Cha và con linh trận - Trần Khởi

Thứ năm - 30/05/2019 17:45
Nhà thơ Trần Khởi vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành tập truyện ký " Cha và con lính trận" năm 2018, Tập truyện ký phản ánh một cách trung thực cuộc sống hơn mười năm chiến đấu một mất, một còn của Trần Khởi ở một chiến trường vô cùng ác liệt: Bình Định, Khu 5. Nhiều truyện đời thực, việc thực, người thực hào hùng, oanh kiệt, nhiều truyện cảm động rơi nước mắt... Tác phẩm được bạn đọc nhiệt liệt đòn nhận! Xin giới thiệu truyện " Hương quế Trà Bồng" của tác giả! vannghecuocsong.com
Cha và con linh  trận - Trần Khởi
Truyện Ký                                   

 HƯƠNG QUẾ TRÀ BỒNG
             Trần Khởi
Tôi dừng lại, để mắt khá lâu trên trang mạng của một người con gái có cái nick "Hương
Quế" dễ thương! Cái tên như thoảng bay ra mùi hương thơm gợi nhớ. Cái tên làm tôi bồi hồi,
nhớ thương day dứt về một kỷ niệm ngọt ngào và cay đắng với người con gái nơi miền tây Trà
Xanh, Trà Bồng năm xưa ấy. Lòng rưng rưng, vỡ ra những dòng cảm xúc tuôn trào, kết thành
vần điệu. Tôi dè dặt comment mấy câu thơ vào trang mạng cô ấy:
 Ta nghe Hương Quế thơm lừng
Nôn nao lại nhớ Trà Bồng, Trà My
Cái đêm bom đạn dầm dề
Quế đắp mồ bạn người đi không đành
Ta về mang khoảng trời xanh
Mang theo Hương Quế ngọt lành đó em...
Tôi bần thần với câu hỏi lởn vởn trong đầu. Hương Quế trong trang mạng ấy là ai, mà
gợi nhớ da diết, đau đớn về một Hương Quế đã chết trên vai tôi? Mà sao mình gàn gàn, cả gan
làm thơ cho cô ấy vậy? Có phải mình thấy người sang bắt quàng làm họ không? Hay đấy là một
cái gì thuộc về tâm linh, không lý giải được, do ám ảnh với Hương Quế Trà Bồng năm xưa?
Không biết nữa!  Và cuối cùng cũng biết, đó chính là thượng tá, nghệ sĩ nhân dân, ngôi sao điện
ảnh Thu Quế nổi tiếng. 
Chỉ một lúc sau, tôi lại nhận được những lời hồi âm có cánh của Thu Quế qua tin nhắn
thế này: "Cảm ơn nhà thơ - người lính Trần Khởi, đã tặng Quế bài thơ hay! Vốn xuất thân từ
một người lính, nên Quế rất hiểu và rất trân trọng những bài thơ của lính. Hẳn anh đã có những
kỷ niệm đẹp với đồng đội, với ai đó nơi chiến trường Trà Bồng máu lửa năm xưa? Em rất muốn
được gặp anh một ngày gần nhất ở thủ đô Hà Nội, để nghe anh kể về câu chuyện "Hương Quế
Trà Bồng" mà anh cứ day dứt đeo đẳng mãi hoài ấy..." Cuối thư, Thu Quế còn cho tôi cả địa chỉ
và số điện thoại của cô ấy nữa.
Tôi xúc động thật sự, bởi có người đã hiểu cặn kẽ thơ mình. Đúng hơn là đã chạm đến,
và sẻ chia ẩn ức sâu kín trong cuộc đời người lính trận xưa. Có phải có chút gì tâm linh ở đây?
Hay Hương Quế xứ Trà Bồng xưa, với Thu Quế đoàn kịch quân đội này, đã nhập hồn vào
nhau? Hay trong tôi qúa sâu đậm về hình ảnh cô gái có tên Hương Quế xứa Trà Bồng, đến nỗi,
bây giờ có ai tên Quế, cũng nhầm tưởng? Tôi vốn yếu bóng vía, hay gặp đồng đội nằm lại chiến
trường trong những cơn ngủ mê, nên đồ như vậy...
Niềm tin mơ hồ và có chút linh thiêng ấy, khiến tôi xếp ba lô vọt đi ngay, dù dạo đó nắng
như thiêu như đốt, có ngày lên đến 38 - 40 độ. Ra đến Hà Nội, về nhà thằng bạn lính Thái Văn
Thành. Tôi điện thoại cho Thu Quế ngay, và hẹn cô đến nhà cậu Thành.
Tôi đón được Thu Quế ở đầu đường. Ôi! Tôi sững sờ, không thốt nên lời! Là em đấy ư,
Hương Quế Trà Bồng? Em sống lại đây sao? Vẫn dáng người cao ráo, thân hình cân đối, da dẻ
trắng trẻo. Vẫn mái tóc dài quyến rũ. Vẫn đôi mắt đen trong veo. Chỉ khác Quế Trà Bồng vận
bà ba đen, còn Quế này mặc váy. Thu Quế mừng vui, đon đả bắt tay tôi, như người thân lâu
ngày gặp lại. Tôi rơi vào cõi thực hư, không phân biệt được thời gian xưa, nay nữa. Bởi trước
mặt tôi, hai cô gái tên Quế, đã nhập làm một trong nhau...
Thái Văn Thành hình như không biết điều đó, cứ đứng ngẩn tò te, trố mắt nhìn người đẹp
như bị thôi miên. Đúng thôi, vì chuyến tìm đường đó, không có Thành, làm sao cậu ta biết Quế
Trà Bồng?
  •  
Chúng tôi ngồi vào hai phía bàn trà, uống nước. Cậu Thành vẫn bị mê đắm trước vẻ đẹp
quý phái của Thu Quế. Trong khi cô vừa nhấp môi, vừa kín đáo nhìn tôi. Đôi mắt và cái nhìn
thân thiết, có phần đắm đuối của Quế Trà Bồng xưa, khiến tôi chột dạ, hỏi:
 - Nhìn chi rứa hè? Mình tra hung lắm à..?
Tôi nói như thể nói với Quế Trà Bồng, vì lúc gặp Hương Quế ở đó, tôi mới 22 tuổi. Còn
em khoảng 20. Giờ tôi đã ngoài 60 xa. Nói xong, tôi chợt giật mình. Cô Thu Quế này đã gặp tôi
bao giờ đâu, sao tôi lại hỏi mình già hung lắm à? Mà đặc sệt giọng trong ấy nữa. Nhưng lạ thay,
Thu Quế chỉ  đầu cười, nói:
  - Nói thật cùng hai anh, mỗi ngày em có đến vài ba cú điện thoại  mời của các ông
lớn, tướng tá, các sếp nhưng em không đến được, vì công việc quá bận rộn. Thể mà hôm nay,
dù chưa biết mặt hai anh, em lại nhận lời. Không biết vì sao nữa!
 - Răng nói như linh cảm rứa, em ơi!.. Tôi cười đế thêm.
- Thiệt đó anh, em chẳng đùa đâu! Em phải cố tìm đến với người lính. Chỉ mấy câu thơ
ấy, mà đêm qua làm em trằn trọc, chẳng tài nào ngủ được. Rạng sáng vừa chợp mắt, bỗng thấy
một người lính hao hao giống anh trong ảnh, đang cõng một người con gái máu me bê bết, đi
lên một quảng đồi toàn là cây quế rồi mất hút... Mở mắt ra, chẳng thấy ai cả. Người vã mồ hôi,
và rồi một trận cuồng phong ào ào ập đến...
Tôi và Thành trố mắt, bởi giấc mơ của Quế như thật. Thu Quế nói tiếp:
- Không hiểu có phải linh hồn đồng đội anh ở trong bài thơ, dẫn em đến đây gặp anh hay
không? Và đến đây, ước muốn của em là nghe anh kể chuyện về cô gái có tên Hương Quế, xứ
Trà Bồng, nơi một mảnh hồn anh còn gửi lại...
 Nghe Thu Quế nói, chúng tôi nổi cả gai ốc. Lạnh buốt sống lưng. Đầu óc châng lâng,
chao đảo như bập bềnh bay vào chốn không gian xưa xa xôi. Và rồi, hình ảnh người con gái
giao liên có tên Trần Thị Hương Quế nơi chiến trường Trà Bồng, Quảng Ngãi, lại hiện về như
những thước phim quay chậm...
                                                                 *
Mùa hè năm 1968, đoàn chúng tôi trong đó có Tư lệnh Sư đoàn 3 Sao vàng Huỳnh Hữu
Anh (ông còn các biệt danh khác: Tám, Tài, Quang), anh Phong y sỹ, anh Thực, anh Lâm và
tôi, sau mấy tháng vượt núi băng rừng thì chân chạm được đất Quảng Ngãi. Từ huyện Trà My,
lần qua Trà Hiệp, đoàn vượt qua sông Trà Bồng thì đến xã Trà Lâm thuộc huyện Trà Bồng. Ở
khu vực này, thuộc miền núi, phía tây của huyện Trà Bồng, nơi mà sáng nay địch vừa đổ quân
càn quyét, còn sặc mùi bom đạn.
 Khốn nỗi, lúc lội ngang sông Trà Bồng, đoàn bị bọn Mỹ phục kích. Đồng chí Quang, đại
úy trạm trưởng Binh trạm 38 phía bắc, dẫn đoàn đi vào, đã hy sinh tại đó. Nên bây giờ, đoàn tôi
như gà lạc mẹ, chẳng biết đâu mà lần. Phải lần mò đi tìm trạm tiếp theo. Mà bốn bề bọn địch đổ
quân, chúng chặn đầu chặn đuôi, súng nổ râm ran. Thật nan giải...
Trời xẩm tối, xung quanh bốn bề mênh mông hiu quạnh. Không một xóm làng. Hình như
có địch, vì chốc chốc có vài phát pháo sáng bay lên không trung. Chúng tôi đang tìm đường mò
lên một nương rẫy của đồng bào dân tộc, thì cậu Lâm không may giẫm phải chông. Anh Thực
phải gò lưng để cõng Lâm. Anh Phong phải bám sát Tư lệnh, sợ ông cũng giẫm phải chông nữa
thì khổ. Còn tôi thay Thực đi đầu dò đường. Sợ nhất là những bẫy thò của dân, hết sức nguy
hiểm. Nếu vướng vào dây, là cùng một lúc nó phóng ra hàng loạt mũi tên.. Mũi thò đâm xuyên
từ bên này sang bên kia. Ai không may vấp phải thò, khó lòng sống sót.
Đang loay hoay, chợt gặp một ông già, người mảnh khảnh, có bộ râu rất dài, nước da
trắng trẻo, nhìn chẳng phải là dân miền núi. Tội vội vàng hỏi ông đường về trạm. Ông thở dài
rồi bảo:
  •  
- Lúc sáng bọn Mỹ vừa càn và tập kích vào trạm. Anh em mình hình như chết nhiều
lắm... Họ chạy đâu hết... Từ sáng đến giờ, mình tìm mãi chẳng được.
Cuối cùng, ông dẫn anh em mình về chỗ nhà ông nghỉ, bọn mình đi theo ông nhưng ai
cũng tỏ ra cẩn trọng, thăm dò, tìm hiểu. Ông bảo, cứ nghỉ đây, chắc một vài ngày nữa sẽ có
người đến đón...
Nhà ông ta nằm bên rìa núi có con suối nhỏ chảy qua sau hồi nhà. Phía trong có hang đá
sâu. Bao quanh toàn rừng núi. Có rất nhiều cây quế. Cả một rừng quế chen chúc nhau mọc, tỏa
hương thơm ngào ngạt. Ở đây chẳng thấy dân cư đâu. Tôi hỏi, ông ta bảo:
- Năm ngoái lũ giặc càn lên, xúc dân đi hết rồi!..
 Mình hơi ngờ ngợ, buột miệng hỏi:
 - Sao chúng chừa ông lại?
 Nghĩ ngợi một lúc, rồi ông bảo:
- Bọn tui được du kích hướng dẫn, trốn về trong đêm, nên thoát...
Bước vào trong thấy căn nhà tềnh toàng, chỉ lợp vài tấm lá tranh đã dột nát. Một tấm ván
gỗ dùng bàn sinh hoạt. Phía trong chất đầy những bó vỏ quế khô, phía bên trái có một người
con gái xinh đẹp, còn trẻ măng, khoảng chừng mười tám đôi mươi, như độ tuổi của tôi. Cô
đang ngồi ở bàn khâu vá, đưa mắt lên nhìn và chào bọn tôi. Bọn tôi niềm nở chào đáp lại.
 Tư lệnh hỏi ông già:
 - Đây con gái của Bác à ?"
 Ông ta ậm ờ:
- Ừa!..
 Rồi bỗng ông đột ngột đổi giọng:
- Là... bà xã tui đó!..
Bọn tôi ồ lên đồng loạt, xuýt xoa:
- Bác có vợ trẻ, đẹp thế!
Tư lệnh Quang lại hỏi tiếp:
- Năm nay bác bao tuổi rồi?
 Ông ta gãi gãi đầu, cười cười hỏi lại:
 - Các ông đoán xem, tui bao nhiêu nào?
 Người con gái ngước măt lên nhìn bọn tôi rồi cũng cười. Không hiểu cô ta  cười chuyện
gì. Quả thực, bọn tôi cũng có thể đoán được, nhưng lúc này cũng thật khó nói. Nói tuổi quá lớn
cũng không được, nói tuổi bé cũng không xong. Thấy bọn tôi đang phân vân, ông ta nói luôn:
 - Thú thật các chú, tui năm nay đúng 80 tuổi rồi! Còn vợ tui năm nay 20 tuổi tròn...
Người con gái lại ngước lên nhìn, và theo dõi thái độ chúng tôi. Bọn tôi lại ồ lên lần nữa.
Tiếng ồ lần sau này, có thể ẩn chứa cả sự khâm phục lẫn ngạc nhiên. Anh Phong cười, nói với
ông già:
 - Chú thật gặp phúc, lấy được vợ trẻ lại đẹp nữa!..
 Anh Phong đã khéo léo chuyển từ gọi "ông", sang gọi "chú". Cô gái chẳng nói gì, chỉ
cười tủm tỉm. Lâu lâu, liếc con mắt sắc nhìn tôi. Tôi được đặc ân đó, có lẽ vì trong đoàn tôi là
đứa trẻ nhất. Độ tuổi ngang tầm tuổi cô ấy. Hay cô ta tìm ra ở tôi nét dễ hòa đồng chăng?
Nhưng chẳng ai để tâm chuyện đó làm gì!
Tư lệnh Huỳnh Hữu Anh nói vui:
 - Có lẽ bác vừa có của lại có tài, để các cô theo...
 Hình như câu nói vô tình của thủ trưởng, ít nhiêu chạm đến lòng tự ái. Cô ta bỉu môi rồi
cúi mặt xuống. Ông già cắt lời:
- Không! Chẳng có gì cả!.. Bố mẹ anh em tôi bị tụi Mỹ giết hết trong trận càn Eo Tà Mã.
Còn gia đình cô ấy chúng giết tại thôn Trà Xanh này.
  •  
Không nói ra, chúng tôi ai cũng kỳ lạ cho mối tình tuổi ông cháu này. Ông ta kể tiếp:
 - Chúng tôi đều cùng là giao liên của huyện. Thế là mấy ông cán bộ lãnh đạo thấy chúng
tôi đều có hoàn cảnh, liền ghép lại với nhau. Thế rồi trời xui đất khiến, chúng tôi đến với nhau
thật!..
 Ông cũng thổ lộ, đã 3 năm rồi mà đến nay vẫn chưa có mụn con nào. Bọn tôi nghe
chuyện, có chút ngậm ngùi, cảm động...
Chiều đó, hai vợ chồng họ đãi cho anh em tôi bữa ăn đường hoàng. Cũng có sắn cõng
cơm. Có cá suối ông già đánh bắt về. Có măng rừng nấu canh cá. Đang đói mấy ngày, lại thấy
có cơm, anh em tôi sà vào như vớ được của quý. Vừa ăn Tư lệnh Huỳnh Hữu Anh vừa bàn với
ông Khang, chồng của Quế:
- Không thể đợi người trạm giao liên đến đón được! Các trạm bây giờ cũng lo chạy giặc.
Chi bằng, mình phải vừa tìm đường, vừa đánh địch mà đi. Không thể chậm trễ được nữa!
Tư lệnh nói chưa hết câu, thì ông già Khang nói ngay:
 - Tui thì không thể đi theo các anh được! Sáng mai sẽ cử Quế, vợ tôi, đi theo đoàn. Quế
nó nhanh nhẹn, biết đường sá hơn tui. Mà vì tui còn phải ở nhà, lỡ anh em mình bị thất lạc, còn
phải đón họ nữa...
Coi như việc đã bàn xong, Tư lệnh Quang lên võng nằm. Anh Phong tiêm cho ông mũi
thuốc trợ lực B12, lại tiêm thuốc sốt rét cho Lâm. Lâm đang lên cơn sốt rét dữ dội. Đắp đến hai
chăn vẫn rên hừ hừ. Quế đến cho tay lên trán Lâm, xem nóng sốt thế nào. Rồi cầm một bó lạt
chẻ mỏng, loay hoay đan cái gì đó. Tôi nhìn kỹ, giống cái lừ đơm cá ngoài mình, nhưng cái này
nó chỉ to hơn bắp tay một chút.
 Bọn tôi xúm lại xem. Mới thấy hết bàn tay tài hoa khéo léo của người đẹp. Hỏi thì Quế
bảo:
 - Đây là cái lừ đơm lươn...
Mình trố mắt hỏi:
 - Ở rừng núi, cũng có lươn à?
Quế cười dễ thương, nói:
  - Nhiều! Nhiều lắm anh ơi! Có một bãi lầy nằm dưới chân dốc, lươn nhiều vô kể! Quế
nhìn tôi rồi rủ  - Anh đi bắt lươn cùng em nhé?
 Tôi trong lòng rất muốn đi, nhưng lại bảo:
 - Anh có biết chi bắt lươn mô tê!
 Ông Khang từ đâu đến, vỗ vào vai tôi, bảo:
 - Đi là biết liền! Mai có thức ăn mang theo...
Thấy thế, anh Phong giục:
 - Cậu nên đi với cô Quế. Để mình và cậu Thực ở nhà còn trực thủ trưởng và cậu Lâm.
Đang nhiều người đau ốm thế này, có thức ăn tươi là chúa đấy!..
Tôi ái ngại, vì chưa bao giờ đi riêng với đàn bà con gái, mà Quế đã có chồng rồi càng
ngại hơn. Tiến lại gần ông Khang, tôi khẩn khoản:
 - Chú đi với Khởi nhé..?
 Ông Khang gạt đi, cương quyết:
- Tui mà đi, nếu lỡ địch tập kích vô đây, thì các em biết đường mô mà chạy?
Hai đứa tôi trên đường đi bắt lươn. Trong bóng tối, hai đứa mừng vui xúng xính như thời
trẻ nhỏ. Như không hề có chiến tranh. Quế lăng xăng chạy qua chạy lại nói cười tíu tít. Mấy cái
lồng đơm lươn cứ lủng lẳng bên hông. Nói vậy, nhưng tôi vẫn khư khư cầm khẩu AK trên tay,
đề phòng trường hợp bất trắc xảy ra. Dầu lúc trưa Quế nói đã xuống tận đây quan sát, tình hình
vô sự, không có địch. Quế bẻ một nắm hoa mua rừng giúi vào tay tôi, nói:
- Em xin tặng anh lính Giải phóng bảnh trai nhất!..
  •  
Tôi hơi ngẩn người vì quá bất ngờ, rồi trấn tĩnh ấp úng nói:
 - Tôi cảm ơn cô Quế nhé!..
 Thế rồi nàng tự nhiên khoác chặt tay tôi, vừa đi vừa xởi lởi hỏi:
- Anh ơi! Anh tên chi rứa..?
 Tôi trả lời cụt lủn:
- Tên Khởi!
Quế lặp lại:
- Khởi nghĩa à?
 Tôi gật đầu. Quế hỏi tiếp:
- Quê eng ở mô rứa hè..?
 Tôi thừa hiểu cái giọng Quảng Ngãi không phải rứa. Nàng đang nhái giọng Quảng Bình
quê tôi. Tôi tủm tỉm cười vui, rồi mạnh dạn:
- Quê tui ở Quảng Bình o nờ..?
 Đi một quãng, nàng lại đột ngột hỏi:
 - Eng Khởi ơi! Eng có vợ chưa rứa?...
Tôi ngập ngừng, rồi nói:
- Có rồi! Có hai con nữa!..
Quế cười ngặt nghẽo, rồi véo vào tai tôi đau điếng:
- Có hai con mắt ấy! Mặt còn bấm ra sữa vậy, mà bảo có vợ là không tin!..
 Đi xuống hết dốc, tự nhiên nàng đổi tính lại, hỏi như trẻ con, nghe đến buồn cười:
 - Anh ơi! Anh nhìn em có đẹp không..?
Tôi bấm bụng cười và nói:
- Đẹp!.. Đẹp lắm!.. Rất giống hoàng hậu!..
 Được đà nàng tấn tiếp:
- Nếu giả dụ... em chưa có chồng... anh... có yêu em không..?
Tôi ngượng ngùng, yên lặng hồi lâu. Quế lại quắc tay vào tay tôi, và giục:
- Nói đi! Em giả dụ thôi mà!..
Buộc lòng tôi nói đại:
 - Yêu chơ! Em đẹp như hoa như ngọc rứa, ai mà không ưa cho đặng...
Đi một quãng nữa, nàng lại bảo:
 - Em ước... có một ngày, em được ra Quảng Bình thăm quê anh cùng gia đình...
Tôi bảo:
- Cảm ơn Quế nhé, nếu anh và em còn sống sót...
Đêm đó thật may mắn, hai đứa đơm được đầy một rổ lươn. Con mô con nấy to đùng,
vàng hươm. Thủ trưởng Quang rất mừng, ông ngồi bật dậy và khen:
 - Tụi ni làm ăn giỏi thiệt!..
Dường như mọi người đều tập trung nỗi vui mừng vào rổ lươn, mà chẳng ai để ý gì đến
khuôn mặt lầm lì của hai kẻ tưởng chừng như phạm tội. Tôi chẳng dám nhìn thẳng vào mặt ông
Khanh, lại càng không dám nhìn Quế nữa. Mỗi khi nàng chuyện trò cười nói rôm rả, tôi tảng lờ
và kiếm cớ tránh xa xa...
Mọi người lại lao vào làm lươn. Xắt xắt, bằm bằm, cắt khúc kho, còn nấu một nồi cháo
lớn. Tội cho cậu Lâm đang lên cơn sốt, chẳng ăn được tý gì. Đang ngồi nhóm bếp với anh
Thực, anh Phong, Quế làm tôi đến hết hồn. Nàng cho tay vào sau mông mình, véo một cái đau
điếng cả người. Tôi giật thột, kêu lên oai oái.
Anh Phong giật mình bảo:
- Gì vậy?
 Tôi đang ngọng lưỡi, thì nàng đã đỡ đòn:
  •  
 - Ui cha! Con rết!..
Mọi người đổ đi tìm, loay hoay mãi chẳng thấy rết đâu.
Tối ấy tôi ra suối tắm. Không ngờ, nàng lại mò ra ngồi bên tảng đá khi nào. Bất ngờ
nghịch ngợm, đưa tay vốc nước khoát lên người tôi, làm tôi hết hồn. Rồi nàng còn lấy cả cục đá
liệng sang nữa. Tôi định nhân thời cơ này, tâm sự khéo với cô ta, rằng, chẳng lẽ các anh đi
chiến đấu, để bảo vệ hạnh phúc cho nhân dân, mà lại cố tình đi cướp hạnh phúc của họ ư? May
mà tôi chỉ mới nghĩ, chưa kịp nói ra.   Lỡ mình ngộ nhận thì sao? Cô ấy cười cho thối mặt.
Chợt nhớ lúc chiều, tôi cũng nghe cô ấy bất chợt tâm sự: "Nhìn mấy anh lính ngoài Bắc vào,
em thương lắm! Anh nào cũng xinh cũng đẹp và thông minh. Chao ơi, rồi một ngày họ chết cả!
Em làm giao liên huyện, biết và thân nhiều anh ở Sư đoàn 3 Sao vàng, nhưng giờ đây có còn ai
lại nữa đâu! Họ bỏ em về đất cả rồi!.."
Sáng hôm sau, cậu Lâm công vụ ngồi lên vật xuống đến tội nghiệp. Cơn sốt rét vẫn chưa
buông tha câu tạ. Anh Phong lại tiêm thuốc sốt và cả B12 cho cậu ấy, và gửi anh ta lại cho ông
Khang, nhờ ông chăm sóc cho Lâm. Anh Phong còn gửi lại một bọc thuốc và hướng dẫn ông
Khang cho Lâm uống mỗi ngày. Và hẹn ông ấy khoảng mấy ngày nữa có người ra đón cậu
Lâm.
Đoàn chia tay ông Khang tiếp tục lên đường. Ai cũng lưu luyến cảm động và biết ơn vô
hạn về sự giúp đỡ của vợ chồng ông lúc khó khăn...
Đoàn đi giờ có thêm cả cô Hương Quế, mà giờ đây ai cũng cảm thấy yên tâm vì có người
bản địa dẫn đường. Với Quế, đường ở đây cô thuộc như lòng bàn tay. Hơn nữa, Quế tuổi trẻ, lại
nhanh nhẹn, vui tính, khiến không khi thêm ấm cúng. Cách đón tiếp, lo lắng cái ăn cho đoàn,
đặc biệt đêm hôm đi đơm lươn, cho chúng tôi một bữa cháo ngon ra trò, còn làm thức ăn mang
theo, Hương Quế đã gieo vào chúng tôi tình cảm sâu đậm...
 Quế bao giờ cũng xăm xăm đi trước đoàn, khoảng 10 - 15m. Đó là kinh nghiệm của
người giao liên nhiều năm. Có động tĩnh gì thì cô ấy làm hiệu cho anh em ngồi xuống. Cô ta
thoắt ẩn thoát hiện, đi tới đi lui, để hướng dẫn đoàn. Bởi thế, Tư lệnh Quang thường gọi là "Cô
sóc nhỏ"
Hương Quế mang khẩu cacbin và hai quả lựu đạn. Nhưng sau đó, lại xin đổi khẩu súng
AK cho anh Thực. Lâu thay lại thụt lại cười nói cùng tôi. Ông Quang thấy hai đứa thân nhau,
ông cũng vui lây. Leo lên đỉnh dốc, ông bảo anh Phong lấy mấy thỏi Socola phát cho hai đứa
tôi. Quế rất vui, bất ngờ  hỏi ông Quang:
 - Thủ trưởng ơi! Khi mô cho em ra Bắc với nhé?
Tư lệnh Quang cười, bảo:
- Dám vất chồng lại mà đi à?
 Quế cười. Chúng tôi cũng cười theo.
 Lại xuống một vạt ruộng, rồi lại leo lên một rừng quế. Xứ Trà Bồng, quế mênh mông
điệp trùng xanh thẳm. Hương quế đang tỏa hương thơm ngào ngạt. Vừa qua suối Cà Đú, chuẩn
bị vượt đốc Quế, bỗng phía trước có tiếng nổ long trời và cả tiếng AR15 nổ râm ran trời đất. Ôi,
đụng phải địch phục kích rồi!  Có tiếng của Quế hô đủ nghe:
 - Tất cả nằm xuống!.. Nằm xuống!..
Tôi nằm ở gò đất, ngước mắt thấy Quế tung hai quả lưu đạn lên chỗ có ánh chớp từ khẩu
đại liên của địch đang khạc lửa. Rồi cô ấy cầm khẩu AK, vừa chạy ào lên vừa bắn. Tôi cũng
xông lên, quạt mấy loạt AK giòn giã, yểm trợ cho Quế. Hình như chỉ có mấy thằng lính Bảo an
phục kích. Quế diệt 3 thằng, còn mấy thằng bỏ chạy xuống đồi. Anh Phong và Thực vội dẫn
Thủ trưởng xuống khe cạn. Tư lệnh Quang và anh Phong cũng rút khẩu K59 ra khỏi bao, lên
đạn răng rắc.
  •  
Tiếng súng râm ran một lúc nữa rồi lặng hẳn. Đợi mãi chẳng thấy Quế. Ông Quang giục
tôi:
 - Chú em ơi! Chạy lên xem cô ấy ở đâu?
 Tôi căng mắt, mò mẫm hết mọi nơi. Cuối cùng, thấy Quế nằm trong bụi cây rậm ven
đường. Quế bị thương rất nặng. Bị gãy đùi phải, máu ra đầm đìa. Chắc vì hứng phải mìn
Claaymo. Còn bị dính mảnh đạn ở bả vai và cả ở ngực nữa, máu chảy thấm ướt cả lần áo. Quế
rên và nói thều thào:
- Anh Khởi ơi!.. Em chết mất thôi!..
 - Em đừng nói gở! Không sao đâu! Để anh cõng em đi...
Tôi nói cứng, nhưng nước mắt đã trào lên nghẹn ngào. Nhanh chóng vực cô ấy dậy, xốc
lên vai, tôi chạy băng băng về mạn suối, nơi thủ trưởng cùng các anh đang ngồi chờ. Anh
Phong tiêm cầm máu và băng bó vết thương cho Quế. Nán lại đây lâu cũng nguy hiểm, vì địch
có thời gian điều hỏa lực, hoặc bao vây. Các anh bàn nên cắt rừng đi ngay!
 Lúc này, anh Phong và cậu Thực đang lên cơn sốt. Cả hai run cầm cập. Hai hàm răng
anh Thực đánh vào nhau cầm cập. Thủ trưởng động viên:
- Các em cố lên! Sang bên kia dốc là địa phận của ta rồi!..
 Như vậy, lúc này chỉ còn mình tôi, phải ráng hết sức mình cõng Quế leo dốc. Quế vẫn
còn tỉnh. Đi lên một quãng, cô ấy thì thào:
 - Anh Khởi ơi!.. Anh để em nằm lại đây thôi! Các anh đi đi!.. Em chẳng còn sống được
mô!..
- Không! Em phải sống! Hãy cố gắng lên!..
 Tôi gào lên trong cổ họng, vì phải giữ bí mật. Thủ trưởng Huỳnh Hữu Anh đặt tay lên
ngực cô ta an ủi:
 - Em đừng nói dại!.. Em không chết được mô!..
Có thể lời động viên của chúng tôi có hiệu quả, Hương Quế không nói chuyện chết nữa.
Tôi cảm nhận được Quế đang yếu dần trên vai tôi. Một lúc sau, cô ấy thở dốc, rồi bảo:
- Khi mô, anh cho em ra Quảng Bình, thăm quê anh với nghen!
Tôi hiểu là Quế đã bước vào ranh giới của thực và ảo, của sống và chết. Cô không còn
cảm giác đau đớn nữa. Không một chút rên la. Chỉ có tiếng lời thầm thì của quán tính từ cõi
sống vương lại. Quả thế, tôi nghe tiếng Quế thì thào trong cơn mê sảng:
 - Anh Khởi ơi!.. Anh yêu em không..?
 Cơn mê sảng của Quế càng ngày càng sâu thêm, đến độ mê loạn. Đôi mắt sáng quắc,
long lanh, hoang dại. Ngọn đèn trước khi tắt ngốt, thường sáng lên khắc giây. Chắc sự sống
trong Quế giờ cũng vậy. Lời của Quế, là lời của người đã đặt chân vào thế giới bên kia. 
- Cho em hôn anh một cái, được không, nào?
Người Quế mềm luội dần đi trên vai tôi. Giọng Quế nhỏ dần, yếu dần như giao động tắt
dần. Những tiếng cuối cùng nghe như hơi gió:
 - Được không anh..? Sao anh im lặng vậy..?
Và tôi thấy đầu nàng ngoẹo xuống vai mình, áp vào má mình. Không biết nàng có làm
chi không? Nhưng thực tình, tôi nghe trong người nóng bừng, và rồi bỗng dưng âm âm, lạnh
ngắt đến rợn người. Tôi linh cảm điều chẳng lành, khi thấy thân hình nàng phía sau như nặng
hơn. Lại nghiêng ngả mất thăng bằng, và rung lên mấy cái. Tôi lấy tay vỗ vỗ vào mông Quế
mấy cái, nhưng chẳng thấy động tĩnh gì. Tôi thảng thốt gọi:
 - Quế!.. Quế ơ... ơi!
Quế đã tắt thở. Tôi nhẹ nhàng và cẩn thận, đặt cô ấy nằm xuống bên vệ cỏ.  Và gào lên
trong nước mắt. 
- Quế ơ... ơi!..
  •  
Tôi vuốt mắt cho em. Khép bầu trời ngát xanh rừng quế, cho em mang theo về thế giới
của em. Mọi người xúm lại vây quanh.
Mãi sau, tôi thổn thức nói với Tư lệnh Huỳnh Hữu Anh:
- Quế mất thật rồi, thủ trưởng ạ!..
 Anh Phong vội cúi người, đưa tay banh mắt Quế nhìn, rồi lắc đầu. Bỗng dưng, tôi chết
lặng rồi khóc òa lên. Tôi khóc vì uất hận những tên giặc đã sát hại Quế. Tôi khóc vì thương xót
người con gái còn quá trẻ, lại xinh đẹp, khao khát hạnh phúc thật sự, mà vẫn chưa được.
 Mọi người đều cũng khóc theo. Thủ trưởng Quang ngậm ngùi lau nước mắt. Tôi lấy
khăn lau bọt máu đang trào ra nơi miệng Quế.
Đang rối bời chưa biết tính thế nào khi Quế đã mất, thì có một người ở đâu chạy xồng
xộc đến báo tin:
- Địch đánh bom vào thôn Trà Xanh rất dữ dội! Ông Khang cũng hy sinh rồi!
  Như cơn sét đánh ngang tai. Mọi người bủn rủn, thất thần. Ai nấy đưa mắt nhìn nhau, lo
lắng, rồi thở dài, ngồi bệt xuống đất. Mấy anh em bàn bạc, cuối cùng đành buộc lòng gửi Quế
lại nơi đỉnh dốc đồi quế Trà Bồng.
Tôi nói với thủ trưởng:
 - Hay chúng ta khiêng cô ấy đi luôn?
 Tư lệnh Quang ngẫm nghĩ một hồi, rồi lắc đầu nhìn tôi, bảo:
 - Không thể được! Kẻ địch đang đổ quân chặn tứ phía. Chú Phong, chú Thực đang lên
cơn sốt. Còn cậu giao liên phải quay về gấp báo cho trạm giao liên ngoài đó...
 Ông lại nhìn tôi ra chiều thông cảm, đoạn an ủi:
 - Thôi, cứ để em lại với Trà Bông quê hương. Ngày mai vào trạm 39, sẽ cho người và cả
chú em, quay ra đào huyệt mộ, chôn cất cô ấy cho đường hoàng!..
Bọn chúng tôi lấy mấy bi đông nước để dùng uống đi đường, rửa ráy làm vệ sinh sạch sẽ
cho Quế. Rồi lấy bộ áo quần lính của tôi mới mang từ Bắc vào, thay mặc cho em. Chẳng ai có
xẻng cuốc. Mấy anh em nhặt đá hòn, đặt vây quanh, xây thành cái quách ngôi mộ đá, rồi thận
trọng bế em nằm vào giữa. Tôi bẻ mấy nhành Quế đắp lên làm mộ cho nàng. Ông Quang bảo
anh Phong lấy mấy thỏi lương khô, mấy nhúm gạo và muối rắc lên đó.
 Mọi người đứng nghiêm một dãy bên ngôi mộ Quế. Tiếc thương vô hạn người con gái
xinh đẹp, tươi trẻ, hồn nhiên. Nghẹn ngào đưa tay chào kiểu nhà binh, tiễn biệt một nữ chiến sĩ
giao liên Trà My dũng cảm...
Chúng tôi lại lên đường vào trận, nhưng vẫn nghe thoang thoảng đâu đây hương thơm
dịu ngọt, cay nồng của xứ quế Trà Bồng. Tôi còn nghe cả tiếng Quế vọng về thảng thốt: "Anh
Khởi ơi!.. Mai mốt cho em ra Quảng Bình với, anh nhé..?"
                              *
Thu Quế lau nước mắt, bàn tay áp vào ngực mình. Cô loạng choạng đứng dậy, sấp mặt
và chống tay vào tường như người thất thần rồi thở dài nói:
- Em thấy chóng mặt quá anh ạ!.. Chuyện hay, xúc động và thương cảm quá, anh Khởi
ơi!.. Em đang khóc đây nè!.. Khi nào anh vào trong ấy viếng mộ cô ấy, cho em theo đi cùng,
nhé..?
                             

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập15
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm14
  • Hôm nay1,546
  • Tháng hiện tại25,208
  • Tổng lượt truy cập3,146,995
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây