Tập Cận Bình đã thống trị Trung Quốc như thế nào? (P2)

Thứ năm - 29/08/2019 20:17
Sự biến hóa của ông Tập đến từ nhiều yếu tố. Đà thăng tiến của hai đối thủ của ông, Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh, và Chu Vĩnh Khang, Bộ trưởng Bộ Công an, đã gióng hồi chuông báo động các lãnh đạo Đảng. Dưới thời Hồ Cẩm Đào, họ tỏ ra thận trọng trên nhiều mặt. Nay, với sự ủng hộ của ông Tập, các lãnh đạo quyết tâm loại bỏ Bạc và Chu.
Tập Cận Bình đã thống trị Trung Quốc như thế nào? (P2)

Tập Cận Bình đã thống trị Trung Quốc như thế nào? (P2)

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Richard McGregor, “Party Man: Xi Jinping’s Quest to Dominate China”, Foreign Affairs, September/October 2019.

Biên dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nỗi ám ảnh dai dẳng

Sự biến hóa của ông Tập đến từ nhiều yếu tố. Đà thăng tiến của hai đối thủ của ông, Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh, và Chu Vĩnh Khang, Bộ trưởng Bộ Công an, đã gióng hồi chuông báo động các lãnh đạo Đảng. Dưới thời Hồ Cẩm Đào, họ tỏ ra thận trọng trên nhiều mặt. Nay, với sự ủng hộ của ông Tập, các lãnh đạo quyết tâm loại bỏ Bạc và Chu. Hai ông này bị lật đổ sau một chuỗi dài các cuộc điều tra, phần lớn là về tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Sự sụp đổ của họ tạo nên một cơn địa chấn chính trị ở Trung Quốc. Ông Bạc là người con trai đầy cuốn hút của một anh hùng cách mạng (Bạc Nhất Ba), và là người chạy đua công khai cho một ghế lãnh đạo cấp cao ở trung ương. Còn ông Chu, một Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị cho đến cuối năm 2012, tập trung được quyền lực to lớn từ các chức vụ của ông trong lực lượng an ninh mật và ngành năng lượng (ông từng là Bộ trưởng Đất đai và Tài nguyên). Vụ bắt giữ hai ông này vào năm 2012 và 2013 đã công khai các tội danh và đời sống tình dục trụy lạc của họ. Sau đó, truyền thông nhà nước, dẫn lời các quan chức cấp cao, cho biết cặp đôi này đã âm mưu tiến hành một cuộc đảo chính nội bộ nhằm ngăn ông Tập bước lên nắm quyền. Trong nội bộ Đảng, những hành động chính trị sai trái như vậy còn tệ hơn cả tham nhũng đơn thuần.

Ông Tập cũng chú ý đến sự suy thoái ý thức hệ của Đảng, đặc trưng bởi tình trạng hối lộ tràn lan và sự trỗi dậy của các “lãnh địa” cá nhân của các nhà lãnh đạo ở cả các công ty nhà nước và tư nhân. Ở nước ngoài, ông theo dõi các cuộc “cách mạng màu” ở châu Âu và biểu tình đường phố ở Trung Đông lật đổ các chính quyền tưởng chừng không thể bị đánh bại. Song ông Tập xem báo động lớn nhất là từ sự sụp đổ của Liên Xô, ông bị khiếp sợ bởi cách mà Đảng Cộng sản Liên Xô gần như bốc hơi chỉ trong vòng một đêm. “Một đảng lớn đã biến mất, chỉ như vậy đấy”, ông nói trong một bài phát biểu hồi năm 2012. “Nói về quy mô, Đảng Cộng sản Liên Xô còn có nhiều đảng viên hơn chúng ta, song không có người nào đủ cứng rắn để đứng lên và chống chọi”. Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ sự sụp đổ của Liên Xô ngay sau khi sự kiện này xảy ra. Gần một phần tư thế kỷ sau, ông Tập có đủ lo lắng về tình trạng của Đảng mình để buộc mọi người từ các lãnh đạo cao cấp cho đến các công chức bình thường quay lại lớp học và học bài học của Liên Xô, thêm một lần nữa. “Chối bỏ lịch sử của Liên Xô, chối bỏ Lenin và Stalin, và chối bỏ mọi điều khác chính là đoạn tuyệt lịch sử”, ông nói trong một bài phát biểu khác vào năm 2012. “Điều này xáo trộn tư tưởng của chúng ta và làm suy yếu tổ chức Đảng ở mọi cấp bậc”

Cạnh tranh quyền lãnh đạo và thoái trào ý thức hệ đưa ông Tập vào một chuỗi các hành động quyết liệt. Trong vòng 200 ngày tại nhiệm đầu tiên, ông bao quát một phạm vi ấn tượng các vấn đề chính sách khác nhau và đưa ra các điều chỉnh ở một tốc độ đáng kinh ngạc. Chỉ vài tuần, ông đã gắn một thương hiệu – “Giấc mộng Trung Hoa – cho chính quyền của mình, ban hành các luật lệ mới khắt khe hơn nhằm giám sát hành vi của các quan chức, quyết định những tư tưởng nào được và không được thảo luận, đàn áp một tờ báo tự do ở miền nam vì những lời kêu gọi cho “chủ nghĩa lập hiến”, một khái niệm “bẩn thỉu” trong một nhà nước độc đảng. Ông cũng bắt đầu tống giam những người chỉ trích Đảng. Các luật sư vận động nhân quyền, những người đã thành công trong việc tạo ra một không gian nhỏ bảo vệ quyền công dân, lần lượt bị bắt giữ bởi cơ quan an ninh quốc gia. Các quan chức thẩm vấn hoặc bỏ tù khoảng 250 người trong số các luật sư này, trong một chiến dịch bài bản. Những người bị buộc tội phải ngồi trong trại giam mà không hề được xét xử công bằng, đôi khi trong nhiều năm. Người gần đây nhất trong số các luật sư nổi bật nhất, ông Vương Toàn Chương (Wang Quanzhang), đã không chính thức bị kết án cho đến tận tháng Một năm nay, sau 4 năm tạm giam.

Ông Tập giữ vững tốc độ ấn tượng này trong suốt năm 2013. Tháng 9 năm ấy, ông công bố Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), một sáng kiến sẽ cụ thể hóa kế hoạch của Bắc Kinh nhằm xây dựng và kiểm soát những con đường cả trên bộ và trên biển nối liền lục địa Á-Âu với Ấn Độ Dương tới tận châu Âu, từ đó đưa Trung Quốc trở thành một trung tâm kinh doanh và công nghệ. Ông Tập thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB) bất chấp sự phản đối của Mỹ. Ông đặt mục tiêu đến cuối năm 2020 sẽ xóa nghèo thành công ở Trung Quốc, đúng dịp kỷ niệm 100 năm thành lập ĐCSTQ. Ông làm nóng vấn đề Đài Loan, gọi hòn đảo này là “một vấn đề chính trị không thể trì hoãn suốt nhiều thế hệ”. Ngay sau đó, Trung Quốc thực hiện một kế hoạch đã có từ lâu nhằm xây dựng các căn cứ quân sự lớn ở Biển Đông.

Quan trọng hơn hết, ông Tập đã khởi động cuộc chiến chống tham nhũng, lãnh đạo bởi ông Vương Kỳ Sơn, một trong những người cứng rắn và có năng lực nhất trong số các lãnh đạo của thế hệ ông. Quy mô của cuộc thanh trừng sau đó là khó có thể tưởng tượng: từ cuối 2012, khi chiến dịch bắt đầu, các cơ quan chức năng đã điều tra hơn 2,7 triệu quan chức và trừng phạt hơn 1,5 triệu người trong số này. Họ bao gồm 7 thành viên Bộ Chính Trị và Chính phủ, và khoảng 24 tướng lĩnh cấp cao. Hai quan chức cao cấp đã bị tuyên án tử hình. ĐCSTQ có hơn 90 triệu Đảng viên, nếu trừ nông dân, người già, và người về hưu, phần lớn trong số họ không bị chiến dịch nhắm tới, thì cuộc thanh trừng này đã xóa sạch cả một thế hệ. Quy mô này đã bác bỏ luận điểm cho rằng chiến dịch chỉ đơn thuần là một cuộc thanh trừng chính trị dưới một vỏ bọc khác. Dĩ nhiên, chiến dịch có nhắm đến một số đối thủ của ông Tập, nhưng nó đã vượt xa ra ngoài danh sách kẻ thù của ông.

Để minh họa cho tính chất không khoan nhượng của chiến dịch chống tham nhũng, hãy xem xét trường hợp của Trương Dương (Zhang Yang), một trong những tướng lĩnh kì cựu nhất và là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của quân đội, cơ quan chịu trách nhiệm đảm bảo sự trung thành ý thức hệ của quân đội. Trong mắt công chúng, ông Trương là một công chức không có gì đặc sắc, được nhận biết trong các bức hình công vụ chỉ nhờ vào bộ quân phục của ông, khuôn mặt đầy đặn, cùng mái tóc đen bóng vuốt keo. Thế nhưng, ở trong hệ thống, ông là một người vô cùng quyền lực. Năm 2017, người ta tìm thấy ông Trương treo cổ trên trần ngôi biệt thự của ông ở Quảng Châu, bên kia biên giới với Hồng Kông. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy vụ tự tử của ông có liên quan tới tham nhũng đến từ các bài báo đăng ngay sau cái chết của ông. Mặc cho hàng thập niên cống hiến và chức vụ cao cấp của mình, Trương Dương cũng không nhận được một bài cáo phó đàng hoàng. Tờ báo ngôn luận của quân đội gọi ông là kẻ “vô đạo đức” và gọi cái chết của ông là “một cách đầy hổ thẹn để kết thúc cuộc đời” và là “một quyết định xấu nhằm tránh bị trừng phạt”. Cuộc điều tra của Đảng nhằm vào Trương không dừng lại sau khi ông này được chôn cất. Chỉ gần một năm sau, vào cuối năm 2018, ông bị khai trừ khỏi Đảng – biện pháp quen thuộc của Đảng nhằm kết luận một quan chức có tội.

Nỗ lực của ông Tập nhằm tập trung quyền lực lên đến đỉnh điểm vào cuối nhiệm kì đầu, năm 2017. Theo truyền thống của chính trị cấp cao Trung Quốc, đây phải là lúc ông Tập công bố người sẽ kế vị mình vào năm 2022. Thay vào đó, ông lại bãi bỏ quy định giới hạn hai nhiệm kỳ 5 năm Chủ tịch nước, trên thực tế biến ông trở thành một lãnh đạo trọn đời.

Không có gì tồn tại mãi mãi

Ông Tập đã lựa chọn điều hành Trung Quốc như một nhà quản trị khủng hoảng. Điều này có thể giúp ông trong quan hệ đối địch tức thời với Mỹ. Song, kẻ thù của ông ở Trung Quốc và hải ngoại ngày một đông. Hàng ngàn gia đình Trung Quốc giàu có và các tay chân thân tín của họ, những người phải chứng kiến cuộc sống giàu sang và nhiều đặc quyền của mình bị phá hủy hoàn toàn bởi cuộc chiến chống tham nhũng, sẽ căm giận ông Tập trong nhiều thế hệ. Giới kỹ trị tinh hoa cảm thấy bị phản bội vì ông Tập thâu tóm quyền lực, chặn đứng cuộc cải cách tư pháp đang lên, và nâng đỡ cho kinh tế nhà nước. Cho đến gần đây, ông Tập ít khi nào lên tiếng về thành phần kinh tế tư nhân, khu vực đem lại khoảng 70% GDP của đất nước và một tỉ lệ thậm chí lớn hơn về việc làm. Sự thay đổi luận điệu của ông hồi cuối năm ngoái, khi ông mời một nhóm các doanh nhân đến buổi họp khích lệ tinh thần tại Đại Lễ đường Nhân Dân, là một dấu hiệu hiếm có cho thấy sự điều chỉnh. Trong ngắn hạn, ông Tập được thúc đẩy bởi bầu không khí “cùng đoàn kết quanh cờ tổ quốc” từ tác động của thương chiến Mỹ-Trung và luận điệu thù địch thất thường của Tổng thống Donald Trump. Song không có một vấn đề nào mà ông Tập đang đối mặt sẽ sớm biến mất.

Ở hải ngoại, đà phản ứng chống lại Trung Quốc đang lên cao. Hoa Kỳ đang đối đầu với Trung Quốc trên gần như mọi lĩnh vực từ thương mại cho đến xây dựng quân đội. Đức, ngược lại, không tập trung vào sức mạnh quân sự mà cạnh tranh về kỹ thuật công nghiệp. Australia, giống như nhiều nước khác ở châu Á, sợ phải tự bảo vệ mình trong một khu vực không còn được Mỹ bảo đảm an ninh. Nhật Bản lo lắng rằng Trung Quốc không chỉ muốn thống trị vùng biển quanh mình mà còn giải quyết cả những bất đồng lịch sử. Đài Loan, hòn đảo tự trị trong nhiều thập niên qua, lo sợ bị nuốt chửng bởi đại lục. Các nước Đông Nam Á thì lo sợ bị chèn ép. Đối với Canada, tiếng chuông báo động đến vào cuối tháng 12 năm ngoái, khi cảnh sát Vancouver bắt giữ một quản lý cấp cao của gã khổng lồ công nghệ Huawei để dẫn độ theo yêu cầu của Mỹ, để rồi chứng kiến Trung Quốc bắt hai công dân Canada và giữ họ làm “con tin ảo”. Trong khi đó ở Hồng Kông, hàng triệu người cùng tuần hành hồi tháng 6 nhằm chống lại một dự luật sẽ cho phép dẫn độ tội phạm đến đại lục, “kiểm tra” sự kiên quyết của ông Tập và sự sẵn sàng cũng như khả năng thỏa hiệp của ông.

Ngay cả Mao còn có đối thủ chính trị. Ông Tập cho đến nay đã đảm bảo ông không có đối thủ nào. Có những lý do thuyết phục để các quan chức và học giả Trung Quốc tin rằng sự dàn trải quá mức của ông Tập sẽ gây khó cho ông trước Đại hội Đảng cuối năm 2022, đặc biệt nếu kinh tế Trung Quốc bất ổn. Cho tới lúc đó, các đối thủ tiềm năng có thể sẽ sẵn sàng đánh liều công khai tham vọng của họ. Ông Tập có thể tiếp tục con đường mà ông đã đi một cách hiệu quả và loại bỏ các đối thủ. Ông có thể tận dụng những điểm yếu ở trong nước và các cuộc tranh đấu của Trung Quốc ở nước ngoài để biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền của ông. Hoặc, có thể cuối cùng ông sẽ phải thừa nhận rằng ông, cũng như mọi người, không bất tử và sẽ đề ra một lộ trình cụ thể để bước xuống.

Tập Cận Bình đã thể hiện sự táo bạo và khéo léo đáng kể trong việc uốn nắn hệ thống khổng lồ của Đảng nhằm phục vụ cho ý chí của mình. Tuy nhiên, dù sớm hay muộn, như lịch sử gần đây của Trung Quốc cho thấy, hệ thống sẽ đuổi kịp ông. Câu hỏi chỉ là khi nào mà thôi./.
 

Cuộc cách mạng hướng tới sự công bằng tiếp theo

Print Friendly, PDF & Email

economic-justice

Nguồn: Robert J. Shiller, “The Coming Anti-National Revolution,” Project Syndicate, 19/09/2016.

Biên dịch: Phan Thu Hiền | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Trong nhiều thế kỷ qua, thế giới đã trải qua một chuỗi các cuộc cách mạng tri thức chống lại sự áp bức dưới nhiều hình thức. Chúng diễn ra trong tâm trí con người và lan rộng – cuối cùng đến gần như khắp thế giới – không qua chiến tranh (vốn có khuynh hướng bao gồm nhiều nguyên nhân khác nhau), mà qua ngôn ngữ và công nghệ truyền thông. Cuối cùng, không như những nguyên nhân của chiến tranh, những ý tưởng mà chúng thúc đẩy trở nên không thể tranh cãi.

Tôi nghĩ cuộc cách mạng tiếp theo như vậy, rất có thể diễn ra vào một lúc nào đó trong thế kỷ 21, sẽ thách thức những tác động kinh tế của các quốc gia-dân tộc. Nó sẽ tập trung vào sự bất công bắt nguồn từ thực tế là một số người sinh ra ở những nước nghèo còn những người khác thì sinh ra ở những nước nước giàu, một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Khi có nhiều người hơn làm việc cho các công ty đa quốc gia và gặp gỡ và hiểu biết hơn về những người đến từ những đất nước khác, cảm quan của chúng ta về sự công bằng đang bị ảnh hưởng.

Điều này không phải là chưa có tiền lệ. Trong cuốn 1688: The First Modern Revolution (1688: Cuộc cách mạng hiện đại đầu tiên), sử gia Steven Pincus đã lập luận thuyết phục rằng cái gọi là “Cách mạng Vinh quang” được hiểu đúng nhất không phải là việc Quốc hội Anh lật đổ một vị vua Công giáo (James II), mà nên được hiểu là sự khởi đầu của một cuộc cách mạng thế giới giành công bằng. Đừng nghĩ đến chiến trận. Thay vào đó, hãy nghĩ về những quán cà phê với những tờ báo được chia sẻ miễn phí vốn trở nên phổ biến khoảng thời gian đó – những địa điểm dành cho sự trao đổi thông tin phức tạp. Thậm chí, Cách mạng Vinh quang đã đánh dấu rõ ràng sự khởi đầu thừa nhận khắp thế giới về tính chính danh của một nhóm người không chia sẻ sự “thống nhất tư tưởng” mà một vị vua nhiều quyền lực đòi hỏi.

Cuốn sách nhỏ có nhan đề Common Sense (Lẽ thông thường) của Thomas Painetác phẩm bán rất chạy ở Mười ba Thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ sau khi được xuất bản vào tháng 1 năm 1776, đánh dấu một cuộc cách mạng khác, khác với cuộc Chiến tranh Cách mạng chống lại Anh nổ ra vào năm sau đó (và có nhiều nguyên nhân). Tầm ảnh hưởng của Common Sense là vô hạn, bởi vì nó không chỉ được bán ra mà còn được đọc to ở nhà thờ và những buổi hội họp. Quan niệm rằng vì lý do nào đó mà những bậc quân vương thế tập ưu việt hơn chúng ta về mặt tinh thần đã bị kiên quyết phản đối. Phần lớn thế giới ngày nay, bao gồm cả nước Anh, cũng đồng ý với điều đó.

Điều tương tự cũng có thể nói là đúng với việc bãi bỏ dần chế độ nô lệ, vốn đạt được gần như không qua chiến tranh, mà qua nhận thức phổ biến mới xuất hiện về sự tàn ác và bất công của nó. Các cuộc nổi dậy năm 1848 trên khắp châu Âu thực chất là một cuộc biểu tình chống lại các đạo luật bầu cử chỉ giới hạn quyền bỏ phiếu trong một nhóm thiểu số nam giới: giới điền chủ hoặc quý tộc. Quyền bầu cử cho phụ nữ đến sau đó không lâu. Trong thế kỷ 20 và 21, chúng ta đã chứng kiến dân quyền được mở rộng đến các nhóm thiểu số về chủng tộc và giới tính.

Tất cả các cuộc “cách mạng công lý” trong quá khứ đều bắt nguồn từ truyền thông được cải thiện. Áp bức phát triển mạnh ở những nơi xa xôi, nơi ta không thể gặp hoặc nhìn thấy những người chịu áp bức.

Cuộc cách mạng tiếp theo sẽ không xóa bỏ những hệ quả của việc người ta sinh ra ở đâu, nhưng những đặc quyền của việc là công dân nước nào sẽ bị thách thức. Trong khi sự trỗi dậy của thái độ bài người nhập cư trên khắp thế giới ngày nay dường như ám chỉ điều ngược lại, cảm quan về sự bất công sẽ tăng lên khi truyền thông tiếp tục phát triển. Cuối cùng, sự thừa nhận cái sai sẽ dẫn đến những thay đổi lớn.

Hiện nay, sự thừa nhận này vẫn vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ những tình cảm yêu nước vốn bắt nguồn từ một khế ước xã hội giữa những công dân đã đóng thuế trong nhiều năm hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự để xây dựng hay bảo vệ những điều mà họ thấy chỉ thuộc về riêng họ mà thôi. Cho phép nhập cư không hạn chế dường như đã phá vỡ khế ước này.

Nhưng những bước quan trọng nhất để giải quyết sự bất công về nơi sinh có thể sẽ không nhắm tới sự di cư. Thay vào đó, chúng sẽ tập trung vào đẩy mạnh tự do kinh tế.

Năm 1948, “định lý cân bằng giá yếu tố sản xuất” (factor price equalization theorem) của Paul A. Samuelson đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng trong điều kiện tự do thương mại không giới hạn và không có chi phí vận chuyển (cùng với những giả định lý tưởng hóa khác), các lực lượng thị trường sẽ cân bằng giá của mọi yếu tố sản xuất, bao gồm tiền lương cho bất kỳ dạng lao động chuẩn hóa nào, trên khắp thế giới. Trong một thế giới hoàn hảo, con người không phải đến một đất nước khác để có thu nhập cao hơn. Cuối cùng, họ chỉ cần có khả năng tham gia vào sản xuất sản phẩm có thể bán trên thị trường quốc tế.

Khi công nghệ làm giảm chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc tới gần điểm biến mất, việc đạt được sự cân bằng này đang ngày càng khả thi hơn. Nhưng điều đó đòi hỏi phải loại bỏ những rào cản cũ và ngăn chặn sự xuất hiện của những rào cản mới.

Các hiệp định thương mại tự do đang được thảo luận gần đây, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership – TPP) và Hiệp định Thương mại Tự do xuyên Đại Tây Dương (Transatlantic Trade and Investment Partnership – TTIP), đã bị đình trệ vì nỗ lực của một số nhóm lợi ích nhằm bẻ cong chúng cho mục đích của họ. Tuy nhiên, cuối cùng chúng ta cần – và có thể sẽ – đạt được những hiệp định thậm chí còn tốt hơn thế.

Để đạt được sự cân bằng giá yếu tố sản xuất, con người cần nền tảng ổn định cho một nghề nghiệp thực sự suốt đời gắn với một đất nước nơi mà họ không cư trú. Chúng ta cũng cần bảo vệ những người thua thiệt bởi thương mại quốc tế trong các quốc gia-dân tộc hiện có. Hỗ trợ Điều chỉnh Thương mại (Trade Adjustment Assistance – TAA) bắt nguồn tại Mỹ từ năm 1974. Canada đã thử nghiệm Dự án Hỗ trợ Thu nhập vào năm 1995. Quỹ Điều chỉnh Toàn cầu hoá châu Âu, bắt đầu năm 2006, có ngân sách hàng năm khiêm tốn ở mức 150 triệu EUR (168,6 triệu USD). Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đề xuất mở rộng chương trình TAA. Tuy nhiên, cho đến nay, ý nghĩa của điều này vẫn chỉ ở mức những thử nghiệm hay đề xuất.

Cuối cùng, cuộc cách mạng tiếp theo rất có thể sẽ bắt nguồn từ những tương tác hàng ngày trên màn hình máy tính với những người nước ngoài mà chúng ta có thể thấy họ thông minh và tử tế – những người ngẫu nhiên sống trong nghèo đói mà không phải do lựa chọn của họ. Điều này sẽ dẫn đến những hiệp định thương mại tốt hơn, dựa trên giả định về sự phát triển cuối cùng những mức bảo hiểm xã hội lớn hơn nhằm bảo vệ người dân trong một đất nước khi chuyển đổi sang một nền kinh tế toàn cầu công bằng hơn.

Robert J. Shiller, chủ nhân giải Nobel Kinh tế năm 2013, là giáo sư ngành kinh tế học tại Đại học Yale và là đồng tác giả của Chỉ số Case-Shiller về giá cả nhà ở tại Mỹ.

Tại sao Trump cần giải thích chính sách Trung Quốc cho người dân Mỹ?

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Min Xinpei, “The US Needs to Talk About China”, Project Syndicate, 22/07/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

Trong tất cả những thay đổi chính sách đối ngoại Mỹ mà chính quyền Tổng thống Donald Trump đã thực hiện, thay đổi hệ trọng nhất là việc áp dụng một lập trường mang tính đối đầu với Trung Quốc. Cách tiếp cận của Trump đã thay thế cho một chính sách hợp tác kéo dài hàng thập niên, không chỉ dẫn đến một cuộc chiến tranh lạnh về kinh tế giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới mà còn làm dấy lên nỗi ám ảnh về xung đột vũ trang ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan.

Trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống, Trump đã gán cho Trung Quốc tên gọi “đối thủ” cạnh tranh chiến lược và “cường quốc đối địch”. Nhưng đó không chỉ là quan điểm của Trump: đối với giới chức an ninh quốc gia Hoa Kỳ và các nghị sĩ hàng đầu của Đảng Cộng hòa – cũng như một số nghị sĩ Đảng Dân chủ – Trung Quốc là mối đe dọa lâu dài nghiêm trọng nhất đối với vị thế vượt trội toàn cầu và lợi ích sống còn của nước Mỹ.

Địa chính trị là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái nhanh chóng của quan hệ Mỹ-Trung trong hai năm qua, và cuộc chiến thương mại của Trump phải được xem xét trong bối cảnh này. Thuế quan của Mỹ có thể tập trung vào mục tiêu làm suy yếu tiềm năng kinh tế lâu dài của Trung Quốc, nhưng động lực cơ bản là làm suy yếu vai trò đối thủ chiến lược của nước này.

Điều này là rõ ràng từ thực tế rằng bất chấp các biện minh kinh tế của Trump – bảo vệ tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp Mỹ và điều chỉnh sự mất cân bằng thương mại song phương khổng lồ – thì các biện pháp thuế quan của ông sẽ có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Mỹ vì chúng làm đổ vỡ mối quan hệ kinh tế được xây dựng hơn bốn thập niên qua. Xét về bản chất, chính sách Trung Quốc của Mỹ đã trở nên hoàn toàn thù địch.

Sự thay đổi này đã gây báo động cho một số học giả nghiên cứu Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách giàu kinh nghiệm từ các chính quyền trước. Trong một bức thư ngỏ, gần 100 người trong số họ – bao gồm cả thành viên Đảng Cộng hòa và Dân chủ, cũng như nhiều người hay chỉ trích chính sách và hành vi của Trung Quốc – gần đây đã kêu gọi Trump không coi Trung Quốc là kẻ thù.

Công chúng Mỹ dường như phần lớn đồng ý. Chắc chắn, có một ác cảm lan rộng đối với Trung Quốc trên khắp Hoa Kỳ: theo khảo sát gần đây nhất của Trung tâm Nghiên cứu Pew về vấn đề này (được thực hiện vào tháng 8 năm 2018), chỉ có 38% người Mỹ nhìn nhận tích cực về Trung Quốc, trong khi 47% có quan điểm tiêu cực. Nhưng chỉ có 29% số người được hỏi cho rằng sức mạnh quân sự của Trung Quốc là một nguyên nhân gây lo ngại. Một phần lớn hơn nhiều – 58% – lo lắng về sức mạnh kinh tế của nước này. Điều này cho thấy, trong mắt của hầu hết người Mỹ, mục tiêu chính của quan hệ với Trung Quốc là bảo vệ sinh kế của họ, chứ không phải là để bắt đầu một cuộc đối đầu địa chính trị.

Tuy nhiên, một cuộc đối đầu địa chính trị dường như chính là những gì chính quyền Trump đang muốn tạo ra – có thể phải trả giá bằng sinh kế của nhiều người Mỹ. Sự khác biệt này phản ánh mức độ mà các thay đổi chính sách Trung Quốc của Mỹ đã xảy ra ngoài tầm quan sát của người dân và không có tranh luận mở.

Một cuộc tranh luận như vậy là hết sức cấp bách. Mặc dù cuộc chiến thương mại đã thu hút mọi sự chú ý kể từ khi bắt đầu, nhưng phần lớn công chúng Mỹ không biết về mức độ thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, khiến đất nước của họ có nguy cơ rơi vào một cuộc xung đột không biết bao giờ kết thúc với nền kinh tế sẽ sớm trở thành lớn nhất thế giới đi kèm với quyền lực đang lên của nó.

Trong một nền dân chủ, một chính phủ không thể theo đuổi một cuộc đấu tranh lâu dài với một kẻ thù địa chính trị mạnh mẽ mà không có sự ủng hộ chính trị bền vững từ một công chúng được thông tin đầy đủ. Cần chú ý đặc biệt đến những người trẻ tuổi (theo Pew, họ có quan điểm tích cực hơn về Trung Quốc so với những người lớn tuổi), bởi vì họ sẽ chịu gánh nặng phí tổn từ cuộc chiến tranh lạnh Trung-Mỹ đang diễn ra.

Để một cuộc tranh luận như vậy đáng tin, chính quyền Trump sẽ cần phải trả lời các câu hỏi quan trọng về chính sách Trung Quốc của mình. Đầu tiên và quan trọng nhất chính là mục tiêu tối hậu của chính sách là gì? Các câu trả lời có thể bao gồm: sửa đổi các hành vi hoặc chính sách nhất định của Trung Quốc, ngăn chặn sức mạnh kinh tế hoặc quân sự của Trung Quốc; hoặc thay đổi chế độ của Trung Quốc.

Chính quyền Trump sau đó sẽ phải giải thích cách mà họ dự định đạt được mục tiêu đã nêu. Liệu sự “tách rời kinh tế”, được ưu tiên bởi những quan chức diều hâu về Trung Quốc trong chính quyền Trump, có phải là một chiến lược hiệu quả hay khả thi? Các tác giả của bức thư ngỏ gần đây cho rằng những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm tách rời Trung Quốc khỏi nền kinh tế toàn cầu “sẽ làm tổn hại đến vai trò và uy tín quốc tế của Mỹ, và làm suy yếu lợi ích kinh tế của tất cả các quốc gia”. Và liệu Mỹ có thể thuyết phục các nước khác – kể các các đồng minh truyền thống của mình – ủng hộ những nỗ lực đó hay không, hay Mỹ sẵn sàng (hoặc có thể) đơn phương hành động?

Bất cứ chính sách nào được chọn thì chính quyền Trump cũng phải biện minh được cho chính sách đó. Hồi tháng 10 năm ngoái, Phó Tổng thống Mike Pence trên thực tế đã tuyên bố một cuộc “chiến tranh lạnh” đối với Trung Quốc trong một bài phát biểu mạnh mẽ chứa một loạt các cáo buộc, bao gồm cả sự can thiệp vào chính trị Hoa Kỳ lẫn sự áp bức đối với chính người dân Trung Quốc. Điều mà Pence – và những người khác trong chính quyền Trump – đã không đưa ra là một lời biện minh hợp lý cho việc Mỹ đối xử với Trung Quốc như một mối đe dọa sống còn.

Câu hỏi cuối cùng phải được đặt ra liên quan đến hợp tác đa phương. Để đương đầu với những thách thức chung – mà một số trong đó, như biến đổi khí hậu và phổ biến vũ khí hạt nhân, thực sự là những mối đe dọa sống còn – thế giới cần một sự hợp tác như vậy hơn bao giờ hết. Mỹ có thể thực hiện một chính sách đối đầu với Trung Quốc mà không ngăn cản sự hợp tác trong các vấn đề cần thiết hay không?

Những người ký lá thư ngỏ – cũng như một loạt các nhà kinh tế, chính trị gia và nhà tư tưởng nổi tiếng – đã trình bày một tuyên bố đầy đủ và hiểu biết cho thấy quan điểm tập thể của họ về Trung Quốc. Đã đến lúc chính quyền Trump phải làm rõ tầm nhìn và mục tiêu của mình cho những người dân mà họ được cho là đại diện.

Minxin Pei là giáo sư ngành quản trị chính quyền của Đại học Claremont McKenna và là tác giả cuốn China’s Crony Capitalism.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập12
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm11
  • Hôm nay7,679
  • Tháng hiện tại25,094
  • Tổng lượt truy cập4,245,987
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây