23/08/1926: Ngôi sao phim câm Rudolph Valentino qua đời

Thứ sáu - 23/08/2019 07:39
Vào ngày này năm 1926, cái chết của ngôi sao phim câm Rudolph Valentino ở tuổi 31 đã khiến người hâm mộ của ông vô cùng thương tiếc. Trong sự nghiệp điện ảnh ngắn ngủi của mình, nam diễn viên gốc Ý đã tạo dựng được danh tiếng là nguyên mẫu người tình màn ảnh. Sau khi tin tức về việc ông qua đời vì một khối u bị vỡ được công bố, hàng chục vụ tìm cách tự tử đã được báo cáo,
23/08/1926: Ngôi sao phim câm Rudolph Valentino qua đời

23/08/1926: Ngôi sao phim câm Rudolph Valentino qua đời

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Valentino diesHistory.com

Biên dịch: Lê Hồng Loan

Vào ngày này năm 1926, cái chết của ngôi sao phim câm Rudolph Valentino ở tuổi 31 đã khiến người hâm mộ của ông vô cùng thương tiếc. Trong sự nghiệp điện ảnh ngắn ngủi của mình, nam diễn viên gốc Ý đã tạo dựng được danh tiếng là nguyên mẫu người tình màn ảnh. Sau khi tin tức về việc ông qua đời vì một khối u bị vỡ được công bố, hàng chục vụ tìm cách tự tử đã được báo cáo, và nữ diễn viên Pola Negri – người tình gần nhất của Valentino – được cho là không thể nguôi ngoai. Hàng chục ngàn người đã bày tỏ lòng tôn kính của mình trước quan tài mở của ông ở thành phố New York, và 100.000 người than khóc đã xếp hàng trên đường phố bên ngoài nhà thờ nơi tổ chức tang lễ. Thi thể của Valentino sau đó được chở bằng tàu hỏa đến Hollywood, nơi ông được an táng sau một đám tang khác.

Rudolph Valentino sinh ra với tên gọi Rodolfo Guglielmi tại Castellaneta, Ý, vào năm 1895. Ông di cư tới Hoa Kỳ vào năm 1913 và làm các công việc làm vườn, rửa chén, bồi bàn và trai bao trước khi phát triển được một sự nghiệp nhỏ làm vũ công tạp kỹ. Năm 1917, ông tới Hollywood và xuất hiện trong vai một vũ công trong bộ phim Alimony. Valentino trở nên nổi tiếng với giới đạo diễn như là một nhân vật phản diện Latinh đáng tin cậy, và ông xuất hiện trong một loạt các vai diễn nhỏ trước khi giành được vai chính trong bộ phim The Four Horsemen of the Apocalypse (1921). Bộ phim, với một cảnh Valentino nhảy điệu tango đáng nhớ, đã khiến chàng trai người Ý đẹp trai phong tình trở thành hiện tượng chỉ sau một đêm. Sự nổi tiếng của ông tăng nhanh với các bộ phim tình cảm lãng mạn như The Sheik (1921), Blood and Sand (1922) và The Eagle (1925).

Valentino là biểu tượng tình dục nam đầu tiên của Hollywood, và hàng triệu người hâm mộ nữ đã thần tượng hóa ông thành “Người tình Tuyệt vời.” Cuộc sống cá nhân của ông thường đầy sóng gió, và sau hai cuộc hôn nhân thất bại, ông bắt đầu hẹn hò với nữ diễn viên Ba Lan quyến rũ Pola Negri vào năm 1926. Ngay sau bộ phim cuối cùng của ông, The Son of the Sheik, khởi chiếu vào tháng 08 năm 1926, ông phải nhập viện ở New York vì một vết u bị vỡ. Người hâm mộ đã tổ chức một lễ vọng đầy nước mắt bên ngoài Bệnh viện Đa khoa trong một tuần, nhưng ngay sau 12 giờ đêm ngày 23 tháng 08, ông qua đời vì nhiễm trùng.

Valentino được tổ chức lễ viếng trong nhiều ngày tại nhà tang lễ Frank E. Campbell tại đường Broadway và Phố 66, và hàng ngàn người khóc thương đã gây náo loạn, đập vỡ cửa sổ và đánh nhau với cảnh sát để được nhìn thấy ngôi sao quá cố. Đứng bảo vệ bên quan tài là bốn gã phát xít, được cho là do nhà lãnh đạo người Ý Benito Mussolini gửi đến, nhưng thực tế là họ được thuê bởi hãng thông tấn Frank Campbell. Vào ngày 30 tháng 08, một đám tang đã được tổ chức tại Nhà thờ St. Malachy trên Phố W. 49th, và một số người nổi tiếng ở Hollywood đã xuất hiện, trong đó có Mary Pickford, Douglas Fairbanks và Gloria Swanson. Pola Negri chỉ định mình là người than khóc chính và đã ngất xỉu cho các nhiếp ảnh chụp ảnh nhiều lần trên quãng đường giữa nhà ga và nhà nguyện. Cô ngã gục trong một lần chết ngất bên cạnh quan tài của Valentino, nơi cô đã cho dựng một dàn hoa khổng lồ đánh vần từ Pola.

Thi thể của Valentino được chuyển đến Hollywood, nơi một đám tang khác cho ông được tổ chức tại Nhà thờ Good Shepherd vào ngày 14 tháng 09. Sau đó, ông đã được an táng trong một hầm mộ được quyên tặng bởi người bạn của ông là Jun Mathis trong Công viên Tưởng niệm Hollywood. Mỗi năm vào ngày giỗ của ông, một “phụ nữ áo đen” bí ẩn lại xuất hiện tại ngôi mộ của ông và để lại một bông hồng đỏ duy nhất. Sau đó, có tới hàng chục “phụ nữ áo đen” khác bắt chước cô. Danh tính của người phụ nữ áo đen ban đầu vẫn là một vấn đề bị tranh cãi, nhưng người tuyên bố thuyết phục nhất là Ditra Flame, người nói rằng Valentino đã đến thăm cô trong bệnh viện khi cô bị bệnh nặng ở tuổi 14, mang cho cô một bông hồng đỏ. Flame cho biết cô tiếp tục chuyến hành hương hàng năm trong ba thập niên và sau đó từ bỏ việc này khi nhiều kẻ bắt chước bắt đầu xuất hiện.
 

Tại sao một số nhà kinh tế muốn loại bỏ tiền mặt?

Print Friendly, PDF & Email

62-Why some economists want to get rid of cash

Nguồn: “Why some economists want to get rid of cash“, The Economist, 16/08/2016

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Tiền là một trong những phát minh vĩ đại nhất của nhân loại; một sự cải tiến lớn nếu so với việc phải mang loanh quanh cừu hoặc các kiện cỏ khô (để đi đổi các hàng hóa khác). Mặc dù có sự phát triển của các hình thức thanh toán khác, tiền mặt vẫn giữ được những phẩm chất mà các phương thức khác không thể có được, trong đó có khả năng ẩn danh, thanh toán ngay lập tức, được chấp nhận rộng rãi và là một cơ chế tương đối không liên quan đến công nghệ. Nó có thể được sử dụng ngay cả khi lưới điện bị cắt hoặc các ngân hàng đều bị tấn công. Tuy nhiên, hiện nay ngày càng nhiều nhà kinh tế kêu gọi loại bỏ tiền mặt. Tại sao lại như vậy?

Trong cuốn The Curse of Cash (Lời nguyền của Tiền mặt), phát hành ngày 16/08/2016, Kenneth Rogoff đưa ra các lập luận ủng hộ việc dần dần loại bỏ phần lớn các loại tiền giấy. Ông thừa nhận rằng tiền giấy chắc chắn mang lại lợi ích, nhưng những lợi ích này bị làm lu mờ bởi các chi phí liên quan tới mặt tiêu cực của nó. Lấy ví dụ về khả năng ẩn danh. Cùng với khả năng cho phép thanh toán cho một cuộc tiếp đãi bê tha hoặc một dịch vụ ngoài luồng mà không khiến chúng xuất hiện trên hồ sơ ngân hàng hoặc sao kê thẻ tín dụng, điều này cũng cho phép bọn tội phạm tài trợ cho các hoạt động của mình, đồng thời giúp ích cho những người trốn thuế. Con số 1,4 nghìn tỷ USD lưu hành bên ngoài hệ thống ngân hàng, chỉ tính riêng đồng đô la và chủ yếu là các tờ tiền mệnh giá cao, có thể cho thấy rằng mỗi gia đình bốn người tại Mỹ có thể có 13.600 USD dưới dạng tờ 100 USD được giấu trong các lọ mứt. Điều đó là khó xảy ra. Theo Rogoff, phần lớn nguồn cung tiền của các quốc gia giàu có được sử dụng để tạo thuận lợi cho việc trốn thuế và các hoạt động bất hợp pháp như buôn người và tài trợ khủng bố.

Một số người, trong đó bao gồm Rogoff, cho rằng một thế giới không dùng tiền mặt cũng sẽ khiến cho chính sách tiền tệ trở nên hiệu quả hơn bởi vì người tiết kiệm sẽ không còn có thể giắt tiền dưới nệm trong trường hợp lãi suất âm. Và như những người bán hàng và các doanh nghiệp tại các quốc gia sử dụng tương đối ít tiền mặt, chẳng hạn như Thụy Điển, đang phát hiện ra, áp dụng thanh toán điện tử còn có những lợi ích thực tế khác so với tiền mặt, bao gồm các lợi ích về an ninh, chi phí thấp hơn, vệ sinh và tiện lợi, cho cả doanh nghiệp và khách hàng.

Không phải là không có khó khăn trong việc loại bỏ tiền mặt. Một số ý kiến phản đối có thể được dễ dàng bác bỏ, chẳng hạn như một tuyên bố được đưa ra bởi một phần năm số người Đức trong một cuộc khảo sát gần đây, trong đó những người tham gia trả lời rằng họ thích cảm giác mang theo tiền mặt. Nhưng có những vấn đề khác sẽ khó bác bỏ hơn. Trở ngại lớn nhất là việc mất đi khả năng ẩn danh và rủi ro rằng một số bộ phận của xã hội sẽ bị loại ra khỏi hệ thống tài chính, trong một thế giới nơi mà điện thoại thông minh và các loại thẻ ngân hàng trở thành cách duy nhất để thanh toán.

Vấn đề ẩn danh có thể được giải quyết một phần bằng cách giữ lại những tờ tiền mệnh giá nhỏ và tiền xu; đủ cho người dùng có thể tiếp tục mua phim người lớn, cần sa và quà sinh nhật, nhưng không đủ nhiều để mua bất động sản.

Vấn đề về loại trừ tài chính thì phức tạp hơn. Trong một thế giới gần như không dùng tiền mặt, các nhóm dễ bị ảnh hưởng, chẳng hạn như người nghèo, người già và người di cư, có thể gặp nhiều thiệt thòi hơn, và những người mà thu nhập của họ đặc biệt phụ thuộc vào tiền mặt, chẳng hạn như các nhà thờ, các tổ chức từ thiện và những người vô gia cư, có thể sẽ gặp phải một sự sụt giảm về thu nhập. Nhưng những thay đổi có thể được thực hiện dần dần và theo một cách thông minh, ví dụ bằng cách thanh toán các khoản phúc lợi bằng các thẻ ghi nợ trả trước và cung cấp cho các tổ chức từ thiện các máy đọc thẻ không cần quẹt. Sự chuyển đổi như vậy trong thực tế có thể làm gia tăng khả năng tham gia tài chính, bằng cách bảo đảm cung cấp tài khoản ngân hàng cho các cá nhân không có tài khoản ngân hàng.

Cuộc tranh luận này làm dấy lên những phản ứng mạnh mẽ; Bild, một tờ báo Đức, gần đây đã tổ chức một cuộc phản đối của các độc giả chống lại quy định giới hạn €5.000 ($5.633) đối với các giao dịch tiền mặt. Và các học giả Đức đã lập luận rằng việc cấm tiền mặt sẽ không kết thúc một cách kỳ diệu tình trạng tội phạm và các giao dịch chợ đen: gian lận điện tử, tội phạm mạng và thanh toán ẩn danh trực tuyến không quá khó đối với những người có kỹ năng và quyết tâm. Tuy nhiên, khi các nước giàu đang ngày càng tách ra khỏi tiền mặt, với một số cửa hàng và quán cà phê hoàn toàn không chấp nhận tiền mặt, các nhà kinh tế đã có thể nhìn thấy bằng chứng sớm của các lợi ích khi không dùng tiền mặt – cũng như sự tương đối dễ dàng của quá trình chuyển đổi này.
 

16/03/1916: Đô đốc Alfred von Tirpitz từ chức

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: German Admiral Alfred von Tirpitz resignsHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1916, Đô đốc Alfred von Tirpitz, kiến trúc sư trưởng xây dựng hải quân Đức trong những năm trước Thế chiến I và người đứng sau chiến lược hải quân hiếu chiến mà Đức theo đuổi trong hai năm đầu chiến tranh, đã nộp đơn từ chức cho Hoàng đế Wilhelm II. Trước sự ngạc nhiên của Tirpitz, Hoàng đế đã chấp thuận lá đơn.

Tirpitz bắt đầu mối quan hệ thân thiết với Hoàng đế Wilhelm II vào năm 1897, khi ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Hải quân Hoàng gia. Một năm sau, Tirpitz giới thiệu Đạo luật Hạm đội I (First Fleet Act), đánh dấu bước khởi đầu của một cuộc cải tổ và xây dựng quan trọng đối với hải quân Đức. Đạo luật Hạm đội II (Second Fleet Act) ra đời năm 1900 còn chứa đựng nhiều tham vọng hơn nữa, đặt ra thời hạn 17 năm để xây dựng một hạm đội gồm 2 soái hạm, 36 chiến hạm, 11 tàu tuần dương lớn và 34 tàu tuần dương nhỏ – một hạm đội sẽ thách thức cả Hải quân Hoàng gia Anh.

Đến năm 1905, sức mạnh hải quân của Đức đã vượt xa cả Pháp và Nga và đang trên đường – dù đó là một chặng đường dài – hướng tới mục tiêu trở thành đối thủ thực sự của Hải quân Hoàng gia Anh. Sự thật này khiến Anh và Đô đốc Thứ nhất của Hải quân Hoàng gia (First Sea Lord) Jackie Fisher, người vào năm 1906 đã đứng đầu dự án phát triển con tàu chiến loại mới HMS Dreadnought, sau này trở thành biểu tượng của cuộc chạy đua vũ trang Đức-Anh trong những năm trước Thế chiến I.

Năm 1911, Tirpitz được thăng hàm đô đốc (grand admiral); ba năm sau, chiến tranh bùng nổ và ông trở thành chỉ huy của toàn bộ hải quân Đức. Bất chấp đà phát triển mạnh mẽ trong thập niên trước đó, Đức chỉ có thể tập trung 18 chiến hạm và tàu tuần dương chiến đấu ở thời điểm bắt đầu Thế chiến I, so với 29 tàu tương tự của Anh. Hiểu được nỗi khó khăn của Đức khi chống lại Anh trên biển, Tirpitz nhận ra rằng tàu ngầm U-Boat là vũ khí hiệu quả nhất của hải quân, do đó ông đã ủng hộ một chính sách hiếu chiến, được tuyên bố bởi Hoàng đế Đức vào tháng 02/1915, theo đó các tàu bất kể trung lập hay tàu địch đều sẽ rơi vào tầm ngắm của tàu ngầm Đức nếu chúng tiến vào vùng chiến sự ở Biển Bắc giữa Đức và Anh.

Sau một vài cuộc tấn công tàu ngầm, đỉnh điểm là vào ngày 07/05/1915, khi Đức đánh chìm tàu chở khách Lusitania của Anh, khiến 1.201 người, trong đó có 128 người Mỹ bị chết đuối, chính phủ Đức mới đặt ra ranh giới cho chính sách chiến tranh tàu ngầm không hạn chế nhằm tránh gây thù địch với các nước trung lập, chủ yếu là Hoa Kỳ. Mùa thu năm 1915, Tirpitz và các nhà lãnh đạo hải quân khác bị kiềm chế đến mức họ đình chỉ hoàn toàn chính sách. (Nó sẽ được khôi phục vào tháng 02/1917, khiến Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đức và tiến tới việc tham chiếm về phía phe Đồng minh.)

Giữa sự phẫn nộ quốc tế xung quanh chính sách mà ông đưa ra, Tirpitz dần dần thấy mình xa lánh với phần còn lại của bộ chỉ huy chiến tranh Đức, bao gồm cả lãnh đạo của ông, Hoàng đế Wilhelm II. Ngày 16/03/1916, khi Tirpitz từ chức, Wilhelm đã chấp nhận và ông đã rời bỏ vị trí của mình.

Trong thời kỳ hậu chiến, Tirpitz đồng sáng lập Đảng Tổ quốc (Fatherland Party) cánh hữu với mong muốn tận dụng những hoài niệm về một nước Đức quyền uy năm 1914, và trở thành đại biểu trong Nghị viện Liên bang (Reichstag) từ năm 1924 đến 1928. Dù vậy, Tirpitz không bao giờ lấy lại được tầm ảnh hưởng của mình; ông qua đời vào năm 1930.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập11
  • Hôm nay290
  • Tháng hiện tại49,047
  • Tổng lượt truy cập4,101,269
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây