kiến bận trầm hạ một cây trầm
    gió hai vòng tay người ôm. Tôi đau đớn biết chừng nào khi cây trầm đổ xuống đã đè bẹp hàng trăm cây nhỏ hơn làm trống trải cả một khoảng trời… Rồi cả bận trầm giáng rìu vào các chảng ba từ thân cây, và các chảng ba của các cành, nhánh. Họ lại chém ngã những cây nhỏ chung quanh bởi vướng víu tay rìu của họ… Kết quả,
    họ cũng xoi được vài vốc tay trầm loại ba màu vàng úa, chứ đâu có loại một nụi màu đen tuyền… Nhưng khốn nạn thay, muốn lên được chức “Vua trầm” đâu phải qua tận rừng Lào để tìm trầm, ông vua ấy phải biết cảnh giác và đánh trả các đối
    14
  • thủ khác để bảo toàn lực lượng và bận trầm là tài sản quý giá, phải vượt qua bao khó khăn vất vã đã giáng rìu vào thân cây, cuốc thuổng đào bật gốc rễ, méo mặt khi người và vàng đen cùng ngã nhào xuống hố… Ông Vua trầm mà tôi viết trongbài là ông Vua trầm mặt xanh nanh vàng thua cuộc trong một trận đánh với một
    bận trầm mạnh hơn. Quân của ông đã vứt hết cả tạ kỳ nam đen như mực tàu cho chúng để cướp lấy ông Vua của mình, băng rừng tháo chạy cả ngày đêm, khi vượt khỏi rừng già thì dừng lại ,đánh dấu địa hình rồi đào huyệt an táng ông Vua Trầm của họ.
            Bút ký “Vua trầm” được đăng Tuần báo Văn nghệ, được đọc trên Đài tiếng nói
    Việt Nam. Và, tập bút ký VUA TRẦM của tôi đoạt giải ba “Văn học Cố Đô” lần thứ nhất ( 5 năm một lần xét giải).
    ... Năm 2014 có cuộc thi phóng sự, bút ký về giao thông vận tải do Tuần báo văn nghệ và Bộ giao thông vận tải đồng tổ chức. Bút ký “Bến phà Trúc Ly” của tôi đoạt giải khuyến khích. Các cuộc thi báo chí hàng năm của Hội nhà báo tỉnh Thừa Thiên- Huế, tôi đoạt được ba lần giải:
    Lần 1, Bút ký “Nhịp sóng xanh” đoạt giải nhất.
    Lần 2, Bút ký “Trên quê hương anh hùng Hồ Vai” đoạt giải khuyến khích.
    Lần 3, Bút ký “Một dấu chấm trên phá Tam Giang” đoạt giải khuyến khích.
    Năm 2004 tôi về nghỉ chế độ hưu. Tôi vào sinh hoạt ở câu lạc bộ (CLB) nhà báo hưu trí tỉnh Thừa Thiên- Huế.
    Năm 2007, Đại hội CLB nhiệm kỳ ( 2,5 năm), tôi được Đại hội bầu Phó trưởng Ban chủ nhiệm. Đến Đại hội tiếp theo, tôi được Đại hội bầu Chủ nhiệm CLB cho đến ngày 30/01/2013 thì Đại hội mới. Đứng giữa Đại hội, tôi xin nghỉ. Và Chủ nhiệm mới trúng cử là nhà báo Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tôi đã bàn giao đầy đủ tài liệu cho Chủ
    nhiệm mới. Phần kinh tế, tôi bàn giao cho Phó chủ nhiệm Nguyễn Lê Huy. Trong các nhiệm kỳ tôi làm phó Chủ nhiệm đến Chủ nhiệm CLB anh chị em vui vẻ, sinh hoạt đều đặn, tổ chức các cuộc vui chơi, đi du ngoạn tới khu thương mại Lao Bảo- Quảng Trị (6 lần) đi tắm biển (8 lần), tham quan du lịch Đà Nẵng (1 lần). Đi thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tiếp đi thăm Mũi Ngọc và cửa khẩu Móng Cái (1 lần). Anh chị em đi và về sức khỏe tốt và an toàn tuyệt đối. Tôi viết
    15
  • bài về chuyến đi dài ngày ấy, đăng lên báo Thừa Thiên- Huế. Anh chị em CLB phấn khởi, Chủ nhiệm thêm chút uy tín. Đặc biệt, dự án kinh tế Tây Bắc Quán Hàu thuộc tỉnh Quảng Bình. Tôi phát hiện dự án này phi khoa học. Họ muốn ủi mồ mả mà nhân dân làng Vĩnh Tuy đã quy hoạch đến 3 lần từ sau ngày hòa bình lập lại (1954) nên khu nghĩa địa này đã đi vào nề nếp, khang trang. Nay họ muốn san ủi đưa mồ mả ông cha của dân làng vào lòi nước rịn quá gần xóm dân có thể gây ô nhiễm môi trường rất nặng. Bị năm
    dòng họ của làng viết đơn lên xã, huyện phản đối. Một ví dụ cụ thể: Họ cho đắp một con đường lớn, rộng xuyên qua đầu ghi phía Nam của ga Lệ Kỳ để nối với đường Hồ Chí Minh đông. Khi con đường đắp tới gần ga thì, cán bộ, công nhân ga Lệ Kỳ không cho làm. Ga Lệ Kỳ thành ga “chuyển tải” sẽ mở rộng khi ga chính thành phố Đồng Hới mở rộng. Thế thì, tại sao dự án không thông qua Tổng cục đường sắt Việt Nam? Dự án không thông quadân làng, có bản vẽ nhưng dấu không cho dân biết...để cứ làm lấy được… vân vân và vân vân... Và tôi đã viết bài “Một dự án kinh tế ăn mồ mả”, Tuần báo Văn nghệ trẻ in ba kỳ liền. Mỗi kỳ báo ra, tôi phô tô đến trăm bản. Từ Huế, tôi mang ra quê, tôi phát cho bà con từ xóm dưới đến làng trên. Phát cho cả các làng lân cận nữa; được dân làng Vĩnh Tuy hoan nghênh và dự án đã bị bãi bỏ. Những người trực tiếp làm dự án đã bỏ của chạy lấy người. Bởi họ đã chiếm đất của dân để làm đường, họ đang nợ tiền dân nhưng họ không trả, và đã để lại hậu quả tệ hại là hàng trăm ha đất đồi, đất màu của dân nhưng dân phải chịu bó tay bởi những trục đường đắp quá cao, một trận mưa là ngập không còn lối thoát như ngày xưa... Bây giờ, lần nào tôi từ Huế về làng, gặp ai đều nhận được những nụ cười thâm tình và tay bắt mặt mừng. Họ chào tôi không bằng tên cúng cơm mà bằng tên danhdự và nghiệp vụ của những người làm báo: chào Nhà báo! CLB Nhà báo hưu trí tỉnh Thừa Thiên –Huế lúc tôi làm Chủ nhiệm được nhà báo Thanh Thuận viết bài “Càng già bút càng sắc” in lên báo Thừa Thiên Huế còn nhấn mạnh, ngợi khen từng bút danh cụ thể các cây bút cự phách trong CLB Nhàbáo hưu trí của chúng tôi!
                                                                            Huế 24/05/2019
                                                                                Vĩnh Nguyên
    16

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập15
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm14
  • Hôm nay4,829
  • Tháng hiện tại42,498
  • Tổng lượt truy cập4,263,391
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây