Cao Sơn ở Hạ Long

Thứ năm - 06/06/2019 19:29
Cao Sơn – Anh hùng giữa thanh thiên Bút ký của Đỗ Hoàng Hạ Long, Cẩm Phả mỗi ngày một thay đổi trông thấy. Phố xá sầm uất nở ra như hoa mùa xuân. Cứ mỗi lần về Quảng Ninh, tôi thấy sự khởi sắc đến lạ lùng. Cầu Bãi Cháy đường bệ công trình liên kết Việt – Nhật uy nghi giữa thanh thiên như một biểu tượng của Hạ Long trẻ trung đang vươn xa. Đường phố rộng rài đan xen với nhiều làn đường. Ở đây cũng “ ngựa xe như nước, áo quần như nêm” không khác Thủ đô là mấy. Ngay người bản địa cũng ngỡ ngàng trước sự đổi thay nhanh chóng của quê hương mình.
Cao Sơn ở Hạ Long
      Cao Sơn – Anh hùng giữa thanh thiên

                         Bút ký của Đỗ Hoàng

          Hạ Long, Cẩm Phả mỗi ngày một thay đổi trông thấy. Phố xá sầm uất nở ra như hoa mùa xuân. Cứ mỗi lần về Quảng Ninh, tôi thấy sự khởi sắc đến lạ lùng. Cầu Bãi Cháy đường bệ công trình liên kết Việt – Nhật uy nghi giữa thanh thiên như một biểu tượng của Hạ Long trẻ trung đang vươn xa. Đường phố rộng rài đan xen với nhiều làn đường. Ở đây cũng “ ngựa xe như nước, áo quần như nêm” không khác Thủ đô là mấy. Ngay người bản địa cũng ngỡ ngàng trước sự đổi thay nhanh chóng của quê hương mình.
      Còn nhớ đầu thập kỷ 90 khi tôi về Quảng Ninh, thị xã Hòn Gai, Cẩm Phả vẫn còn chìm ngập trong bụi bậm. Xe gòng chở than chạy đến bến phà Bãi Cháy. Bụi đường, bụi than phầm phập tuôn ra đầy đầy núi, đầy biển.  Cả phố thị chìm trong một màu đen mù đất, mù trời. Không chỉ ngoài đường mà ngay trong nhà ở, phòng làm việc của cán bộ, công nhân các mở than cũng ngập tràn vì bụi than.
      Nhưng bây giờ thì khác xa một trời một vực. Hạ Long, Cẩm Phả đã là một thành phố, đô thị khang trang sạch sẽ  giữa cảnh sắc trời biển trong xanh đến thanh khiết của vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, kỳ quan thiên nhiên vào loại bậc nhất trên hoàn cầu. Môi trường thật là xanh - sạch - đẹp đúng nghĩa của nó! Đó là kỳ tích của cán bộ, nhân dân Hạ Long, Cẩm Phả, các mỏ than trong việc giữ gìn môi sinh. Tôi không dấu nỗi sự phấn chấn khi ngắm nhìn Hạ Long, Cẩm Phả thành phố đẹp độc đáo của đất nước, nơi phên dậu của Tổ quốc qua bao nghìn năm! Tôi bất chợt nhớ đên câu thơ dung dị mà trang nhã của nhà thơ Xuân Diệu khi viết về kỳ quan Hạ Long:
“Ở đây cái đẹp luôn thường trực
Mở cửa ra là thấy Hạ Long”
    Hạ Long, Bái Tử Long đẹp đến xiêu lòng!
 
    
 Chưa ở đâu như ở Quảng Ninh, ra đường là gặp người làm than. Ca sỹ nổi tiếng đất nước xuất thân từ than, văn sỹ nổi tiếng cả nước cũng xuất than, cán bộ lãnh đạo cao cấp cũng xuất thân từ than. Từ than đã đào luyện ra bao nhân tài cho quê hương, đất nước  Dân số Quảng Ninh có trên 1 triệu người thì công nhân trực tiếp làm trong ngành khai thác than đá  lên gần 100 000 người!.
  Ngành than ra đời từ lúc nào?  Thế hệ tôi và các thế hệ trước cũng chỉ mang máng chắc là ngành than ra đời từ khi Pháp xâm lược nước ta. “Cha chạy ra Hòn Gai cuốc mỏ/ Anh bỏ vào Đất Đỏ làm phu” ( Tố Hữu ). Ai cũng tưởng là khai thác than có từ đó. Nhưng không phải, nhân đọc báo mạng tôi mới biết là ngày ngành than ra đời có từ thời vua Minh Mạng.
  Ngày 29 – 12 – 1840 vua Minh Mạng ký dụ cho khai thác than đá tại núi Yên Lãng, nay thuộc thôn Yên Lãng, xã Yên Thọ, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vừa qua ( năm 2007 )  tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế, bức dụ này đã được long trọng trao cho Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam. Nội dung bức dụ cho phép thành lập Công trường khai thác than đá. Lực lượng khai thác là nông dân, mục đích khai thác là dể chống đói cho nông dân. Từ đó Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam coi ngày 29 – 12 – 1840 là ngay đầu tiên ra đời của ngành khai thác than Việt Nam và vua Minh Mạng là “ông tổ” của ngành khai thác than Việt Nam. Cũng từ đây, những người nông dân của Công trường khai thác tan Yên Lãng trở thành những người công nhân đầu tiên của ngành khái thác than Việt Nam. Tính đến năm 2007 lịch sử khai than Việt Nam có chiều dài lịch sử 167 năm. Đến hôm nay, năm 2008 đã có chiều dài lịch sử 168 năm!
  168 năm qua, hàng vạn lao động từ mọi miền đất nước tới Quảng Ninh và trở thành công nhân mỏ. Trong hành trang của họ có tinh hoa văn hóa của cá vùng miền, của các dân tộc Việt Nam, từ Nam Bộ, Trung Bộ, đồng bằng Sông Hồng, Tây Nguyên, Tây Bắc và Đông Bắc… để tạo nên văn hóa công nhân mỏ. Qua các thế hệ, văn hóa công nhân mỏ hình thành và phát triển, có sức sống mãnh liệt. Vì vậy trong hành trang của công nhân mỏ ( bao gồm công nhân khai thác là lực lượng chủ yếu và công nhân những ngành nghề khác ở vùng mỏ) đã mang tinh hoa văn hóa đến Quảng Ninh làm cho văn hóa công nhân mỏ ngày càng phong phú trong quá trình tiếp biến.

       Lần này xuống Quảng Ninh, tôi viết về mỏ Cao Sơn – đơn vị anh hùng ngành than thời kỳ đổi mới. Không làm ở ngành than, không là thợ mỏ, không sống ở Quảng Ninh mà viết về một đơn vị sản xuất than có bề dày lịch sử với nhiều thành tích nổi bật, tôi thực lo lắng, thầm nghĩ: “ Không khéo thì mình là người cưỡi ngựa xem hoa”,  mặc đầu năm 1993 khi Quảng Ninh bùng phát than thổ phỉ tôi đã viết bài Quảng Ninh  “Than và Than!” để nói về sự khai thác than một cách hỗn loạn làm chảy vàng đen của Tổ Quốc gây nỗi hoang mang trong dân chúng và cán bộ lãnh đạo.
     Cao Sơn thuộc loại tân mỏ, là mỏ mới ở Quảng Ninh, được Liên Xô ( cũ )  giúp đỡ xây dựng và hướng dẫn kỹ thuật khai thác năm 1974, đến năm 1980 mới ra tấn than đầu tiên, là mỏ lộ thiên lớn nhất của Cẩm Phả.
    Nhà thơ Mai Phương đẫn đoàn chúng tôi làm việc với Cao Sơn bảo: - Hãy ra thăm các công trình phúc lợi trước, sau đó sẽ làm việc với ban lãnh đạo, thấy hình thức là biết nội dung ngay mà!
    Mai Phương người Phú Yên đã sống và làm việc ở đất mỏ ngót 50 năm, điều gì mà anh chẳng biết. Giám đốc mỏ, thậm chí là cán bộ cao cấp ngành than và Nhà nước, thưở anh về có khi chỉ mới là công nhân. Anh hiểu mỏ như hiểu vợ con nhà anh, cần chi một nhà văn ngoại đạo như tôi thêm vào. Nhưng anh bảo: - Mỗi người có cách nhìn của minh, tôi muốn có những nhà văn, nhà báo viết về Cao Sơn khác tôi, dù có như tôi và không được như tôi nhưng cũng là một cách phản ánh để biết Cao Sơn, không chỉ Cao Sơn mà các mỏ Việt Nam người ta đã làm được như thế!
  Tôi biết Việt Nam còn bao khó khăn, gian khổ thậm chí cả tụt hậu nhưng vẫn ít đóng cửa mỏ nào, trong khi đó Trung Quốc rộng lớn như thế, hiện đại mỏ như thế, có tàu "con thoi" chở người vào vũ trụ mà cũng phải đóng cửa gần 12 000 mỏ than, thợ mỏ chết như rạ, ô nhiễm môi trường đến mức thế giới phải báo động!
  Chúng tôi bách bộ thăm Cao Sơn Lưu Thủy, một công trình văn hóa tâm linh có một không hai ở đất Quảng Ninh này. Nơi đây ngày trước là nơi tụ hội của nhiều thành phần bất hảo, là tệ nạn xã hội mà Cẩm Phả và Quảng Ninh cũng không thể nào dẹp nổi.
 Mỏ Cao Sơn đã trích quỹ phúc lợi với phương châm: nhân dân công ty cùng làm, xây dựng một công viên văn hóa dưới chân đảo biển Sơn Vân.
  Sơn Vân trước là hòn đảo nằm xa đất liền. Sau nhiều tháng năm lấn biển, đổ đất xây dựng, Sơn Vân đã thành bức bình phong cho trụ sở mỏ Cao sơn, chọ vạn nhà được an cư, lạc nghiệp ở đây.
 Công viên Cao Sơn Lưu Thủy nằm dưới chân núi Sơn Vân là nơi hội tụ các kiểu kiến trúc cổ kim, có Chùa  Một Cột mô phỏng chùa Một cột ở Hà Nội, có nhà tưởng niệm Bác Hồ, có "cổ thụ, có sơn bồ " cho cán bộ, công nhân và dân chúng nghỉ ngơi, thư giản. Xây dựng được Sơn Vân như hôm nay là phải đầu tư tiền tỷ! Tiền ấy do Cao Sơn lo, không phải xin tiền ngân sách. Bây giờ ai làm việc gì ích nước lợi dân mà không lấy tiền ngân sách đều đáng được phong tặng anh hùng!
  Các vị lãnh đạo mỏ Cao Sơn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Lê Đình Trưởng, giám đốc Nguyễn Xuân Lập, Chánh văn phòng Nguyễn Trọng Bình, Phó văn phòng phụ trách thi đua Nguyễn Khánh Hoàn sau khi  tiếp xúc xã giao là mời chúng tôi cứ ra khai trường, cứ đi thăm nơi ăn chốn ở của cán bộ, công nhân, cứ nghe họ nói về mỏ, về cán bộ lãnh đạo, không cần xem báo cáo thành tích, không cần lãnh đạo tự nói về mình. Họ nói thế nào các nhà báo, nhà văn cứ thế ghi lại. Mỏ chỉ cần vậy. Còn thời buổi này bia, rượu, nhậu nhẹt đến một người dân bình thường cũng lo đủ cho quan khách, huống gì đơn vị có lợi nhuận gần 50 tỷ Việt Nam đồng một năm!
  Nói thế thôi, chứ tôi là người đã từng viết các đơn vị làm kinh tế trước đây 10 năm, tôi phải tìm hiểu Cao Sơn nói riêng và các doanh nghiệp nói chung làm như thế nào để kinh doanh có hiệu quả, để ăn nên làm ra như thuật ngữ thông dụng bây giờ. Biết bao nhiêu doanh nghiệp to đùng, to đoàng và có 20 doang nghiệp được Nhà nước bao cấp tận răng như Công ty bia Sài Gòn chẳng hạn vẫn thua lỗ, vẫn không trả được nợ vay ngân hàng, và đến bên bờ phá sản, nếu như không có một  Bạch Thái Bưởi tái thế!
   Mỏ Cao Sơn có 34 năm xây dựng và trưởng thành, đừng nói thời trước, ngay từ đầu thập kỷ 90, Cao Sơn cũng như mỏ than khác ở Quảng Ninh lao đao vất vả. Đến như Công ty than Hòn Gai, anh cả các mỏ than mà vẫn xiêu đình đổ quán, huống gì Cao Sơn sinh sau, đẻ muộn. Tôi nhớ đầu thập kỷ 90 khi làm việc với anh Trương Công Điểu, giám đốc Công ty than Hòn Gai, anh đã than thở: - Sản lượng than Hòn Gai khai thác mấy năm laị đây, bình quân 1,2 triệu tấn/ năm. Với chừng ấy tấn, công ty chỉ cần 700 lao động là đủ, nhưng hiện nay công ty có đến 1,3 vạn công nhân. Phải cưu mang nhau mà sống, biết làm thế nào! Từ khi xóa bỏ bao cấp, các trang thiết bị kỹ thuật khai thác than trước đây phải bỏ kho. Công ty có đội quân đến 600 người làm công tác thủ kho từ 3 đến 4 năm. Chi phí bảo dưỡng và trả lương cho 600 công nhân trong thời gian qua đã lên đến 4- 5 tỷ đồng!
  Phải cứu lấy mình, trước khi trời cứu. Cao Sơn cũng vậy. Trong 34 năm xây dựng và trưởng thành, Cao Sơn đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, mọi thứ đều mới và thiếu thốn. Nhưng cũng từ những khó khăn tưởng như không vượt qua nổi thì đại đa số những người thợ mỏ với tinh thần tiến công cách mạng, lao động sáng tạo đã không chùn bước, suy nghĩ tìm ra nhiều cái hay, nhiều giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế phù hợp với điều kiện của một mỏ mới thành lập.
  Sau hơn 5 năm xây dựng, đúng vào ngày 19 – 5 – 1980, kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ lần thứ 90, mỏ Cao Sơn đã sản xuất ra tấn than đầu tiên. Niềm vui như được nhân lên khi Chủ tịch nước gửi thư khen ngợi.
  Tuy là mỏ lộ thiên, điều này chính bản thân tôi cũng ngỡ mỏ lộ thiên là khai thác dễ dàng hơn mỏ hầm lò; nhưng không phải, để để có được 1 tấn than phải chi phí bóc đi 10 m3 đất đá. Mà đất đá Cao Sơn thuộc loại f11, rắn nhất trong khu vực. Riêng chi phí khoan nổ mìm đã chiếm 24 – 25 % chi phí sản xuất của mỏ. Rồi còn cung độ vận chuyển. Cung độ vận chuyển của Cao Sơn rất xa. Chuyển 1 tấn than từ tầng đến cảng phải đi qua quảng đường dài từ 15 đến 20 km.
  Vấn đề là làm sao để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, để nộp ngân sách Nhà nước đầy đủ, các nghĩa vụ khác và để chăm lo tốt cho đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công nhân, đó là câu hỏi lớn luôn luôn đặt ra cho lãnh đạo Công ty và những người thợ mỏ Cao Sơn!
  Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Công ty, sự phối hợp của các tổ chức như Công đoàn, đoàn Thanh niên, với tinh thần đoàn kết, đồng tâm lao động sáng tạo của những người thợ mỏ, công tác điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty đã vượt qua những giai đoạn đầy khó khăn và thử thách, khơi dậy và phát huy những truyền thống tốt đẹp, những gương sáng trong phong trào thi đua lao động sản xuất được động viên kịp thời và khích lệ người lao động  phấn khởi đóng góp khả năng trí tuệ của mình trong sản xuất. Đảng tin công nhân, công nhân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, yêu xe, yêu máy máy, yêu mỏ như chính gia đình của mình. Có thể nói tinh thần làm chủ thiết bị, làm chủ Công ty, làm chủ cuộc sống trên quê hương vùng mỏ ngày càng được đâm chồi nảy lộc và phát triển
 Thợ mỏ lao động say sưa để tăng thu nhập cho mình, để cho sự phát triển của Công ty, cho đất mỏ ngày một đổi thay, giàu đẹp, văn minh.
  Trong 34 năm ấy, mỏ Cao Sơn đã làm nên bao kỳ tích, đã khai thác trên 30 triệu tấn than và bốc dỡ, vận chuyển gần 150 triệu m3 đất đá. Lợi nhuận hàng năm đều được tăng lên. Năm 2004 là 27 tỷ đồng thì năm 2007 là 31 tỷ đồng. Lương thu nhập bình quân năm năm 2004 là 2 5000 000 đồng năm 2007 là 4 100 000 đồng.
  Cao Sơn bây giờ đã là công ty cổ phần hoạt đông trong cơ chế kinh tế thị trường. Chúng ta có hàng nghìn doanh nghiệp ăn nên làm ra, Cao Sơn cũng như thế. Nhưng Cao Sơn tồn tại và ăn nên làm ra ở chỗ nào?
  Trong lúc chuyện trò, trao đổi với Ban lãnh đạo Công ty Cao Sơn, tôi hỏi: -  Riêng về ngành than thì đã có hàng trăm mỏ đều như nhau. Cao Sơn có gì khác Đèo Nai, Núi Béo, Mông Dương thậm chí là Hà Lầm...
  Chủ tịch Hội đồng Quản trị, nguyên là giám đốc Công ty Lê Đình Trưởng trầm ngâm một lúc rồi trả lời rất rành mạch:
   - Cao Sơn có 4 điểm nhấn như thế này: 1 – Liên tục đổi mới, 2 – Khai thác và sử dụng mọi nguồn lực, 3 - Thực hiện đầu tư mới có chọn lọc và có giới hạn, 4 – Chăm lo tốt điều kiện làm việc và các mặt đời sống cho người lao động.  Các công ty than khác cũng triển khai như thế này, nhưng Cao Sơn làm nhanh , manh, kịp thời và liên tục để giành thắng lợi.
Về liên tục đổi mới thì để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch của Tập đoàn TKV giao cho, Lãnh đạo Công ty Cao Sơn đã đề ra các giải pháp chỉ đạo cụ thể với mục tiêu: An toàn – Hiệu quả - Phát triển vững mạnh. Trong điều kiện hệ số bóc cao, đất đá rắn, thiết bị không tăng, khai thác ngày càng xuống sâu… cho nên phải có sự chuẩn bị tốt cho các điều kiện phục vụ sản xuất như phương hướng khai thác, nguồn tài nguyên, năng lực lao động, năng lực thiết bị. Bên cạnh đó, Lãnh đạo Công ty liên tục phát động các phong trào thi đua thường kỳ từ văn phòng Công ty đến các tổ sản xuất. Lãnh đạo Công ty không ngừng đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới cơ chế quản lý và chỉ huy điều hành sản xuất đạt hiệu quả cao, tạo động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển. Công ty luôn quan tâm công tác an toàn lao động, bảo hộ lao động, phòng chống cháy nổ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Tăng cường các biện pháp khoan nổ, cấp đủ đất đá bắn tơi, nâng cấp các tuyến đường vận chuyển, tổ chức đấu tư sửa chữa các thiết bị nhanh đưa vào sản xuất nhằm nâng cao số lượng giờ xe hoạt động đạt năng suất cao.
  Lãnh đạo Công ty luôn quan tâm đổi mới cơ chế quản lý đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tiết kiệm chi phí và xác định đấy là mục tiêu sống còn của các doanh nghiệp Nhà nước trong cơ chế thị trường với phương châm chỉ đạo: -Phát huy nội lực, mở rộng quan hệ hợp tác, lao động sáng tạo, xây dựng Công ty Than Cao Sơn phát triển vững mạnh.
  Năm 2007, Công ty đã hoàn thành đạt 100% kế hoạch do Tập đoàn TKV giao cho, doanh thu vượt 9,8% , lợi nhuận 31 tỷ đồng, lương bình quân đạt 4.3 triệu đồng/ tháng. Cá  biệt có công nhân vận hành máy khoan, máy xúc, ô tô thu nhập trên 10 triệu đồng/ tháng. Cao Sơn khai thác tấn than thứ 3 triệu vào ngày 22- 12 , ngày cuổi năm 2007.
   Về khai thác, phát huy mọi nguồn lực, Công ty luôn chú trọng khai thác, sử dụng và phát huy sức mạnh mọi nguồn lực nội bộ, nhất là nguồn lao động và thiết bị hiện có. Công ty đã tập trung đào tạo, huấn luyện bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ, công nhân. Chỉ tính năm 2002 – 2005, Công ty đã mở các lớp bổ túc văn hóa cho 200 công nhân, tổ chức các đợt thi thợ giỏi nâng bậc cho gần 800 công nhân , cử gân 150 người đi học các trường công nhân kỹ thuật, cao đẵng, đại học. Cùng với việc chăm lo nâng tay nghề cho người lao động để phát huy tài năng , cống hiến công sức và trí tuệ xây dựng Công ty phát triển, Cao Sơn cũng đặc biệt quan tâm tới khâu bảo dưỡng, sửa chữa, phục hồi các máy móc thiết bị để dảm báo cho mục tiêu sản xuất kinh doanh.
 Về thực hiện đầu tư mới có chọn lọc, có giới hạn, tân giám đốc Nguyễn Xuân Lập vui vẻ, cởi mở cho biết:
   - Để thay thế các thiết bị cũ kỷ ngày càng xuống cấp, để đáp ứng của yêu cầu sản xuất kinh doanh những năm gần đây Cao Sơn đã mạnh dạn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng mua sắm thêm các thiết bị hiện đại phù hợp với vỉa mong và khai thác xuống sâu của Công ty. Nhưng Công ty chúng tôi không đầu tư dàn mỏng, mà đầu tư có chọn lọc và có giới hạn. Có máy khoan như máy Tamrock, xe trọng tải 96 tấn giá đến 12 tỷ một chiếc, chúng tôi vẫn mua.. Bên cạnh đó, Công ty còn áp dụng phương thức thuê thiết bị mới của các hãng nước ngoài, hạn chế chi phí đầu tư lại có thêm thiết bị đáp ứng yêu cầu sản xuất phát triển
    - Điểm nhấn hay là nguyên nhân thành công nữa của Cao Sơn? – Tôi hỏi tiếp.
  Giấm đốc Nguyễn Xuân Lập trả lời ngay:
  - Về việc chăm lo tốt điều kiện làm việc và các mặt đời sống cho người lao động thì doanh nghiệp nào cũng phấn đấu, Cao Sơn cũng gắng hết sức mình để chăm lo cho người lao động. Ngoài việc quan tâm giải quyết việc làm, bố trí sắp xếp hợp lý lao động, cải thiện điều kiện làm việc, trang bị đầy đủ dụng cụ và phương tiện làm việc để cán bộ công nhân làm việc an toàn, vượt năng suất định mức, thu nhập năm sau cao hơn năm trước, năm 2004 lương bình quân 2,7 triệu đồng / tháng thi năm nay đã lên 4,3 triệu đồng. tháng, Cao Sơn đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng các nhà ăn trên khai trường, xây dựng nhà trạm xá 20 giường, xây dựng làng mỏ Cao Sơn xanh – sạch – đẹp. Với phương thức mua nhà trả góp, hiện nay công nhân nào có nhu cầu nhà ở, Công ty đều ưu tiên cho mua ngay. Cao Sơn nay chỉ còn một vài người ở tập thể để chờ nghỉ hưu về quê nữa thôi. Với người lao động hiện giờ, chúng tôi đã xóa hình thức kỷ luật buộc thôi việc. Với người bị kỷ luật nặng, chúng tôi cho học tập chuyển làm việc khác, khi nào biết nhận ra khuyết điểm, biết lấy công chuộc tội, chúng tôi cho làm lại việc cũ. Vì có người lao động chính nuôi cả gia đình, đuổi người ta ra đường thì vợ con, người ta họ sống làm sao nổi. Biết bao bất hạnh sẽ xảy ra!
       Nghe đến điều này tôi định thốt lên:  - Ôi thật nhân ái, nhưng tôi tự kiềm chế được và tiếp lắng nghe các anh trao đổi.
   Có một tình bạn, tình người rất cảm động mà tôi được biết trước đây là anh Trương Công Điểu và nhà thơ Võ Văn Trực.. Hóa ra anh Trương Công Điểu đã làm giám đôc mỏ Cao Sơn từ tháng 11 năm 1975 đến tháng 8 năm 1979. Anh Điểu cùng học với nhà thơ Võ Văn Trực ở Nghệ An trong kháng chiến chống Pháp. Biết bạn mình nhà thơ nghèo không có nhà, anh Điểu cho ngay suất đất 80 mét vuông  tại khu phố Yên Hòa, Cầu Giấy. Thật là tình bạn hơn cả ngàn vàng! Đất mặt phố ô tô đổ cửa ở đó giờ đã là 15 cây vàng một mét vuông. Thì đúng là hơn nghìn cây vàng.
       Tôi là người bị đưa ra khỏi biến chế Nhà nước hai lần nên rất thấm thía việc làm của Lãnh đạo mỏ Cao Sơn. Một lần cách đây hơn 20 năm vì mắc một khuyết điểm nhỏ nhưng tôi vẫn bị đuổi việc, một lần thì chả mắc khuyết gì chỉ vì chỉ trích cấp trên viết kém mà bị buộc thôi việc. Hai lần ấy vợ con tôi bị lấy lại nhà tập thể, bị đẩy ra đường gần như ăn xin. Bỏ hình thức kỷ luật đuổi việc của Cao Sơn có thể sánh với bỏ án tử hình của nước Thụy Điển!
    Trăm nghe không bằng một lần mắt thấy, ba nhà thơ kiêm nhà báo Mai Phương, Hoàng Cát và tôi cùng Phó Văn phòng Công ty Nguyễn Khánh Hoàn leo lên chiếc xe U oát đời mới của Liên Xô ( cũ ) do Việt Nam lắp ráp nhằm hướng khai trường đi lên.
Nguyễn Khánh Hoàn tươi tỉnh nhưng hơi ái ngại bảo: - Chỉ có xe này mới đi được khai trường, còn các xe “ quý phái” khác đều không bò lên nổi.
Nhà thơ Hoàng Cát cười vui: - Bọn này đều là lính chiến thực thụ nên không vấn đề gì.
    Tất cả chúng tôi lên xe. Chiếc U oát ngất ngưỡng leo dốc.
   Núi đá lởm chởm cao ngất trập trùng hiện ra trước mặt. Xe lên đèo rồi đỏ xuống dốc, tôi có cảm giác như là đi du lịch mạo hiểm đang thịnh hành bây giờ. Tận trên các núi cao các loại xe tải, xe ben siêu trường, siêu trọng nối nhau hàng đoàn để chở đất đi đổ, chở than về nhập. Các máy xúc, máy ủi to như cái biệt thự mà trông nhỏ như chiếc ô tô đồ chơi của trẻ con nằm vắt vêo tận lưng chừng núi.  Trông vừa hoang biệt nhưng cũng thơ mộng. Tôi nhớ ngay đến bài hát “Cao Sơn mùa nắng vàng” của nhạc sỹ Đỗ Hòa An mà Cao Sơn coi như Cao Sơn ca của mình, được hai ca sỹ của mỏ là Phương Oanh và Phương Dung hát cho chúng tôi nghe trong buổi giao lưu.hôm trước:
“ Đường lên Cao Sơn mùa thu nắng vàng/ Đường lên cheo leo mây trắng bay trập trùng đỉnh cao/ Có lên mới biết núi cao vực sâu/ Có lên mới thấy thương anh, các anh lái xe trên tầng/ Đường lên Cao Sơn quanh co, nắng mưa gian khó anh đã từng… Yêu anh mấy đèo, em cũng xin trèo/ Yêu anh mấy sông em xin cũng lội …” Bài hát chưa là kiệt tác nhưng giai điệu êm đềm của nó và nhất là hát cho người thợ nên rất truyền cảm và công nhân đều thuộc và hát, hát cho chính mình.
  Đến Cụm sàng than số 3 của Công trường khai thác than 3, tôi gặp và hỏi chuyện ngay chị Đinh Thị Thanh Yến, tổ trưởng tổ vận hành sàng. Một nữ công nhân than hiếm hoi của thời làm than bây giờ. Máy móc hiện đại, công việc nặng nhọc nên các đơn vị khai thác than rất ít sử dụng lao động nữ vào các việc này. Chị em làm những công việc khác nhẹ nhàng hơn.
  - Chị làm ở đây đã lâu chưa, thu nhập thế nào? – Tôi hỏi.
  Chị Yến chưa trả lời vội, chị đưa tay gỡ cái khắn che mặt,để chiếc nón bên cạnh rồi mới hướng vào khách.
 Thợ mỏ vất vả, phụ nữ làm than vất vả, nhưng tôi thấy chị Yến tuy có bị dấu vết nghề nghiệp nhưng không lấp nổi cái vẽ xinh xắn của phái đẹp. Chị cười duyên trả lời rành rọt:
  - Em vào ngành đã lâu rồi nhưng lên Cụm sàng 3 thì mới một năm nay. Chúng em làm 1 ca 6 tiếng đồng hồ.  Một ca sàng được 1 800 tấn than. Lương bọn em hưởng theo sản phẩm. Bình quân thu nhập 1,5 triệu đồng/ tháng, ngoài ra có một ít tiền thưởng thêm.
 - Hai vợ chồng làm than, cộng với lương chồng nữa là 4 triệu đồng / tháng thì gia đình chị cũng đủ sống – Tôi bảo.
  Chị Yến trầm ngâm:
 - Cũng không biết đâu là đủ các bác ạ. Bây giờ đâu chỉ có ăn mà còn nhiều thứ lắm, nào ti vi, tủ lạnh, xe máy, con cái học hành. Chúng em có sao thì dung vậy, tùng tiệm mà sống thôi. Con gái than vất vả lắm anh ơi!
  - Em nói thế là rất chính xác – Tôi gật đầu đồng ý.
   Tôi rất tâm niệm việc này. Vì gặp trong thoáng chốc, hơn nữa mình như là quan sát viên, trong phút giây làm sao để giải thích rành rỏi các loại công việc trên đời. Nhưng thâm tâm tôi muôn kể cho chị Yến và tất cả mọi người nghe, biết rằng không có công việc nào mình làm hết mình vì nó mà không vất vả.
  Tôi nhớ cách đây mấy năm khi tôi viết về nghề múa. Nghề múa có lẽ là nghề rất quý phái, thơm tho, sang trọng nhưng nghệ sỹ múa để có một điệu múa làm mê hoặc khán giả họ cũng đổ mồ hôi, sôi nước mắt không kém một cầu thủ bóng đá lừng danh nào thế giới, có khi còn phải hy sinh hạnh phúc riêng của con người! Nghệ sỹ ưu tú Lê Vy, Nguyễn Thị Thủy Hiệu trưởng trường Múa Cao đẳng Việt Nam là một thí dụ. Tôi viết bài “Lê Vy hiền dịu và tài năng” in trên Tạp chí Thời trang trẻ cũng mấy năm trước; Lê Vy tâm tình với tôi: “ Nghề múa khổ lắm mà anh. Em học múa suốt ngày, suốt tháng. Không có điều kiện học ở nước ngoài, em phải học múa qua băng hình. Học khó nhất là học múa Trung Quốc và Ấn Dộ. Em bị quọe chân nhiều lần. Rôi Lê Vy chỉ cho tôi xem cái bàn chân bị sưng khi tập các động tác múa khó của nước ngoài. Còn chị Thủy từ múa Ba lê đã lên làm cán bộ quản lý, chị sinh chỉ đứa con nhưng bị khiếm khuyết, chồng con dang dở, chị chỉ lấy công việc làm vui! Cuộc đời nó là như thế!
 Dẫu còn nhọc nhằn, vất vả và luôn đối mặt với hiểm nguy nhưng thợ mỏ công bằng mà nói được chăm sóc chu đáo từ nhà ở, miếng ăn, cái mặc, đời sống văn hoa tinh thần và đắc biệt là các thành quả lao động mà họ luôn được bù đáp xứng đáng với công sức. Để làm dược điều này, các thế hệ cán bộ công nhân lao động ngành Than đã nổ lực phấn đấu. Và đặc biệt có một động lực luôn thúc đẩy họ vươn tới đỉnh cao là chính những lời dạy của Bác Hồ kính yêu khi Người nhiều lần về thăm Vùng mỏ cũng như nhiều lần cán bộ, công nhân ngành Than vinh dự được gặp Bác.
  Chúng tôi đi thêm nhiều điểm nữa của khai trường Cao Sơn. Công trường khai thác 3 do Hoàng Văn Dưỡng làm quản đốc ở trên một đỉnh núi khá cheo leo. Anh mới ngoài 40 nhưng trông rất trẻ. Hai vợ chồng cùng làm ngành than. Chị vợ ở bên Cọc Sáu. Anh đã có con học đại học ở Hà Nội. Trông trẻ thế nhưng anh đã có 25 năm trong nghề than. Phó văn phòng Nguyễn Khánh Hoàn cho hay: - Anh Dưỡng trước đây là Bí thư Đoàn Thanh niên Công ty, hết tuổi Đoàn anh sang làm cán bộ Đảng ủy Công ty, rồi tình nguyện lên mỏ.- Một con người rất lăn lộn – Tôi thầm nghĩ như thế. Anh Dưỡng báo cáo cho Đoàn nghe: - Công trường khai thác 3 có 4 cụm sàng, Cụm sàng 3 chúng tôi vừa mới đi qua cũng ở trong Công trường của anh. Tất cả có 241 cán bộ, công nhân. Quý I / 2008 đã làm được 1 triệu tấn than, vượt mức 13% kế hoạch Công ty giao. Đơn vị anh cũng là đơn vị điểm Cao Sơn.
 Chúng tôi đến Phân xưởng Vận tải 3. Cao Sơn có đến 8 Phân xưởng Vận tải như thế này. Anh Vương Văn Biên là quản đốc cũng cỡ tuổi như anh Dưỡng, cũng năng động, nhiệt tình như thế. Phân xưởng 1 có 117 cán bộ công nhân, có 13 xe tải lớn, trong đó có 2 chiếc Cát 96 tấn, mỗi chiếc trị giá 12 tỷ đồng. Nhiệm vụ của Phấn xưởng là vận chuyển đất và than. Năm 2007 đã vận chuyển được: 24 500 000 tấn/ km. Năm 2008 kế hoạch Công ty giao vận chuyển là 30 triệu tấn/km. Trong quý I / 2008 đã thực hiện gần được 1/3 kế hoạch rồi. Đơn vị luôn được Công ty biểu dương.
   - Trong điều kiện khó khăn như thế này vì sao Phân xưởng hoàn thành tốt công việc? – Tôi hỏi.
Vương Văn Biên trả lời ngay:
  - Anh chị em ở đây ai cũng yêu nghề. Sự thật như vậy. Quản đốc, công nhân hiểu nhau, cùng chung sức, chung lòng công tác. Ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Quản đốc sắp xếp, bố trí hợp lý công việc, cán bộ, công nhân tự vận chuyển, tự sửa chữa thiết bị, tự báo quản. Lái xe, thợ sửa chữa tiếp cận kỹ thuật mới, làm chủ trang thiết bị để làm có năng suất cao. Nghe anh Biên báo cáo tôi nhớ ngay lời anh Nguyễn Trọng Bình, Chánh Văn phòng Công ty nói: - Bây giờ xe máy hiện đại, ngồi trong xe ben như ngồi trong phòng lạnh, vì lương rất cao nên cán bộ công nhân rất chăm chút công việc của mình. Họ tự giác bảo quản xe máy, dụng cụ lao động, làm việc năng suất thì hưởng lương cao nên ai ai cũng nhiệt tình hăm hở. Người quản lý nhàn nhã hơn. Tệ nạn ăn cắp cũng không còn nữa. Đấy là sự thật mà cũng là điều chính xác nhất.
       Rời Phân xưởng Vận tải 3, chúng tôi đến Công trường khai thác 2.  Trụ sở Công trường là một tòa nhà 3 tầng to lớn nằm trên đỉnh đèo, kiểu dáng do Liên Xô xây dựng từ thập kỷ 70. Quản đốc Công trường là Vũ Văn Toán người mảnh mai nhưng rất vui tính. Chắc anh tiếp xúc nhiều nhà báo, nhà văn, nghệ sỹ cùng với bản tính hài hước nữa nên câu chuyện phỏng vấn giữa khách và chủ trở thành câu chuyện vui trong ngày.
  Vũ Văn Toán vào ngành than từ năm 1977, có bằng đại học mỏ, vợ cũng làm ngành than, cũng ở bên mỏ Cọc Sáu như vợ anh Dưỡng, cũng có con học đại học ở Hà Nội. Công trường 2 có 300 cán bộ công nhân, nữ 15 người .Công trường quản lý 13 máy xúc, 8 máy khoan.. Máy nào cũng giá tiền trên chục tỷ đồng. Khó khăn của Công trường 2 là cung độ vận chuyển xa, khai thác xuống sâu, điều kiện làm việc gian khổ hơn trước. Nhưng năm 2007 đã thực hiện được 1,5 triệu m3 than, vận chuyển đất 11 triệu m3, khoan 330 000m. Tất cả dều vượt kế hoạch Công ty giao. Năm 2008 kế hoạch giao cũng giống năm 2007, mới quý I đã thực hiên được 1/3 kế hoạch.
Lương bình quân toàn Công trường là gần 4 triệu đồng/ tháng. Lương bình quân như thế cũng đã khá lắm rồi.
  Buổi trưa chúng tôi được ăn cơm trưa tại mỏ. Đúng là bữa cơm thường trong lòng mỏ. Suất ăn trưa này Công ty cho công nhân. Anh Nguyễn Khánh Hoàn cho biết: - Trước đây một suất ăn 10 000 đồng, nhưng công nhân ăn không hết, công ty trích lại 2 000 đồng để phụ vào lương của công nhân, giờ chỉ ăn 8 000 đồng cũng đủ tiêu chuẩn.
 Bữa trưa có các món: thịt, chả rán, rau luộc, rau xào, canh.  Cảnh ăn tập thể giống như thập kỷ 70 thé kỷ trước, nhưng chất lượng ăn hơn nhiều. Công nhân ăn ngon miệng đã đành, chúng tôi cũng rất ngon miệng. Nhà thơ Hoàng Cát thường ngày chỉ lưng bát, giờ cũng xơi đến ba bát cơm đầy. Nhìn anh chị em công nhân và  Đoàn ăn, tôi rất cảm kích! Công nhân được chăm sóc như thế này tuy chưa phải là đãi ngộ gì ghê gớm lắm nhưng cũng là đáng quý lắm rồi!
   Hôm sau, chúng tôi đi thăm làng mỏ. Nói làng cho đầm ấm nhưng thực ra là phố mỏ. Nhà cao tầng dựng lên san sát.  Các kiểu dáng mới rất hiện đại. Tiện nghi vật dụng trong mỗi gia đình rất là mô đéc. Cao Sơn đã chi một số tiền lớn thuê xe đổ đất lấp biển để chia lô, phân đất cho cán bộ công nhân viên. Ai nhiều tiền thì mua các lô đất hai ba trăm mét vuông, ai ít tiền thì mua lô ba bốn chục mét vuông.  Nhiều lô đất đã được phân ranh giới chờ người đến xây dựng. Làng cũ của mỏ cách trụ sở Công ty độ cây số, nằm cạnh vịnh Bái Tử Long thơ mộng. Chúng tôi đến vào giờ chưa tan tầm nên làng vắng lặng. Đợi công nhân tan ca, chúng tôi ngồi quán nước cạnh đường lớn dành cho xe chở than về cảng. Cô gái bán quán là vợ của công nhân lái máy húc.Anh chồng đi làm chưa về, chị vợ tưởng chúng tôi là những người đi mua than nên nói năng bộc tuệch kể cả kêu than.
  Tôi vừa nửa đùa, nửa thật: - Nhà chị rộng một trăm mét vuông, có ti vi, tủ lạnh, máy điều hòa, xe fu trờ, chúng tôi mong còn chưa được đấy.
  Cô bán quán kêu lên: - Ối dào, mấy thứ ấy bây giờ ai chả có, các bác còn ô tô, biệt thự nữa là, chúng em công nhân vất vả, ở đây toàn bụi than mà thôi.
Tôi cười: - Em còn trẻ, chỉ có một mình chồng đi làm nuôi cả gia đình mà sắm sửa được như thế này là quá giỏi rồi. Không chỉ anh mà thủ trưởng cấp cao vời vợi của anh trước đây đến 75 tuổi mới sắm nổi cái điều hòa nhiệt độ đó.
 Cô ta lắc đâu: - Ngày xưa khác, bây giờ khác, nay máy điều hòa rẻ như bùn.
 Tôi nói lại: - Thủ trưởng của tôi mới mua cách đây 2 năm thôi.
Hình như biết tôi nói thật cô ta im lặng và trả lời những câu hỏi của anh em.
Nhà của cô Mười ( lúc sau thăm các nhà công nhân khác tôi mới biết cô ta tên Mười ) đúng 100 mét vuông, thuộc diện nhà Công ty bán trả góp. Cô Mười trả một tháng 700 000 đồng theo tỷ lệ 15%. Vậy lương chồng cô là 4 000 000 đồng/ tháng. Công ty Cao Sơn cho công nhân mua nhà trả góp với số tiền theo tỷ lệ lương được hưởng. Ai lương cao trả cao, lương thấp trả thấp. Thật là ưu ái.
 Nhà anh Vũ Đình Hướng, quản đốc Phân xưởng Vận tải 1 ở cạnh nhà cô Mười cũng trả góp như vậy. Nhà anh Hướng 70 mét vuông giá 82 triệu đồng, anh Hướng lương cao hơn chồng cô Mười nên trả 1,5 triệu đồng/ tháng. Anh Hướng trả khoảng 3 năm nữa là hết nợ. Anh có một cái nhà khang trang đẹp đẽ, nhiều người mơ không được. Không chỉ cô Mười, anh Hướng mà ngay tân giám đốc Nguyễn Xuân Lập cũng mua nhà trả góp và ở dãy nhà trước mặt nhà cô Mười. Anh mới chuyển về nhà mới cách đây ít tháng.
   Đới sống công nhân mỏ bây giờ thật đổi thay, không so với thời trước, so ngay cái thời bao cấp thập kỷ 90 cũng đã khác xa lắm rồi. Nhưng thế hệ như cô Mười, anh Hướng họ đòi hỏi hơn nữa là đúng. Vì cuộc sống ngày một thay đổi. Nêu Cao Sơn ăn nên làm ra hơn hôm nay thì mọi mong muốn của người thợ mỏ sẽ là cầu được ước thấy.
  Làm như Cao Sơn bây giờ cũng đã xứng danh anh hùng giữa thanh thiên rồi!
                                        Cẩm Phả - Hà Nội 3 -2008
                                                        Đ - H
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập14
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm13
  • Hôm nay8,233
  • Tháng hiện tại352,473
  • Tổng lượt truy cập3,954,934
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây