Một lần đến hội Mông

Thứ ba - 08/10/2019 23:29
Trước khi đến với “Ngày Hội văn hoá dân tộc Mông” năm 2006, tôi tới Viện Dân gian thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn, nơi có nhiều đồng sự quen biết đã làm nên viện trưởng, viện phó và chuyên viên nghiên cứu đầu ngành để đặt bài viết về Văn hoá dân tộc Mông.
Một lần đến hội Mông
Một lần đến hội Mông

Bút ký của Đỗ Hoàng

Trước khi đến với “Ngày Hội văn hoá dân tộc Mông” năm 2006, tôi tới Viện Dân gian thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn, nơi có nhiều đồng sự quen biết đã làm nên viện trưởng, viện phó và chuyên viên nghiên cứu đầu ngành để đặt bài viết về Văn hoá dân tộc Mông.
Nhưng rất tiếc không có một người nào chuyên nghiên cứu về văn hoá Mông. Anh Nguyễn Xuân Kính, Viện trưởng, anh Trọng Viện phógiới thiệu cho tôi một vài người ở viện Tôn giáo, viện Dân tộc học, nhưng người thì bận công việc, người thì không phải chuyên ngành nên họ đều từ chối. Tôi trộm nghĩ: “Chỉ một trường ca Tiếng hát làm dâu đủ làm mấy luận án tiến sỹ khoa học, huống gì dân tộc Mông là một tộc người có số người đông nhất trong cộng đồng 54 dân tộc ở nước ta và có trên 13 triệu người ở rải rác trong khu vực Đông Nam Á.
Thế là tôi phải cất công đi Mộc Châu. Đây cũng là một chút cưỡi ngựa xem hoa mà thôi!
Thị trấn Mộc Châu nằm giữa một thung lũng chung quanh núi non bao bọc cô lẻ, xa mờ nhưng rất ảo huyền đẹp đẽ thơ mộng. Nhà công sở, nhà dân xây dựng cao tấng san sát chạy dài theo các đường phố hiện đại không kém đô thị và các thành phố lớn. Buổi sáng và buổi chiều trong ngày tạnh ráo, sương trắng duềnh lên trên mái núi cao trông như những bức tranh thuỷ mạc đầy ẩn tích xửa xưa. Ở độ cao từ 500 đến 1 000 nghìn mét nên khí hậu Mộc Châu dịu mát quanh năm. Đi trong lòng thị trấn giữa những ngày thu ngỡ như dạo bước các miền đất ôn đới châu Âu, châu Mỹ.
Ngắm nhìn Mộc Châu, tôi tôi thả hồn bâng khuâng cùng với câu thơ tài hoa của Quang Dũng làm mê đắm lớp thanh niên, chiến sỹ một thời đã qua và bây giờ.:
“Người đi Châu Mộc chiều hôm ấy/ Có nhớ bồn lau nẻo bến bờ/ Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Theo dòng nước chảy hoa đung đưa!”
Được Nhà nước hỗ trợ, Bộ Văn hoá Thông tin, Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La mở ngày Hội Văn hoá Mông hết sức hoành tráng và long trọng. Các tỉnh thành và ba nước bạn Lào, Thái Lan, Trung Quốc có người Mông sinh sống đều được mời đến dự. Mười một tỉnh thành được cửcác đội văn nghệ cớ sở từ xã thôn về biểu diễn. Còn đồng bào Mông không ai bảo ai từ khắp cả nước, họ tự túc ằng mọi phương tiện đi lại tìm về lễ hội.Một không khí náo nức rộn ràng bao trùm trong những ngày Quốc khánh!
Anh bạn lái xe chuyên chạy chuyến Hà Nội - Mộc Châu nói với khách hàng rằng: “Từ khi anh lớn lên đã có ngày Hội này. Hội mở ra từ xa xưa lắm, thưở nào, thưở nào rồi”. Đúng vậy! Anh lái xe tuổi khoảng ba mươi, tức là sinh sau thập kỷ 70 thế kỷ trước, còn lễ hội Mông diễn ra ở thị trấn Mộc Châu đã có từ khi nước nhà giành độc lập năm 1945. Có lẽ lúc ấy bố mẹ anh cũng chưa sinh! Còn bác Lò A Páo đứng tuổi hơn là thợ rèn giỏi nhất của người Mông ở xã Chiềng Tương, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La về lễ hội biểu diễn nghệ thuật rèn dao, rựa làm súng kíp cho tôi biết: “ Lễ hội mừng nước độc lập. Nước độc lập đã cho người Mông có bát cơm ăn, cái áo mặc, người Mông không còn lang thang khốn cùng như con thú trên rừng nữa. Người Mông đêm ngày mong muốn được đến với lễ hội này cán bộ ạ!”
Một quan chức nói ra, tôi có thể nghĩ đó là một lời sáo rỗng, vì họ đã ăn uống no đủ, béo phì, được hưởng nhiều lợi lộc, nhà cao cửa rộng. Nhưng một người dân bần hàn nghèo khổ chưa quá năm mươi tuổi mà già như bảy mươi vì da dẻ đen nhẻm, nhăn nheo bởi khói bụi than nói lên những điềuthật lòng cảm kích như thế làm tôi xúc dộng. Từ khi nước nhà độc lập rất nhiều miền quê có nhiều lễ hội được mở ra. Như Lệ Thuỷ, Quảng Bình quê tôi, cứ đến dịp Quốc khánh mồng hai tháng chín có hội đua thuyền lan rộng ra cả xứ miền Trung. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi còn khoẻ nếu không bận việc công, ông thường về quê đi đò trên sông Kiến Giang để xem trai thanh gái lịch quê mình đua thuyền. Đó là ngày mẹ gặp con đi xa trở về, người yêu gặp nhau bao năm ly biệt. Nghĩa cả và tình yêu nên thành lễ hội.
Sáng ngày 29 tháng 8, dọc đường Hoà Bình lên Sơn La đã nhộn nhịp người ngựa, xe máy nươn nượp về Mộc Châu. Rất dễ nhận ra những người Mông, phụ nữ xúng xính váy đỏ, trắng, thêu màu sặc sỡ, nam giới thì đầu quấn khăn, cổ đeo vòng, vai vác khèn nét mặt tự tin, hồ hởi.
Từng dôi, từng nhóm, người đi xe máy, người cưỡi ngựa, có tốp bộ hành. Tất cả náo nức đến với ngày lễ hội.
Thưở bé, tôi chỉ biết người Mông qua các bài học trong sách giáo khoa cấp tiểu học.. Bài tập đọc Ô Đan xuống chợ có minh hoạ một cô gài Mông vấn tóc cao, hai tay áo sọc đen, sọc trăng mà tôi còn nhớ, còn bâng khuâng đến bây giờ. Quả là mình biết rất ít về người Mông.
Đây là lần thứ hai tôi được thâm nhập vào sinh hoạt của cộng đồng người Mông. Mấy năm trước khi lên công tác ở Hoà Bình, tôi được anh Trịnh Lệnh, Phó giám đốc công an tỉnh dẫn đi tham quan bản Pa Kia, Hang Pò. Đó là hai địa phương có thành tích xuất sắc phá bỏ cây thuốc phiện, thay đổi cơ cấu cây trông mới như đào mận, su su…Tôi đã được cùng ăn, cùng ở với bà con dân bản, được uống rượu chéo tay với các thiếu nữ xinh xắn người Mông. Người mông rất giống người Vân Kiều quê tôi, mạnh mẽ, can trường, thích ở những nơi suối sâu, núi cao. Họ tự phát nương, làm rẫy, trỉa lúa, trồng sắn nuôi sống mình và hoà cùng các dân tộc trong cõi Việt để trường tồn.
Như mọi tộc người khác, người Mông cũng có một lịch sử lâu đời. Tổ tiên của họ là tộc Xi Vưu xứ Tam Miêu phía Bắc Trung Quốc. Trong cuộc thiên biến, chiến chinh, người Mông lần về phương Nam. Giờ họ sinh sống khắp các quốc gia: Trung Quốc – 9,6 triệu người, Việt Nám – 575 000 người, Mi an ma 120 000 người, Thái Lan – 160 000 người, Lào – 65 000 người. Pháp – 10 000 người, Mỹ. – 275 000 người…Ở Trung Quốc, họ là một trong 56 tộc người được công nhận. Họ có nhiều khu, châu, huyện tự trị. Ở Việt Nam họ là một trong 54 tộc người được Nhà nước công nhận. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước có người Mông sinh sốg nhiều nhất. Trai Mông giỏi làm nương rẫy, rèn đúc dụng cụ, súng đạn, giáo gươm chống thú dữ, chống kẻ thù; gái Mông chịu khó làm lụng, giỏi thêu thùa, dệt vải, nội trợ, giỏi múa hát.
Nhưng vì sao trước đây người Mông đời đời kiếp kiếp sống cùng cực khổ đâu? Ngoài sự áp bức bóc lột của hào trưởng, đế quốc, phong kiến là bỡi người Mông sống kiếp lang thang, du canh, du cư, nay đây mai đó. Cuộc đời lang bạt ấy đã đẩy người Mông vào thế tận cùng cơ cực. Trong bài hát Lễ tạ ơn cha mẹ, người Mông tự bày giải: “ Tổ tiên người Mông tìm đất, cứ luồn rừng mà đi, đi dọc theo những ngọn núi cao có tóc trắng, râu trắng mà lần, Một lúc cái bụng đói không có gì mà ăn, cái chân không muốn bước, cái đầu không muốn nhìn ông mặt trời, phải đổi đứa con để lấy ba cái bánh để cứu cả nhà. Cuộc đời du canh, du cư mất cả con mà bụng vẫn đói, cái chân không lên được rẫy, cái tay không tra được hạt, cái mắt không nhận ra con thú nên để lại câu nói rằng: “ Người giàu cứ đi lang thang mãi cũng thành người nghèo, người nghèo cứ đi lang thang mãi cũng thành con ma rừng, ma núi. Người Mông ta phải an cư thôi. An cư mới giữ cho hoa đào mùa xuân nở hoa, mới giữ được con lợn, con gà, con bò, hạt giống. Cha mẹ đẻ ra con trai, con gái, dạy các con tìm đất tốt, tra hạt úa nở nhiều bông, tra hạt ngô trổ nhiều bắp, cho con ngựa thồ chồn chân, cho nhà kho đầy cái ăn, hạt giống, dạy các con biết rèn dao, đan bếm, biết rút sợi dệt váy, dệt khăn nên hoa, nên áo để đến mùa hoa đào nở đi ném còn, thổi khèn vào hội cho con trai, con gái thành đôi…”
Từ ngàn xưa và bây giờ, thanh niên Mông rắn rỏi, mạnh khoẻ, nếu không nghiện ngập họ làm mùa nuôi cả gia đình nhiều người. Ai cũng giỏi lao động thổi kèn hay và múa hát giỏi. Tình yêu trai gái của họ cũng mãnh liệt không khác gì người Thái. Không lấy được em ta làm giặc giữa mường/ Không lấy được em ta làm loạn giữa phủ (Xống chụ xôn xao - Tiễn dặn người yêu).. Họ rất hiếu khách, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo khi đã hiểu tấm lòng nhau.
Thiếu nữ Mông rất chịu thương, chịu khó, có người tự mình lao động nuôi cả một gia đình lớn. Họ rất mạnh dạn cởimở khi mời rượu khách quý.. Và uống đến chén cuói cùng với khách. Một cách ẩm tửu hết mình cũng giống như các thiếu nữ Choang Trung Quốc trong tiệc cưới. Thiếu nữ Mông đa phần còn mang nét thời tiền sử, nhưng có nhiều cô rất xinh đẹp. Khuôn mặt trái xoan, mũi cao, da trắng hồng, đôi mắt đen thăm thẳm, ánh nhìn mênh mang hun hút nét núi rứng cùng với váy áo thêu thùa những nét hoa văn khác lạ tôn vinh vẽ dẹp độc sắc của sơn nữ!
Thiếu nữ Mông cũng có tình yêu vô bờ bến với bạn tình. Tình yêu ấy đã để lại trong kho tang văn hoá người Mông biết bao trường ca, truyện kể mà hôm nay con cháu đọc vẫn còn xúc động đến tâm can. Trường ca Tiếng hát làm dâu của người Mông là một trong những trường ca hay nhất trong văn học Việt Nam. Nó cùng với trường ca Xống chụ xôn xao của người Thái, Chăm Bri – Chăm Bria của người Chăm, Đam San của Tây Nguyên… là những viên ngọc sáng giá. Những ngày mưa dầm ngồi trong nhà nghe các mế già hát Tiếng hát làm dâu bằng tiếng Mông càng cảm thương thân phận đau thương cùng quẩn tội tình của người phụ nữ Mông ngày xưa.
Ngày xưa trai gái yêu nhau không lấy dược nhau, ngưồicn gái phải về làm dâu nhà giàu có, quyền lực. Tình yêu bị chialy làm cho đôi trái gái đâu đớn tận cùng: Chúng ta chới dùa đi lại từ hồi còn nhỏ/ Tại tờ giấy cuốn sổ bạc đặt sai/ Cúng ta kết bạn chơi vui từ thở còn thơ. Bỡi tờ iấy trong cuốn sổ bạc nên hung ta không lấy được nhau. Con gấu ăn trăng, ăn cái mạch máu ở gan mặt trăng/ Anh không lấy được em, em không lấy được anh. Tại sao cha mẹ chúng ta không giết chúng ta từ lúc đầu thai?
Về làm dâu nhà chồng, tuy rằng của nả nhà chồng chất cao như núi, nhưng người con dâu khách gì con lợn, con chó: Làm dâu nhà người, xay cối đã phồng tay, người ta nói mày không có lòng/ Địu nước trầy lưng, người ta bảo: - Mà không có long làm/ Địu nước dặt lên bàn nghỉ/ Mẹ cha người mắng: - Mày làmcho cái thùng thủng rồi/ Địu nước dặt vàobàn nhà. Mẹ cha người la: - Mày làm nước trong thùng sóng sánh.
Cuối cùng người con gái chỉ có lấy cái chết mới giải thoát nỗi khổ cực khốn cùng của mình và minh chứng cho tình yêu son sắt của mình với người tình: Không ăn lá ngón, sống càng nát ruột/ Hái lấy lá ngón liền ăn/ Cùng ăn lá ngón chết tự diệt/ Hái nắm lá ngón liều mình/ Cùng ăn lá ngón chết tự huỷ/ Chúng ta biết chết, chết cùng một phương/ Chúng ta biết chết, chết cùng một rừng/ Mẹ cha chúng ta biết chôn, chôn cùng một mộ!
Bởi vậy cho đến hôm nay, người phụ nữ Mông không còn phải chịu cảnh làm dâu khổ cực như xưa nữa nhưng trong dáng vẻ của họ, trong ánh mắt sâu thẳm vẫn còn phảng phất nỗi sầu muộn từ muôn ngàn năm để lại.
Đoàn văn nghệ của tỉnh Điện Biên và tỉnh Thanh Hoá đến sớm nhất. Họ khởi hành tại tỉnh nhà từ sáng sớm ngày 28 – 8 đến sáng ngày 29 – 8 đã có mặt tại thị trấn Mộc Châu. Họ vừa là đại biểu vừa là hạt nhân văn nghệ nên được Ban tổ chức lễ hội lo chu tất nơi ăn chốn ở. Nhà nghỉ Bình Nguyên dành cả nhần rộng lớn cho hai đoàn lưu trú. Đây là điều đặc biệt ưu tiên vì trong những ngày lễ hội có gần 2 vạn khách, thị trấn Mộc Châu không thể nào đáp ứng nổi nơi ăn chốn ở cho tất cả mọi người.
Tôi vừa xuống xe đã may mắn gặp các hạt nhân văn nghệ dân gian của những miền xa nhất đất nước này.
Đoàn văn nghệ dân gian tỉnh Điện Biên do anh Phạm Uy làm trưởng đoàn và chị Nguyễn Thị Thảo làm phó đoàn đã sắp xếp cho các diễn viên và nghệ nhân phòng ốc ăn nghỉ. Anh Phạm Uy giới thiệu cho tôi biết đoàn gồm có 29 người, có 20 diễn viên, 9 người phục vụ. Diễn viên văn nghệ nồng cốt của hai xã Toả Tình và Pú Nhung thuộc huyện Tuần Giáo. Đoàn mang về lễ hội các chương trình biểu diễn dân ca, dân vũ khá phong phú theo yêu cầu của Ban Tổ chức. Dân ca có hai làn điệu dân ca Mông: Tìm bạn, Lấy nước. Dân vũ có: Mùa xuân về bản, sáng tác mới: Người Mông ơn Đảng, ngợi ca Vừ A Dính. Anh hùng Vừ A Dính cũng là người ở xã Pú Nhung. Ngoài ra còn có các tiết mục khèn sáo, nhị… Tham dự trò chơi có: pa pao (giống quả bong long), đấu gạy, trao tình. Giới thiệu sản phẩm: dụng cụ đan lát, ong đất, củ ngọc đá (giống quả me xanh). Chị Thảo cho biết thêm trong 29 diễn viên dân gian của Đoàn thì ban am diễn viên :Vừ Nhè Thào (hát), Vừ A Sình (múa), Mùa A Trùng (lễ hội); ba nữ diễn viên: Mùa Thị Mai (múa), Sùng Thị Tính ( thời trang), Vừ Thị Đớ (hát) là xuất sắc nhất. Mùa Thị Mai rất xinh ở bản Toả Tình. Ngày thường Mai mặc bộ áo quần đen, kiểu may hợp thời trang nên càng tôn vinh dáng vẻ trời cho của cô. Mai cao ráo, mảnh mai, khuôn mặt thanh tú, đôi mày dài vút đẹp như người mẫu. Mai nói rằng: “Lần đầu mới đi ra khỏi bản biểu diễn. Trước đây cô chỉ múa hát cho dân bản xem thôi. Bây giờ được đi dự hội, mừng lắm không biết để nỗi vui này đâu cho hết!
Tôi hói vui:
 
  • Em có thích giải thưởng không?
Mai cười tươi:
- Thích lắm, nhưng về đây nhiều người giỏi hơn em nên em tham gia góp vui là chính chứ không ăn thua giải thưởng.
Tôi động viên:
- Em sẽ được giải thưởng cao!
Mai cười xinh, đôi hàm răng trắng ngà đều tăm tắp như hàng hạt ngô nếp trên nương làm cho cỏ cây say mèm!
Đoàn Thanh Hoá cũng khá đông đến 30 người. Trong đó có 21 diễn viên, 9 người phục vụ. Diễn viên văn nghệ nồng cốt là xã Pú Nhì, huyện Mường Lát. Các tiết mục đưa về lễ hội cũng phong phú như đoàn Điện Biên, gồm: dân ca, dân vũ, trò chơi, thời trang, giới thiệu sản phẩm đặc sắc của dân tộc. Đoàn Thanh Hoá có thêm tiét mục nhảy khèn tập thể ba người và bài múa dân tộc mới sáng tác tên là Pha Lát mây múa Lát Mây). Diễn viên xuất sắc từng biểu diễn ở huyện, tỉnh có Sùng Thị Se (đơn ca), Lầu Mai Zơ (thổi kèn lá), kèn bè, sáo trúc, sáo hơi…). Lầu Minh Pó đa năng – hát, kể chuyện, cúng ma, lễ tạ trời tạ đất…) Lầu Minh Pó cũng như Lầu Mai Zơ là hai thanh niên Mông rất đẹp trai. Da dẻ trắng trẻo. Tuy vóc dáng trung bình nhưng trông rất khoẻ mạnh. Ánh măt hai chàng nhìn nhân hậu, cử chỉ thân thiện. Miệng lúc nào cũng cười tươi, cởi mở. Tôi trò chuyện thâm tình với Lầu Mai Zơ và Lầu Minh Pó nên hỏi điều gì, việc gì ở đâu hai anh đều nhiệt tình nói cho biết mọi điều.
Lầu Mai Zơ giới thiệu cho tôi biết sắc phục người Mông. Quần áo con trai: - Vải lanh xanh da trời, ống tay thêu hoa có hoa văn trang trí. Quần vải lanh được may theo kiểu ống què của người phụ nữ Kinh ngày xưa. Thắt lưng có tua đãi và hoa văn thêu rất công phu. Y phục nữ: áo vải lanh xanh lá cây, hai cánh tay áo có sọc xanh, sọc đen. Trước và sau áo có hai rê nhỏ thả dọc vai. Quần nữ giống quần nam. Váy nữ được dệt và may cầu kỳ hơn và rất nhiều hoa văn thêu thùa kỹ lưỡng. Người Mông đỏ, Mông đen, Mông trắng… khác nhau ở giọng nói và trang phục. Trang phục thì người Mông đỏ dùng nhiều sắc đỏ, người Mông đen dùng nhiều sắc đen, người Mông trắng dùng nhiều sắc trắng kể cả áo và quần. Lầu Minh Pó hát cho tôi nghe về các làn điệu dân ca và trường ca. Anh băn khoăn lo lắng tâm sự với tôi: “Lớp trẻ bây giờ rất ít người biết hát Tiếng hát làm dâu. Ngay cả anh cũng biết không trọn vẹn. Đó là điều rất đáng tiếc trong việc khôi phục và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Chúng ta phải thiết thực đặt vấn đề phục hồi, bồi dưỡng đạt hiệu quả hơn. Có vẫn hơn không, tôi không phải là nhà nghiên cứu văn học dân gian, càng không phải lả nhà sưu tầm vốn cổ, nhưng qua tâm sự của anh Pó, tôi đề nghị anh chép lại tiếng Mông và hát cho tôi nghe trường ca Tiếng hát làm dâu bằng tiếng Mông. Anh Pó vui vẻ nhận lời mặc dầu đi từ xã Pú Nhì, Mường Lát ra đây đang còn rất mệt.
Lời Mông: - Jông li cuk txie tuỗ mênhx côngx txin fuôu mênhx côngx. Nêf muôz nhiêx txiêk chuz uz paz. Ưf chox mu chiex cur niêu cur txie uf lênux reaf…
Dịch: Hôm nay rượu đã uống say, thịt đã no rồi. Bố mẹ ngoại đưa của cải giao cho tôi. Chúng tôi sẽ hứa dẫn con gái của ngoại về thành con dâucủa nhà trai.
Tôi không hiểu tiếng Mông, nhưng giai điệu của bài hát thật là đau buồn, cảm thương đến xót xa tận cõi lòng! Người thưởng thức cùng đồng cảm chia sẻ nỗi buồn thương da diết, thấm đẫm nước mắt của kiếp phụ nữ Mông làm dâu khốn khổ thời xưa.
Đến lễ hội được hát được múa, được tìm bạn tình mới, cũ nên người Mông khắp mọi miền đất nước kéo về. Tôi đã được gặp hơn mười đôi vợ chồng từ xã Phù Nhì huyện Mường Lát xa xôi của xứ Thanh ra trước ngày khai mạc. Có ba đôi vợ chồng nói được tiếng Kinh nên tôi mới ghi được tên họ, còn bảy đôi vợ chồng khác phải nhờ phên dịch nên không ghi được họ tên. Các đôi vợ chồng biết nói tiếng Kình: Đôi vợ chồng Sùng Lí Pó – Thào Thị Lan, đôi Lầu Văn Trư – Thào Thị Bìa, đôi Lò Văn Chứ - Sùng Thị Kia. Khi nghe tôi hỏi, anh ta tả lời: “ Năm nào vợ chồng chúng tôi cũng đi lễ hội Mông nhân dịp Quốc khánh. Trước chưa có xe máy thì đi ngựa, nay thì đi xe máy tận trong Pù Nhì, Mường Lát ra Mộc Châu. Bà con người Mông ở các tỉnh khác họ cũng đi như thế. Ngoài ra người có tiền thi đi ô tô, người không có tiền thì đi bộ. Tuy vợ chồng đi với nhau nhưng khi đến lễ hội, chồng tìm người yêu cũ của chồng, vợ tìm người yêu cũ của vợ để tâm tình. Hết lễ hội thì vợ chồng cùng nhau về nhà. Mười đôi vợ chồng xã Pú Nhì khỏi phải ngủ bờ, ngủ bụi là vì họ có gia đình quen biết ở thị trấn Mộc Châu. Gia chủ cho họ ở miễn phí trong mấy ngày diễn ra lễ hội. Bản sắc dân tộc và sức mạnh tình yêu thật là diệu klỳ. “Những mối tình xưa nay hoá thánh/ Đều biết bay lên khỏi cõi trần” (Đỗ Hoàng).
Có một câu chuyện tình hết sức cảm động về một đôi trai gái trước đây không lấy được nhau mà tôi nghe bà con Sơn La kể lại.
Sau dịp Quốc khánh trở thành ngày hội của người Mông, con gái Mông được tự do đi chơi. Có một thiếu nữ gặp lại người yêu cũ. Họ vui mừng lắm và hẹn cứ năm nào vào dịp Quốc khánh là đến lễ hội để tự tình. Cho đến một ngày người thiếu nữ năm nào bây giờ đã thành một bà già mà vẫn ngồi thâu đêm thêu cho bạn tình chiếc áo mong gặp nhau để gửi tặng. Bà ngồi suốt cả lễ hội. Nắm cơm đem theo để chờ bạn tình đến ăn cho vui vẫn còn nguyên. Chờ mãi, chờ mãi cho đến khi tan hội mà cũng chẳng thấy bạn đâu. Mãi rồi có một người cùng quê với người yêu cũ đến trao cho bà chiếc vòng kỷ niệm ngày xưa và báo tin rằng người tình đã khuất núi. Bà ôm kỷ vật ngồi khóc cho đến sáng!
Ngày hội Văn hoá Mông đã trở nên thiêng liêng là vậy!
Sau đêm khai mạc (30-8) của Ban Tổ chức, ngày mồng 1 tháng 9, người Mông và du khách đổ về như thác cuộn. Không một khách sạn, nhà nghỉ, nhà dân nào còn chỗ ngủ. Các nhà bạt của huyện che tạm cho dân trú ngụ cũng quá tải. Mọi người trăng nilon và màn chiếu ngủ dọc các lề đường, hè phố. Vất vả một chút cũng không sao, miễn là đến được ngày lễ hội để tìm người thân, để gặp bạn tình.. Các cuộc biểu diễn văn nghệ, các trò vui được liên tục, quá khuya mà vẫn chưa tàn. Đây là dịp cho người Mông thể hiện tài năng, tài trí của mình. Phiên chợ vùng cao, hội chợ thương mại, các cuộc thi bắn cung nỏ càng làm cho không khí lễ hội thêm sôi động, hấp dẫn. Ban Tổ chức lễ hội rất có sáng kiến là mở các sân khấu biểu diễn văn nghệ, các quán ẩm thực, các gian hàng giới thiệu sản phẩm liền kề nhau, nên xem văn nghệ xong là tiện thể ghé đến xem hàng mua sắm hoặc ăn bánh nếp, ché mèn, uống rượu ngô hoặc sà vào nồi thắng cố miễn phí trong ngày đầu khai mạc thưởng thức món “quốc hồn, quốc tuý”của người Mông. Tôi đang loay hoay chụp ảnh nồi thắng cố và một người đàn ông mặc áo đen có ống tay áo đỏ rực bên những người đẹp và bạn hữu thì chị Hoà thành viên của Ban Tổ chức lễ hội, nguyên Trưởng Phòng Văn hoá huyện Mộc Châu,anh Đức Nguyên, quyền Trưởng Phòng Văn hoá huyện tay bắt mừng mời tôi ngồi xuống bàn thắng cố. Chị Hoà giới thiệu với tôi, người Mông mặc sắc phục đỏ đấy là Thào A Giàng, nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Sơn La, hiện là Trưởng Ban Dân vận của tỉnh.. Tôi hơi ngạc nhiên vì người đã làm nên gần “quan đầu tỉnh” mà dân dã hoà đồng làm vậy. Thào A Giàng và Đức Nguyên đẩy đến nơi tôi ngồi một bát thắng cố. Tôi từ bé là một kẻ kén ăn những loại thực phẩm, đồ uống có mùi. Ngay như ẩm thực Trung Quốc nổi tiếng thế giới là thế mà tôi và nhà thơ Kim Chuông phải mang rượu, ớt, mì tôm, thuốc lá từ Việt Nam sang. Quả là mình nghe những thông tin về người Mông có phần sai lạc, kể cả đọc những truyện, tiểu thuyết, xem phim ảnh chính thống giới thiệu về người Mông. Các loại nông sản của họ cũng như người Kinh, các loại ẩm thực chế biến cũng không khác các dân tộc khác là mấy. Hơn 60 năm sống trong chế độ mới, họ cũng như mọi cộng đồng dân tộc khác tiến đến văn minh và hiện đại.
Thào A Giàng mời tôi:
- Ăn đi, thắng cố ngon lắm. Đến với người Mông chưa ăn thắng cố là chưa anh em với người Mông đâu!
Đức Nguyên cũng giục thêm:
- Ngon thật, người phụ nữ Mông ăn hơi nhạt nhưng thắng cố rất bổ dưỡng!
Tôi đã tìm hiểu quy trình làm thắng cố. Trừ việc cho thảo quả bí mật, còn cách đun nấu thì như người Kinh hầm xương giò. Chỉ có cái khác là trong nồi thắng cố phải có thịt ngựa. Thịt ngựa, thịt lợn ninh nhừ trong chảo gang nấu đường mía. Rau màu đun riêng cho vào sau. Các loại xương thịt hầm một ngày thì nước nó đã ngọt lừ không cần cho mì chính húp nước nó cũng ngon.. Sau mấychén rượu ngà ngà tôi đã thưởng thức món thắng cố nguyên bản của người Mông. Và thưa rằng nó rất tuyệt, không thua nước hầm phở Thìn, Lò Đúc– Hà Nội. Còn thịt ngựa thơm hơn thịt bò. Thào A Giàng rủ tôi: - Ta lang thang cho biết phiên chợ. Thế là Thào A Giàng và tôi rẽ sang chỗ múa hát và thổi kèn.
Lần đầu tiên tôi nghe chính người Mông hát bằng tiếng dân tộc và tiếng phổ thông những bản tình ca, dân ca nổi tiếng của họ và của các nhạc sỹ tài hoa khác sáng tác. Xem trực tiếp các chàng trai Mông khoẻ mạnh hào hoa nhảy và thổi khèn hơn một giờ đồng hồ. Xem các người đẹp Mông múa hát thâu đêm. Chưa bao giờ tôi nghe những bài hát Tiếng hát làm dâu, Bài hát mồ côi, Lễ tạ ơn cha mẹ, Tình ca Tây Bắc, Người Mèo ơn Đảng, Trước ngày hội bắn, Chiều Bắc Yên hay đến thế.
Như đã nói ở trên, phụ nữ Mông đa phần còn mang nét hoang dã nhưng cũng có nhiều thiếu nữ xinh đẹp đến xiêu lòng. Tại sân khấu múa hát quần chúng này thì Vi Huyền Trang (xã Chiềng Sơn), Thào Thanh Bình (xã Lóng Luông), Mùa Thị Mỳ (xã Chiềng Tương) là những bông hoa rừng tuyệt sắc. Các cô vừa trẻ trung, xinh xắn vừa hát hay múa giỏi, lao động cừ. Thật đáng cho các bậc quân vương tìm ý trung nhân! Các cô được xã trưởng và bạn tình cho phép và với uy tíncủa ông Trưởng ban Dân vận tỉnh nên cùng chúng tôi đi khắp phiên chợ vùng cao.
Phút lưu luyến chia tay thật cảm động, thật đẹp. Thào A Giàng là một cây văn nghệ có tiếng đi đầu đoàn. May mắn là những ca khúc như Chiều Bắc Yên, Tình ca Tây Bắc, Trước ngày hội bắn tôi thuộc nên cùng đoàn vừa đi vừa hát và do người đẹp Mùi Phương Thư cán bộ Phòng Văn hoá huyện Bắc Yên lĩnh xướng.
Chiều mờ dần, sương trắng bay/ đường gập ghềnh nương núi cao/ Nắng chiều vương lên trên sườn núi/ Tiếng khèn ai bâng khuâng/ Bắc Yên ơi! Tiếp theo là Tình ca tây Bắc: Rừng là rừng hoa/ Tiếng chim ca vui non ngàn/ Suối nước trong xanh in bong anh và bong em/ Bên nhau cùng sống vui êm đềm dưới nếp nhà/ Cuộc sống thanh bình/ Hạnh phúc như mùa xuân!
Người Mông qua hàng nghìn, hàng vạn năm lang thang cơ nhỡ nhưng vẫn bảo tồn được bản sắc văn hoá dân tộc mình, đó là điều quý giá vô cùng. Sống trong chế độ mới, họ được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ yêu thương, giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần. Quốc gia nào cũng thế, phải có một dân tộc mạnh làm trụ cột giúp các dân tộc khác đứng lên và đi xa. Thế giới cũng vậy, phải có các nước hùng cường giúp đỡ các nước yếu tiến lên. Người Mông cùng với 54 dân tộc sống trong cõi Việt cũng anh em dựng xây Tổ quốc đưa đất nước ngày một tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường ấm no, hạnh phúc. Một ước mơ tuy cũ nhưng luôn luôn mới!

Mộc Châu 31 – 8 – 2006
Hà Nội 2 – 9 - 2006
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập34
  • Hôm nay7,784
  • Tháng hiện tại88,173
  • Tổng lượt truy cập4,309,066
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây