Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Lý Thái Tổ khởi nghiệp

Thứ bảy - 24/08/2019 21:39
Lịch sử là bộ môn khoa học xã hội, thiết tưởng nên dùng khoa học để lý giải. Dưới thời Lê Long Đĩnh tàn ác, vô đạo, dân sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng. Nhân vào năm 1009 Long Đĩnh mất, đất nước cần một vị lãnh đạo sáng suốt đức độ, giống như cảnh trời hạn hán cầu mưa. Bấy giờ Lý Công Uẩn [tên húy Vua Lý Thái Tổ] là vị quan nỗi tiếng trung trực, từng cả gan ôm xác vua cũ là Trung Tông khóc, khi vua bị hành thích;
Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Lý Thái Tổ khởi nghiệp

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Lý Thái Tổ khởi nghiệp

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Hồ Bạch Thảo

Niên hiệu: Thuận Thiên:1010-1027      

Gạt ra ngoài những lời sấm ký về việc vua Lý Thái Tổ thay họ Lê lên ngôi:

Thụ căn diểu diểu,/  Mộc biểu thanh thanh./ Hòa Đao mộc lạc, / Thập tử thành…..”

(Gốc rễ nước Nam sâu sâu thẳm; /Cành lá xanh tốt;/ Cây Lê  [梨 = chiết tự: hòa禾+đao刀+mộc木]  rơi đổ; / Chồi Lý [李= thập 十+bát八+tử 子] mọc lên….”)

Ý chỉ mệnh trời để vua Lý Thái Tổ lên ngôi.

Lịch sử là bộ môn khoa học xã hội, thiết tưởng nên dùng khoa học để lý giải. Dưới thời Lê Long Đĩnh tàn ác, vô đạo, dân sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng. Nhân vào năm 1009 Long Đĩnh mất, đất nước cần một vị lãnh đạo sáng suốt đức độ, giống như cảnh trời hạn hán cầu mưa. Bấy giờ Lý Công Uẩn [tên húy Vua Lý Thái Tổ] là vị quan nỗi tiếng trung trực, từng cả gan ôm xác vua cũ là Trung Tông khóc, khi vua bị hành thích; lại đương chức Điện tiền chỉ huy sứ sẵn quyền lực trong tay; nên người người đều mong ông lên ngôi. Một viên quan đồng liêu là Đào Cam Mộc khuyến khích Lý Công Uẩn rằng:

Gần đây chúa thượng [Lê Long Đĩnh] ngu tối bạo ngược, làm nhiều việc bất nghĩa, trời chán ghét nên không cho hết thọ, con nối dõi thơ ấu, không kham nỗi nhiều khó khăn. Mọi việc phiền nhiễu, thần linh không ưa, dân chúng nhao nhác, mong tìm chân chúa. Sao Thân vệ [Lý Công Uẩn] không nhân lúc này nghĩ ra mưu cao, quyết đoán sáng suốt, xa xem dấu cũ của Thang, Vũ; gần xem việc làm của Đinh, Lê, trên thuận lòng trời, dưới theo ý dân, mà cứ muốn khư khư giữ tiểu tiết làm gì!”[1]

Công Uẩn còn chần chừ, Cam Mộc lại bàn thêm:

Thân Vệ là người khoan thứ, nhân từ, lòng người chịu theo. Hiện nay trăm họ mỏi mệt kiệt quệ, dân không chịu nổi, Thân vệ nên nhân đó lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, có ai ngăn được!’.

Cam Mộc biết việc cần kíp, sợ sinh biến, mới nói chuyện với khanh sĩ và các quan, ai cũng vui theo. Ngay ngày hôm ấy, điều họp cả ở trong triều, bàn rằng:

‘ Hiện nay, dân chúng ức triệu khác lòng, trên dưới lìa bỏ, mọi người chán ghét tiên đế hà khắc bạo ngược, không muốn theo về vua nối ngôi, mà đều có lòng suy tôn quan Thân vệ, bọn ta không nhân lúc này cùng nhau sách lập Thân vệ làm thiên tử, lỡ bối rối có xảy ra tai biến gì, liệu chúng ta có giữ được cái đầu hay không?’.

Thế rồi cùng nhau dìu Công Uẩn lên chính điện, lập làm Thiên tử, lên ngôi Hoàng đế. Trăm quan đều lạy rạp dưới sân, trong ngoài đều hô “vạn tuế”, vang dậy cả trong triều.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.

Riêng các bộ sử Trung Quốc[2] đều chép thêm rằng sau khi Lê Long Đĩnh mất, 2 người em là Minh Đề, Minh Xưởng dùng binh tranh ngôi, bị Đại hiệu Lý Công Uẩn giết; rồi lên ngôi; nhưng Vua Tống bỏ qua, vẫn tiếp tục phong tước cho Công Uẩn; nội dung xin trích dẫn qua hai văn bản dưới đây:

Trường Biên, quyển 73. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 [1010]

Tháng 2, Chuyển vận sứ Quảng Tây Hà Lượng tâu:

Lê Chí Trung Giao Châu, cai trị hà ngược không theo phép tắc, nên lòng dân chia lìa. Lúc mất con trai mới 10 tuổi; em là Minh Đề, Minh Sưởng dùng binh tranh ngôi; Đại hiệu Lý Công Uẩn đốc suất dân trong nước đánh đuổi và giết được. Công Uẩn tuổi mới 26, là người thân cận của Chí Trung, Trung từng được lệnh đổi sang họ Lê; nay tự lãnh việc châu, xưng là An Nam Tĩnh hải quân quyền lưu hậu. Lại gửi văn thư xin mang sản vật địa phương phụng cống, xin giáng chế mệnh.’

Thiên tử ban:

‘ Chí Trung bất nghĩa mà được nước, Công Uẩn lại bắt chước theo, càng đáng ghét.

Rồi bảo Lượng vỗ về yên dân biên giới, quan sát sự việc báo lên. Trước đó Chí Trung [Lê Long Đĩnh] sai Sứ phụng cống còn tại kinh sư, Thiên tử ra lệnh đem thực trạng báo cho biết, nếu muốn về cũng chấp thuận; Sứ giả nghe tin chỉ biết che mặt khóc.”[3]

 “Trường Biên, quyển 73. Tháng 3, Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 [1010] Lý Công Uẩn sai Sứ đến cống. Thiên tử cho rằng man di không đáng để trách cứ; theo lệ cũ Lê Hoàn ban cho Công Uẩn Tĩnh Hải tiết độ sứ, phong Giao Chỉ quận vương, ban  y phục dây đai, tiền và khí vật.”[4]

Vừa mới lên ngôi, vua thấy kinh đô cũ thành Hoa Lư tại Ninh Bình chật hẹp, bèn  cho dời đô đến thành Đại La, rồi đổi tên là Thăng Long, tức  Hà Nội hiện nay. Đây là việc làm sáng suốt, vì Hà Nội là trung tâm giao lưu của cả nước; suốt một ngàn năm, ngoại trừ triều Nguyễn, các triều đại khác đều chọn nơi này làm kinh đô. Từng được tận mắt xem các vật liệu khảo cổ dưới chân thành Thăng Long; thấy các đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Pháp thuộc, có những kiến trúc, vật liệu đặc thù; có thể nói chân thành Thăng Long là một bộ sử vật thể, góp phần kiểm chứng và cung cấp tư liệu cho lịch sử nước nhà. Qua Chiếu chỉ dời đô, Vua Lý Thái Tổ có những lời tiên tri như sau:

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương,[5] ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?” Toàn Thư, Chính Biên, quyển 2.

Sách Việt Sử Lược [越史略] mô tả thành Thăng Long thời Lý như sau:

Trong kinh thành Thăng Long xây điện Triều Nguyên, bên trái điện Tập Hiền, bên phải điện Giảng Võ; phía trái mở cửa Long Môn, phía phải mở cửa Đan Phượng. Chính dương xây Cao điện, giai gọi là Long Trì, quanh co hồi chuyển, bốn phía trang hoàng. Sau điện Càn Nguyên xây 2 điện Long An, Long Thụy; bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải Nguyệt Minh, phía sau có cung Thúy Hoa. Bốn phía thành xây 4 cửa, phía đông là cửa Tường Phù, phía tây Quảng Phúc, nam Đại Hưng, bắc Diệu Đức; tại thành nội lại xây chùa Hưng Thiên, lầu Ngũ Phượng Tinh, hướng nam [ly phương] thành, lập chùa Thắng Nghiêm.”[6] Việt Sử Lược, quyển trung.

Nhà Vua lại bắt tay lo chấn chỉnh quân đội, rồi mang quân đi dẹp dân tộc thiểu số mán Cử Long,[7] nổi dậy tại huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Loạn Cử Long dấy lên từ thời Đinh, Tiền Lê; năm 1001 Vua Lê Đại Hành mang quân đi đánh, tuy có thắng lợi nhưng vua cũ Đinh Toàn tử trận tại đây; đến nay vua Lý Thái Tổ mới dẹp được:

Thuận Thiên năm thứ 2 [1011]. Mùa xuân, tháng giêng, đặt quân tả hữu túc xa,[8] mỗi đội đều 500 người. Tháng hai, vua thấy giặc Cử Long ở Ái Châu hung hăng dữ tợn, trải hai triều Đinh, Lê không đánh nổi, đến nay càng dữ, mới đem sáu quân đi đánh, đốt bộ lạc, bắt kẻ đầu sỏ đem về, giặc ấy bèn tan.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.

Bấy giờ vùng Thanh Nghệ, nơi Chiêm Thành từng ra vào cướp phá nên lòng người chưa ổn định, mối loạn thường nổi lên, khiến phải mang quân đi đánh dẹp; nhưng Vua tỏ ra thành khẩn, từng thắp hương cáo với trời đất, coi đó là việc bất đắc dĩ:

Tháng chạp năm Thuận Thiên thứ 3 [1012] Vua thân đi đánh Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biện[9] gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng:

‘Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân[10] thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét’.

Khấn xong, gió sấm đều yên lặng.”Toàn Thư, Bản kỷ, quyển 2.

Lúc cuối đời, Vua Lý Thái Tổ lại phải sai thuộc hạ đi đánh giặc tại Diễn Châu một lần nữa:

Năm Thuận Thiên] thứ 17 [1026], xuống chiếu cho Khai Thiên Vương đi đánh giặc ở Diễn Châu.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.

Về phía tây bắc có loạn tại Phong Châu [Vĩnh Phúc], Đô Kim;[11] nhà Vua bèn sai Thái tử Phật Mã, Khai quốc Bồ đi đánh dẹp:

Mùa xuân năm Thuận Thiên thứ 15 [1024]; xuống chiếu cho Khai Thiên Vương [Phật Mã] đi đánh Phong Châu, Khai Quốc Vương [Bồ] đi đánh châu Đô Kim.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.

Một vụ phản loạn khác xảy ra tại thượng nguồn sông Lô, nay thuộc tỉnh Tuyên Quang, do nước Nam Chiếu tại Vân Nam yểm trợ. Nguyên do người Man Nam Chiếu thường xâm nhập vào nước ta buôn lậu ngựa, bị nhà Vua sai người đến bắt:

Năm Thuận Thiên thứ 3 [1012]; năm ấy người Man sang quá cột đồng, đến bến Kim Hoa và châu Vị Long [huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang] để buôn bán. Vua sai người bắt được người Man và hơn 1 vạn con ngựa.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.

Năm sau, viên Tù trưởng địa phương là Hà Án Tuấn nổi lên làm phản, khiến nhà Vua phải thân chinh đi đánh:

“ Năm Thuận Thiên thứ 4 [1013]; mùa đông, tháng 10, châu Vị Long làm phản, hùa theo người Man [Nam Chiếu]. Vua thân đi đánh. Thủ lĩnh là Hà Án Tuấn sợ, đem đồ đảng trốn vào rừng núi.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.

Loạn này chưa dẹp xong, lại tiếp năm sau Nam Chiếu mang đại quân từ Vân Nam vượt biên giới sang cướp phá nước ta, nhắm cấu kết với dư đảng Hà Án Tuấn, Vua sai Dực Thánh Vương mang quân đánh, chém đầu đến hàng vạn; sau khi chiến thắng đem hàng trăm con ngựa sang biếu nhà Tống, khiến vua Tống rất nể trọng:

“ Năm Thuận Thiên thứ 5 [1014]. Mùa xuân, tháng Giêng, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa. Châu mục châu Bình Lâm[12] là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem một trăm con ngựa bắt được của người Man sang biếu nhà Tống. Vua Tống xuống chiếu cho quan sở tại sai sứ thần đón tiếp, cùng đi đến cửa khuyết, mọi khoản cung đốn dọc đường đều được chu cấp đầy đủ. Khi đến, vua Tống gọi bọn Chân vào ra mắt ở điện Sùng Đức, ban cho mũ, đai, đồ dùng, tiền bạc theo thứ bậc khác nhauToàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.

Sử Trung Quốc xác nhận việc này, cho biết số lượng quân Nam Chiếu bị giết đến vài vạn người,  văn bản ghi chiến trường xảy ra tại châu Phương Lâm, chắc là châu Bình Lâm đã nêu trong sử Việt:

Trường Biên, quyển 83. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 7 [1014].Ngày Tân Sửu tháng 7 [15/8/1014], Lý Công Uẩn Giao Châu đánh bại man Hạc Chá [Nam Chiếu, Vân Nam] tại châu Phương Lâm; chém vài vạn, bắt được chỉ huy Dương Trương Huệ. Công Uẩn sai Sứ cống sản vật địa phương cùng báo tin chiến thắng.”[13]

Triều đình Tống rất nể trọng chiến thắng này, vì dân tộc Nam Chiếu  trước khi bị quân Nguyên thôn tính lập thành tỉnh Vân Nam là mối lo hàng ngàn năm của Trung Quốc. Hãy nghiên cứu thêm sử Trung Quốc để hiểu tầm quan trọng của chiến thắng:

Dưới thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng chủ trương bắc phạt dẹp Tào Ngụy; nhưng chỉ lo quân Nam Chiếu dưới quyền Mạnh Hoạch đánh vùng hậu phương Tứ Xuyên tại phía sau lưng, khiến không có đường trở về. Nên dụng công đánh Mạnh Hoạch 7 lần, tha 7 lần [thất cầm, thất túng];[14] khiến Mạnh Hoạch hoàn toàn tin phục, rồi mới cất quân lên phương bắc:          

Tư Trị Thông Giám, quyển 70. Ngụy Văn Hoàng đế năm Hoàng Sơ thứ 6 [225]

Tháng 7 [8/225], Gia Cát Lượng nhà Hán mang quân đến Nam Trung, chiến thắng nơi này, rồi tiến vào Việt Tuyển [Tây Xương thị, Tứ Xuyên] chém Ung Khải và Cao Định; sai Lý Khôi, người đến hàng đốc Ích Châu, từ Ích Châu [Thành Đô, Tứ Xuyên] vào; Môn hạ đốc Ba Tây Mã Trung từ Tường Kha [Quí Dương thị, Quí Châu] vào; đánh phá các huyện, cùng với quân Lượng họp lại. Mạnh Hoạch thu quân còn lại của Khải, nhắm chống lại Lượng. Hoạch vốn là dân Di, bị quân Hán bắt sống, Lượng cho xem quân doanh bố trí, rồi hỏi:

‘Quân ta bố trí ra sao.’

Hoạch nói:

‘Trước đây không biết rõ hư thực nên thua, nay được xem quân bố trí, nếu chỉ có vậy thôi, thì nhất định dễ thắng!’

Lượng cười, thả ra rồi đánh tiếp; 7 lần tha, 7 lần bắt; cuối cùng Hoạch dừng lại không đi nữa, nói rằng:

‘Ông có uy trời, người phương nam không dám phản nữa.’

Lượng bèn mang quân tới Điền Trì [hồ Côn Minh, Vân Nam].

Bốn quận Ích Châu, Vĩnh Xương, Tường Kha, Việt Tuyển đều được bình định; Lượng đặt những cừ soái địa phương coi sóc. Có kẻ can gián việc này; Lượng nói:

‘Nếu dùng tướng soái ngoài dân địa phương thì phải lưu binh giữ; binh đóng không có gì ăn, đó là điều khó thứ nhất. Hơn nữa dân di mới bị đánh phá, cha anh bị giết; dùng người ngoài dân địa phương mà không lưu binh ắt sẽ gây họa hoạn, đó là điều khó thứ hai. Di mấy lần bị đánh giết, sự hiềm thù còn nặng, nếu để người ngoài cai trị, sẽ không tin nhau, đó là điều khó thứ ba. Nay ta chọn không lưu binh, không vận lương; kỷ cương có thể  đại khái định, Di Hán có thể đại khái yên.’

Lượng bèn dùng những người giỏi của Mạnh Hoạch cho làm quan dưới quyền; đem tiền bạc, sơn, thuốc cao đơn, trâu cày, ngựa chiến cho dân tộc này dùng; từ đó suốt đời Lượng dân Di không phản nữa.[15]

Đời Đường phải bỏ ra rất nhiều tiền bạc, để nuôi dạy hàng ngàn con em người Nam Chiếu đến học như du học sinh ngày nay; đến lúc quá tốn kém cung đốn không xuể, thì Nam Chiếu sinh ra oán giận làm loạn:

“Tư Trị Thông Giám, quyển 249, tháng 12 Đường Tuyên Tông năm Đại Trung thứ 13 [859]. Trước đây Hàn Cao tại Tây Xuyên [Tứ Xuyên], mở đường tại Thanh Khê để thông với các man, khiến sứ Do Độc vào cống. Lại chọn con cháu các man, tụ tập tại Thành Đô, dạy cho thư số;[16] nhắm an ủi ky my. Khi học xong thì về, lại cho đám khác đến học, tiếp tục như vậy đến 50 năm. Con cháu đệ tử các man học tại Thành Đô có đến hàng ngàn; quan phủ chán nản về việc cung cấp. Lại thêm việc man Sứ vào cống, được hưởng lợi ban cho, nên số người đến càng đông. Đỗ Tông làm Tiết độ sứ Tây Xuyên, tâu xin tiết giảm số lượng, nhận được chiếu chấp thuận. Phong Hữu vua Nam Chiếu giận, sai Sứ giả Hạ Đông vào cống, đưa biểu văn tại Tuyển Châu rồi trở về. Lại yêu cầu cho con em được học tập, gửi biểu văn lời lẽ không từ tốn; từ đó vào cống không định kỳ, mấy lần quấy nhiễu biên giới. Vào lúc vua Tuyên Tông mất, sai Trung sứ cáo ai; lúc bấy giờ Phong Hữu Nam Chiếu mới mất, con là Tù Long lên thay, y giận bảo rằng:

‘Nước ta cũng có tang, triều đình sao không đến điếu tế; lại chỉ gửi chiếu thư cho Vương đã mất.’

Rồi cho Sứ giả ở quán ngoài, lễ nghi rất bạc bẽo; Sứ giả về, tâu rõ tình trạng. Vua cho rằng Tù Long không sai Sứ đến cáo tang, tên y lại gần trùng tên húy của vua Huyền Tông, nên không thi hành lễ sách phong. Tù Long bèn tự xưng Hoàng đế, quốc hiệu Đại Lễ, cải niên hiệu Kiến Cực, sai quân đánh Bá Châu[17].”[18]

Thời cuối Đường quân Nam Chiếu từng đánh chiếm An Nam đô hộ phủ, bèn sai Cao Biền mang đại quân tranh giành, lại chiếm phía nam tỉnh Quảng Tây, trong đó có Ung Châu tức Nam Ninh ngày nay:

Tư trị Thông Giám, quyển 250. Tháng 7 mùa thu, năm Hàm Thông thứ 2 [861]; man Nam Chiếu đánh Ung Châu, chiếm được. Trước đó 3 đạo Quảng, Quế, Dung mang 3 ngàn quân đến đóng tại Ung châu, 3 năm một lần thay đổi. Kinh lược sứ Đoàn Văn Sở xin lấy y phục và lương thực của 3 ngàn người đem mộ lính địa phương thay thế, triều đình chấp nhận. số mộ được chỉ mới được khoảng 500 tên. Lúc Văn Sở vào triều làm Kim ngô tướng quân, Kinh lược sứ Lý Mông lợi dụng việc thiếu ngạch y phục và lương thực, bãi quân lính của 3 đạo, dừng việc mộ binh phòng, Tả Giang, Hữu Giang, giảm đến 7,8 phần 10. Bấy giờ Lý Mông đã mất, Kinh lược sứ Lý Hoằng Nguyên mới đến trấn giữ được 10 ngày, không có quân để chống cự, Hoằng Nguyên cũng Giám quân thoát thân chạy đến Man Châu. Hơn 20 ngày sau, man Nam Chiếu rút, bèn trở về nhiệm sở; Hoằng Nguyên bị biếm trích Ty hộ Kiến châu. Văn Sở lúc bấy giờ làm Điện trung giám, lại được trở lại làm Kinh lược sứ Ung quản. Đến nơi, thành ấp dân cư tiêu điều, mười không còn một.”[19]

Chiến thắng dưới triều Lý nước ta, làm suy yếu  quân Nam Chiếu; khiến Trung Quốc bớt vơi đi một gánh nặng. Có thể nói nhà Tống gián tiếp nhận ơn lớn từ nước ta, bởi vậy mấy lần Vua Lý Thái Tổ cho mang quân đánh phá các châu Khâm Liêm, lý do vì xích mích biên giới; hoặc trừng phạt việc che chở những người Việt có hành động trái pháp luật vượt biên, được nhà cầm quyền địa phương Tống bao che; hoặc chống đánh người Tống tụ tập cướp phá; nhưng trước sau triều Tống giải quyết việc biên giới một cách hòa bình; sử liệu từ các nguồn thu thập như sau:

 Trường Biên, quyển 83; tháng 9 năm Đại Trung Tường Phù thứ 7 [1014]. Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây Lộ Cao Huệ Liên tâu giặc Giao Châu mang thuyền đến đậu tại cửa sông trấn Như Hồng;[20]đã giới nghiêm tuần kiểm Ung Châu, Tân Châu[21] phòng bị biên cảnh. Chiếu ban chỉ phòng bị tại biên giới, không được sinh sự.”[22]

Trường Biên, quyển 83; tháng Chạp, năm Đại Trung Tường Phù thứ 7 [1014]. Trước đó Trương Bà Khán thuộc dân Yêu Liêu Giao Châu, trốn tội được Tri Khâm châu mục Trọng Dĩnh che chở; Đô tuần kiểm Tang Tự ra lệnh trại Như Hồng khao trâu rượu. Giao Châu trinh sát biết được việc này, bèn bắt Yêu Liêu cùng cướp phá trại Như Hồng, bắt người và súc vật rất nhiều. Ty Chuyển vận gửi thông điệp cho Giao Châu truy bắt và báo cho biết. Chiếu thúc dục Lý Công Uẩn hộ tống [người bị bắt]; vẫn răn quan lại tại biên giới không được chiêu dụ man Liêu rồi sinh sự.”[23]

Trường Biên, quyển 85. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 8 [1015]

Tháng 12, Khâm Châu tâu giặc châu Tô Mậu[24] cướp người và súc vật thuộc huyện An Viễn;[25] chiếu ban Chuyển vận sứ sở tại ngăn phòng.”[26]

Sử nước ta, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng chép thêm về việc đánh trại Như Hồng, châu Khâm như sau:

Năm Thuận Thiên] thứ 13 [1022, xuống chiếu cho Dực Thánh Vương đi đánh Đại Nguyên Lịch. Quân ta đi sâu vào trại Như Hồngtrong đất Tống, đốt kho đụn ở đó rồi về.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2

Ngoài ra còn có vụ tranh chấp biên giới tại tỉnh Lạng Sơn, phía ta giành được quyền làm chủ châu Thất Nguyên, thuộc huyện Tràng Định hiện nay:

Thuận Thiên năm thứ 18 [1027]; xuống chiếu cho Khai Thiên Vương [Thái tử Phật Mã] đi đánh châu Thất Nguyên,[27] Đông Chinh Vương đi đánh Văn Châu.[28]

Sử Trung Quốc xác nhận về cuộc tranh chấp này như sau:

“Trường Biên, quyển 106. Tống Nhân Tông năm Thiên Thánh thứ 6 [1028]

Tháng 4, quyền trại chủ châu Thất Nguyên, Ung Châu, Tam ban tá chức Lý Tự giao chiến với Giao Chỉ tử trận; nay đưa người con là Hòa làm Tam ban tá chức. Lý Công Uẩn tuy sai con là Hiển đến cống, nhưng lại ra lệnh cho con em và rể Thân Thừa Quí mang quân đến cướp phá.”[29]

Tháng sau, triều Tống lại gửi chiếu thư đòi trả lại những chiến lợi phẩm bị quân ta tịch thu:           

Trường Biên, quyển 106; tháng 5, Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây Lộ tâu Giao Chỉ vào cướp, đã ra lệnh Đô đồng tuần kiểm mang quân, cùng điều động dân đinh các khe động truy kích, đòi lại những đồ vật bị cướp của các nhà, chiếu thư cho biết nếu như không trả hết những đồ bị cướp, tất Tri Ung Châu sẽ họp binh thảo phạt. Lúc bấy giờ Văn tư sứ Tiêu Thủ Tiết Tri Ung Châu, sai người đến Giao Chỉ dụ điều lợi hại; Công Uẩn dâng tấu chương tạ tội.”[30]

Về phương nam, Vua Lý Thái Tổ từng ra lệnh cho Thái tử Phật Mã mang quân đi đánh Chiêm Thành tại tỉnh Quảng Bình, chém giết rất nhiều:

Mùa đông, tháng 12 Thuận Thiên năm thứ 11 [1020], sai Khai Thiên Vương [Phật Mã] và Đào Thạc Phụ đem quân đi đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính,[31] thẳng đến núi Long Tỵ,[32] chém được tướng của chúng là Bố Linh tại trận, người Chiêm  chết đến quá nửa.” Toàn Thư, Bản kỷ, quyển 2.

(Còn tiếp)
 

21/05/1542: Nhà thám hiểm De Soto qua đời

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: De Soto dies in the American wildernessHistory.com

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Vào ngày này năm 1542, trên bờ sông Mississippi ở khu vực Louisiana ngày nay, nhà chinh phục người Tây Ban Nha Hernando de Soto đã qua đời, kết thúc cuộc hành trình kéo dài ba năm để tìm kiếm vàng vốn đã đưa ông đi qua một nửa chặng đường xuyên Hoa Kỳ ngày nay. Để giấu không cho người da đỏ biết về cái chết của ông và từ đó bác bỏ những tuyên bố về sự thần thánh (bất tử) của de Soto, những người lính đã chôn xác của ông dưới dòng sông Mississippi.

Vào cuối tháng 5 năm 1539, de Soto đặt chân lên bờ biển phía tây Florida với 600 binh sĩ, người hầu và nhân viên, 200 con ngựa, và một đàn chó săn. Từ đó, đội quân bắt đầu việc chinh phục người bản địa, thu giữ bất kỳ vật có giá trị nào mà họ gặp phải, và chuẩn bị để vùng đất này sau này trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha.

Đi qua Florida, Georgia, South Carolina, băng qua Appalachia, và trở về Alabama, de Soto đã không thể tìm thấy vàng và bạc như ông mong muốn, nhưng ông đã chiếm được một bộ sưu tập ngọc trai có giá trị tại Cofitachequi, thuộc Georgia ngày nay. Người Tây Ban Nha cũng không thể tiến hành các cuộc chinh phục mang tính quyết định ở đây vì vùng đất trở thành Hoa Kỳ ngày nay thiếu các nền văn minh lớn, tập trung như tại Mexico và Peru.

Cũng giống như cách thức chinh phục của Tây Ban Nha ở những nơi khác tại châu Mỹ, de Soto đã đối xử tệ hại và biến những người bản địa mà ông gặp trở thành nô lệ. Tại hầu hết mọi nơi, các chiến binh da đỏ họ gặp đã bị đe dọa bởi những người Tây Ban Nha cưỡi ngựa và phải giữ khoảng cách. Tuy nhiên, vào tháng 10 năm 1540, tình thế đã đảo ngược khi một liên minh người da đỏ đã tấn công người Tây Ban Nha tại thị trấn được phòng thủ vững chắc Mabila, gần Mobile, Alabama ngày nay. Tất cả người da đỏ đã bị giết chết, cùng với 20 người của de Soto. Hàng trăm người Tây Ban Nha bị thương. Ngoài ra, những người da đỏ bị người Tây Ban Nha bắt mang vác hàng hóa đã chạy trốn cùng với hành lý.

De Soto đã có thể hành quân về phía nam để hợp quân với các tàu của mình dọc theo Bờ Vịnh, nhưng thay vào đó, ông ra lệnh thực hiện chuyến thám hiểm về phía tây bắc để tìm kiếm những kho báu mơ hồ của châu Mỹ. Vào tháng 5 năm 1541, đội quân đã đến và vượt sông Mississippi, có lẽ họ là những người châu Âu đầu tiên từng làm điều này. Từ đó, họ đã đi qua Arkansas và Louisiana, nhưng vẫn tìm được rất ít của cải để đền đáp cho nỗ lực của mình. Quay trở lại Mississippi, de Soto chết vì một trận sốt trên bờ sông này vào ngày 21 tháng 5 năm 1542.

Người Tây Ban Nha, bây giờ dưới quyền chỉ huy của Luis de Moscoso, đi về phía tây một lần nữa, vượt qua phía bắc Texas trước khi trở về Mississippi. Với gần một nửa số người trong đoàn thám hiểm ban đầu đã chết, những người Tây Ban Nha đã dựng bè và đi xuôi dòng sông xuống biển, và sau đó đi dọc bờ biển Texas đến New Spain, cuối cùng đến Veracruz, Mexico, vào cuối năm 1543

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập17
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm15
  • Hôm nay7,679
  • Tháng hiện tại24,979
  • Tổng lượt truy cập4,245,872
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây