17/08/1962: Lính Đông Đức bắn người cố vượt Bức tường Berlin

Thứ bảy - 17/08/2019 07:06
Vào ngày này năm 1962, lính canh Đông Đức đã bắn hạ một thanh niên đang cố gắng trốn thoát qua Bức tường Berlin vào Tây Berlin và để mặc anh ta chảy máu đến chết. Sự kiện trở thành một trong những biến cố tồi tệ nhất xảy ra tại một trong những biểu tượng xấu nhất của Chiến tranh Lạnh.
17/08/1962: Lính Đông Đức bắn người cố vượt Bức tường Berlin

17/08/1962: Lính Đông Đức bắn người cố vượt Bức tường Berlin

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: East Germans kill man trying to cross Berlin WallHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1962, lính canh Đông Đức đã bắn hạ một thanh niên đang cố gắng trốn thoát qua Bức tường Berlin vào Tây Berlin và để mặc anh ta chảy máu đến chết. Sự kiện trở thành một trong những biến cố tồi tệ nhất xảy ra tại một trong những biểu tượng xấu nhất của Chiến tranh Lạnh.

Sự kiện năm 1962 xảy ra gần một năm sau ngày Bức tường Berlin được xây dựng. Tháng 08/1961, chính quyền Đông Berlin bắt đầu dựng hàng rào thép gai tại ranh giới giữa Đông và Tây Berlin. Chỉ trong vài ngày, một bức tường bê tông đã được xây dựng, hoàn chỉnh với các tháp canh. Trong những tháng tiếp theo, rất nhiều thép gai, súng máy, đèn rọi, đồn bảo vệ, chó, mìn và hàng rào bê tông đã được dựng lên, ngăn cách hoàn toàn hai nửa thành phố. Các quan chức Mỹ lên án hành động của phía cộng sản, nhưng chẳng làm gì để ngăn chặn việc xây dựng bức tường.

Ngày 17/08/1962, hai thanh niên từ Đông Berlin đã cố gắng vượt qua bức tường để đi tìm tự do. Một người đã trèo qua hàng rào dây thép gai thành công, và dù bị nhiều vết cắt khắp da thịt, anh đã an toàn sang đến Tây Berlin. Trước con mắt kinh hoàng của lính canh Tây Đức, chàng trai trẻ thứ hai đã bị bắn bằng súng máy từ phía Đông Berlin. Anh ta ngã xuống nhưng đã cố gắng đứng dậy, men theo bức tường và bắt đầu trèo qua. Nhiều tiếng súng khác vang lên. Chàng trai bị bắn vào lưng, la hét và ngã khỏi tường. Suốt gần một giờ, anh cứ nằm đó, khóc than kêu cứu và chảy máu đến chết. Các lính canh Tây Đức đã ném băng cứu thương cho anh, và một đám đông giận dữ gồm nhiều công dân Tây Berlin đã thét vào mặt toán lính Đông Đức, những người dường như bằng lòng để cho chàng trai trẻ chết. Cuối cùng sau khi anh chết, lính canh Đông Đức chạy đến nơi anh nằm rồi dọn xác đi.

Trong lịch sử của Bức tường Berlin (1961 – 1989), gần 80 người đã thiệt mạng khi cố gắng vượt tường từ Đông sang Tây Berlin. Các quan chức Đông Đức luôn tuyên bố rằng bức tường được dựng lên để bảo vệ chế độ cộng sản khỏi những ảnh hưởng nguy hiểm của chủ nghĩa tư bản và văn hóa phương Tây. Tuy nhiên, trong gần 30 năm bức tường tồn tại, đã chẳng có ai bị bắn khi cố gắng vào Đông Berlin.
 

#220 – Lý Quang Diệu viết về “Mùa xuân Ả-rập”

Print Friendly, PDF & Email

464236-yemen-protest

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Middle East: A Spring without a Summer”, in L.K. Yew, One Man’s View of the World(Singapore: Straits Times Press), pp. 238-257.

Biên dịch: Ngô Văn Tổng | Hiệu đính: Nguyễn Thị Nhung

Bài liên quan: Các chương khác của cuốn One Man’s View of the World

Khi làn gió phấn khởi của “Mùa xuân Ả Rập” như người ta vẫn gọi cuối cùng cũng đi qua, thế giới có lẽ sẽ nhận ra một thực tế trần trụi rằng bộ máy điều hành tại khu vực này vẫn không có bước chuyển mình mới mẻ nào.  Dù những thay đổi này bề ngoài nhìn có vẻ rất lớn lao và dù các ký giả đã cố gắng tô vẽ cho chúng thật chấn động, nhưng nhiều thập kỷ về sau, khi bao quát lại toàn bộ sự kiện, chúng ta chắc chắn sẽ khó có thể coi bất cứ những thay đổi nào trong số đó là một công cuộc chuyển đổi thực chất và bền vững, theo hướng nhân dân nắm quyền tại khu vực.

Và càng chắc chắn hơn nữa là những cuộc thử nghiệm dân chủ này sẽ không kéo dài. Tôi cho rằng, chẳng bao lâu nữa, những quốc gia vừa mới mò mẫm thực hiện các bước đi theo hướng “một người, một phiếu” (one man one vote) sẽ trở lại với chế độ độc nhân trị hay độc đảng trị. Nói cách khác, xuân sẽ qua và hè, thu, rồi đông sẽ tới. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, cũng giống như nó đã tiếp diễn trong nhiều thiên niên kỷ qua.

Khu vực Trung Đông thiếu vắng một lịch sử xã hội vận hành dựa trên cách thức đếm số người ủng hộ để từ đó đưa ra các quyết định. Khu vực không có truyền thống dân chủ, cho dù là trong giai đoạn Hồi giáo cổ đại, giai đoạn lịch sử thuộc địa gần đây, hay trong kỷ nguyên chủ nghĩa dân tộc hậu thuộc địa. Khi các khối thuộc địa của Anh và Pháp tan vỡ và chia tách thành các quốc gia riêng rẽ, thì tất cả các quốc gia này cuối cùng lại quay về chế độ độc nhân trị. Đây không phải bởi sự tình cờ mà xuất phát từ nguồn gốc văn hóa và xã hội đã cắm rễ sâu từ xa xưa.

Tất nhiên, người ta có thể tranh luận rằng, dân chủ – một hiện tượng khá mới mẻ trong lịch sử nhân loại – đều đã bắt đầu nảy mầm đâu đó trong mọi khu vực, và rằng ở nhiều nơi (gồm cả một số quốc gia ở châu Á), dân chủ đã bắt rễ – hoặc ít nhất bề ngoài là như vậy – bất chấp môi trường của họ cũng thiếu vắng truyền thống dân chủ như vậy. Nhưng có một sự khác biệt quan trọng: Trung Đông không chỉ không có kinh nghiệm về các thể thức chính trị đại diện trong quá khứ, mà quan trọng hơn khu vực này còn thiếu vắng các nhân tố xã hội làm nền tảng thiết yếu cho dân chủ đứng vững.

Thứ nhất là ý thức về tư cách công dân bình đẳng. Nội dung tư tưởng này là cả bạn và tôi mặc dù có sự khác biệt về mức độ giàu có, vị thế xã hội, thành tựu, khả năng thể chất và tinh thần, và nhiều thứ khác, nhưng chúng ta đều bình đẳng với nhau ở một mức độ nào đó, chỉ đơn thuần vì một lý do duy nhất: chúng ta đều là công dân của một quốc gia cụ thể. Chúng ta có cùng những quyền và nghĩa vụ như nhau mà mọi quốc gia đều trao cho tất cả công dân của mình. Chúng ta bình đẳng về mặt pháp lý cũng như về mặt đạo đức. Tư tưởng này cần phải xuất hiện trước để làm tiền đề cho việc phát triển những hình thức áp dụng cũng như các thể chế dân chủ thực sự. Nó phải được không chỉ giới trí thức và những người tiến bộ mà toàn xã hội đón nhận.

Tuy nhiên, những gì chúng ta thấy tại nhiều vùng thuộc khu vực Trung Đông ngày nay là các hệ thống mang tính bộ lạc hoặc phong kiến. Tại Ả-rập Xê-út, lãnh đạo của các bộ lạc đều mang quà đến tặng nhà vua mỗi năm một lần. Cũng giống như Trung Quốc thời cổ đại, để đáp lại nhà vua cũng bạn cho họ các món quà có giá trị lớn hơn. Thường dân trung thành với bộ lạc – chứ không phải với quốc gia, vì ở đây quốc gia không tồn tại, và chắc chắn không phải với những đồng bào như họ.

Tôi đã có lần nói chuyện với một nhà ngoại giao người Mỹ một vài năm về trước, sau khi ông rời nhiệm sở ở Ả-rập Xê-út và ông đồng ý về quan điểm này. Ông cho rằng người Ả-rập Xê-út có cơ cấu tổ chức theo lối phong kiến. Tương tự như vậy, người Libi không có một quốc gia thống nhất mà là một tập hợp các bộ lạc, và chủ nghĩa khu vực tại đây còn khiến đặc tính này thêm trầm trọng. Tại các quốc gia bộ lạc này, khi một chế độ sụp đổ, có thể người ta sẽ tiến hành điều chỉnh sâu rộng các quy tắc vận hành tổ chức của nền chính trị – tức là ai được quyền quyết định cái gì và như thế nào – nhưng dân chủ sẽ không xuất hiện vì đơn vị cơ bản trong chính thể không phải là công dân mà là bộ lạc.

Các nhà quan sát đã chỉ ra rằng một số nước Ả rập đã trở thành quốc gia – theo nghĩa hiện đại hơn – nổi bật nhất là Ai Cập, Marốc và Tunisia. Tuy vậy, thậm chí các quốc gia này vẫn thiếu thành tố thứ hai và không kém phần quan trọng, đây lại là thành tố cần thiết để dân chủ có thể trở nên chín muồi và để toàn thể công dân chấp nhận kết quả của không chỉ cuộc bầu cử đầu tiên sau cách mạng mà còn của tất cả các cuộc bầu cử tiếp sau đó. Đó chính là thành tố mà tôi gọi là khả năng tài chính đủ vững mạnh để tạo ra những bước phát triển kinh tế thực sự.

Khu vực đang bỏ lỡ năng lực này đơn giản bởi vì họ luôn nhất quyết kìm hãm nữ giới ở hậu phương. Xã hội Ả rập nhìn chung đều do nam giới thống lĩnh. Họ đã từ chối trao quyền giáo dục bình đẳng cho nữ giới và không cho phép phái nữ được đóng góp sức lao động như nam giới trong xã hội – đây chính xác là những rào cản mà các quốc gia này cần khắc phục để giải phóng tiềm năng bản thân và tạo điều kiện cho nền kinh tế ở đây được hiện đại hóa. Họ đã phản đối giải pháp này và luôn tìm đủ mọi cớ để biện minh. Và vấn đề này đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi lẽ những phụ nữ có học vấn thấp có xu hướng nuôi dạy nên những đứa con nhận thức thấp, do người mẹ dành nhiều thời gian cho con cái hơn người cha. Ngược lại, một thế hệ những người mẹ được giáo dục tốt hơn chắc chắn sẽ nuôi dạy nên thế hệ những người trẻ có thái độ và thế giới quan khác biệt.

Thậm chí ở một số quốc gia tại Trung Đông có tỷ lệ nữ giới học đại học gần bằng nam giới thì họ vẫn bị ngăn cản không thể phát huy hết tiềm năng của bản thân theo nhiều cách thức khác nhau. Thông thường, họ bị từ chối nhận vào các khóa học danh tiếng, chẳng hạn như các khóa học về khoa học, kỹ thuật hay luật, và thay vào đó người ta cho rằng họ nên đảm trách các ngành nghề ‘cho phái nữ’ truyền thống, chẳng hạn như làm giáo viên. Thậm chí khi họ đạt được sự thành công ngang bằng nam giới trong ngành giáo dục, thì tỷ lệ nữ giới tham gia lực lượng lao động ở nhiều quốc gia Trung Đông vẫn thua kém đáng kể so với con số này của nam giới vì nhiều lý do khác nhau. Một số nữ giới phải chịu đựng thói quen phân biệt đối xử trong công việc, từ việc bị trả lương không ngang bằng đến việc bị quấy rối tình dục. Một số nữ giới khác đơn giản lại thấy không đáng phải đấu tranh với những phiền phức mà họ phải chịu đựng hằng ngày như việc hạn chế nữ giới đi lại một mình chốn công cộng, hay những phụ nữ đã lập gia đình không nhận được bất cứ chia sẻ hay cảm thông nào từ xã hội khi họ không ở nhà để đảm trách công việc nội trợ.

Các chế độ dân chủ mới không thể tồn tại lâu dài nếu như không tạo được những bước phát triển thực sự về mặt kinh tế. Xét cho cùng, đối với một người dân bình thường dân chủ còn có nghĩa lý gì nếu như anh ta không thể tự nhận thấy được những kết quả mà nó mang lại? Chắc chắn dân chủ với anh ta mà nói sẽ chỉ đơn thuần là cứ lâu lâu lại phải đứng xếp hàng chờ đến lượt mình để đánh dấu vào một tờ giấy. Chỉ trong vòng một hay hai kỳ bầu cử, người dân sẽ bị vỡ mộng trước hệ thống và sau đó đất nước lại quay về một hình thức cai trị độc tài nào đó.

Tại Ai Cập, nhóm Huynh đệ Hồi giáo (Muslim Brotherhood) lần đầu tiên lên nắm quyền và có vẻ như hiểu được tính cấp thiết của trọng trách trên vai nên đã cử nhiều phái đoàn sang các nước khác để học hỏi những gì có thể về phát triển. Đó là dấu hiệu cho thấy họ thực sự nghiêm túc về vấn đề này. Nhưng liệu họ có thành công? Khi mà những thay đổi cần xúc tiến thì quá thiết yếu mà khung thời gian cho phép để đạt được điều đó thì lại quá ngắn ngủi? Trong khi tìm cách thực hiện các cuộc cải cách sâu rộng, họ sẽ phải đối mặt với những trở ngại lớn lao hình thành từ các nhân tố của chế độ cũ. Chẳng hạn, các cơ quan nhà nước sẽ vẫn đầy các công chức do cựu tổng thống Hosni Mubarak bổ nhiệm. Họ vẫn là một phần không thể tách rời của hệ thống mới bởi lẽ hệ thống mới không thể vận hành được nếu như nó phá bỏ hoàn toàn hệ thống cũ và xây dựng mới hoàn toàn từ con số không.

Khi thế giới ngày càng trở nên toàn cầu hóa, các chính phủ ở Trung Đông bắt đầu nhận thức được rằng họ phải đi cùng với thời đại, dù chỉ với từng bước nhỏ. Tại Ả-rập Xê-út, với cấu trúc xã hội mang đậm tính Hồi giáo, nữ giới vẫn bị buộc phải mặc trang phục che kín toàn thân khi xuất hiện tại nơi công cộng, và không được phép lái xe hơi. Nhiều địa điểm công cộng bị phân chia thành các khu riêng biệt theo giới tính. Nhưng thậm chí trong một xã hội lâu đời như thế này, tình hình cũng đang thay đổi.

Chẳng hạn, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Vua Abdullah (KAUST) được thành lập năm 2009 giống như một ốc đảo tự do trong lòng một quốc gia bảo thủ sâu sắc. Trường đã thuê Giáo sư Shih Choon Fong, người từng là phó hiệu trưởng trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS), làm hiệu trưởng. Trong phạm vi khuôn viên các khu học xá, nam giới và nữ giới được đối xử một cách bình đẳng, giống như mọi cư dân trong các xã hội theo lề lối phương Tây.

Đây là một bước đi tiến bộ, nhưng tôi không kỳ vọng những sinh viên tốt nghiệp tại KAUST đủ sức thay đổi đất nước của họ. Bạn không thể thay đổi cả một chế độ phong kiến chỉ bằng một vài thanh niên nam nữ tài năng và có học thức. Bạn phải đối mặt với nhóm giáo giới, mà ở đây là phái Wahhabi, nhóm giáo sĩ quyền lực bậc nhất và cũng bảo thủ nhất tại thế giới Ả-rập. Quyền lực của họ được giữ vững nhờ mối quan hệ cộng sinh với gia đình hoàng gia: hoàng gia được nắm trong tay của cải của cả đất nước trong khi nhóm giáo giới được bảo đảm gần như chắc chắn quyền tự tung tự tác đối với tất cả các vấn đề tôn giáo. Nhưng sau khi gặp nhà vua Abdullah, tôi tin rằng gia đình hoàng gia tại Ả-rập Xê-út hiểu rằng không thể nào giữ đất nước ở hiện trạng đóng băng trong suốt một kỷ nguyên nào đó. Họ sẽ phải tính đến phát triển quốc gia theo hướng tiến bộ. Sự thay đổi là tất yếu. Nhưng thay đổi ở tốc độ nào thì tôi không thể nói trước được. Có thể những quy tắc xã hội đang được áp dụng tại KAUST sẽ được nhân rộng tới toàn thể các khu vực xung quanh và sau đó là tất cả các khu vực thành thị.

Nhưng tại thời điểm này, đường hướng phát triển lâu dài của khu vực Trung Đông có vẻ vẫn chưa kiên định. Sau khi cuộc thử nghiệm bỏ phiếu và bầu cử hiện thời đang dần đi đến hồi kết, giải pháp đem lại sự phát triển bền vững và cung cấp công ăn việc làm cho khoảng hơn 350 triệu người vẫn còn là vấn đề tồn đọng. Tình thế trớ trêu này là điều khó tránh khỏi. Có nhiều ý kiến khẳng định rằng đây là khu vực giàu có tài nguyên thiên nhiên không đâu sánh bằng. Nhưng nhiều vùng ở khu vực này vẫn bị mắc kẹt trong vũng bùn trì trệ.

Thử thách thực sự đối với các quốc gia ở khu vực này là làm thế nào họ có thể chủ động gắn kết bản thân với thế giới bên ngoài một khi các nguồn năng lượng hữu hạn kia bị cạn kiệt. Họ cần phải chuyển đổi từ nền kinh tế lệ thuộc vào nguồn dầu mỏ dồi dào sang nền kinh tế có thể tự duy trì trên chính đôi chân mình về lâu dài, và họ phải tiến hành mục tiêu này chỉ trong phạm vi vài thập kỷ tới. Họ sẽ phải nhanh chóng cải thiện phương thức hiện tại của mình và phải tìm ra lợi thế cạnh tranh đối với các ngành công nghiệp phi khai khoáng, dù là trong lĩnh vực ngân hàng, hàng không, du lịch, sản phẩm tiêu dùng hay tổng hợp tất cả các lĩnh vực nói trên. Một trong những cách để đạt được điều này là cử những tài năng trẻ hàng đầu của họ sang làm việc trong những ngành công nghiệp này ở các thành phố của Mỹ hay Châu Âu, và sau đó, thu hút nguồn nhân lực này về quê hương nhằm xây dựng các ngành mũi nhọn tương tự trong nước.

Thật không may, nguồn dầu mỏ quá ư dồi dào lại có xu hướng nuôi dưỡng nên những bộ phận dân chúng có niềm tin rằng thế giới phải cung phụng cho cuộc sống của họ. Chính phủ của họ không may phải đảm trách công việc không ai muốn là nỗ lực huy động dân chúng làm việc và xóa bỏ tư duy ỷ lại nhu nhược này. Họ phải thuyết phục người dân rằng sự giàu có về dầu mỏ không kéo dài mãi mãi, thậm chí ngay khi tất cả doanh thu từ đó được lưu trữ trong một ngân quỹ đặc biệt và được đầu tư một cách cẩn thận. Đây là nhiệm vụ khó khăn nhất.

Cách đây một vài năm, một quốc gia tại Trung Đông đã cử một số sinh viên đến học tại Singapore, tin tưởng rằng những sinh viên đại diện cho một thế hệ mới này có thể được thay đổi tư duy. Mong ước này đã không xảy ra. Những sinh viên này đến đây không phải để tiếp thu nền văn hóa và đạo đức làm việc của chúng tôi. Họ đi rong chơi. Singapore là một chốn mới lạ đối với họ. Họ tự nhủ: “Hãy dành thời gian chơi thật vui vẻ rồi về nước”. Tại sao bạn phải lao động trong khi bạn có cả kho của cải khổng lồ như vậy nằm ngay dưới chân mình?

Trung Đông là một vùng đất tuyệt đẹp cho ta ghé chân thăm thú; nơi đây có nền văn hóa phong phú với bề dày lịch sử lâu đời và lôi cuốn. Một số quốc gia trong khu vực giáp ranh với phía Nam của Châu Âu, chẳng hạn như Ma-rốc hay Tunisia, là nơi giao thoa và náo nhiệt, đồng thời cũng cởi mở hơn so hơn các quốc gia khác ở Trung Đông.

Khi tôi đến thăm Iran theo lời mời của vua Mohammad Reza Pahlavi trước khi ông bị lật đổ. Tôi được sắp xếp cho nghỉ tại một trong những cung điện của vị vua này. Tôi vẫn còn nhớ những tấm thảm ở đó – chúng đẹp đến nỗi ước gì tôi có thể sở hữu chúng. Tôi sẽ treo chúng lên tường để trưng bày. Nhưng tại cung điện này, bạn dẫm chân trên những tấm thảm ấy. Họ có rất nhiều thợ dệt. Khi đến lượt ông đến thăm Singapore, ông đưa cho Tổng thống Benjamin Sheares lúc đó một tấm thảm lớn và cho tôi một tấm thảm nhỏ, cả hai tấm thảm đều có hoa văn tương tự, đều làm bằng tơ lụa. Tấm thảm được tặng cho tôi hiện giờ đang được để tại nhà con trai tôi. Nó được trải trên sàn nhà. Nhưng sau đó, người ta đi chân không lên tấm thảm và các sàn nhà đều sạch sẽ.

Quốc gia ở Trung Đông mà tôi biết nhiều nhất là Ai Cập. Tôi từng lưu lại tại một trong những cung điện của Vua Farouk khi tổng thống Gamal Abdel Nasser Hussein mời tôi đến thăm. Nasser là một người hiện đại và sống khiêm tốn, mặc dù đã không thành công trong việc giải phóng người dân của mình. Ông đã xây dựng đập Aswan với sự giúp đỡ của người Nga, đây là một thành tựu lớn bởi vì con đập này kiểm soát lũ lụt và cung cấp năng lượng. Họ đưa tôi đến con đập này trên một phi cơ riêng và tôi đã ở đó một vài ngày – đây là một nơi rất khô và yên tĩnh. Tôi nghĩ rằng nếu bạn đi đến sa mạc Gobi hay Grand Canyon (Hẻm Núi lớn), có lẽ bạn sẽ có cảm giác tương tự như vậy. Sự khác biệt duy nhất là ở chỗ, khi bạn rời khỏi sa mạc Gobi, bạn sẽ thấy một xã hội nhộn nhịp với nhịp sống sôi động và lao động không ngừng nghỉ. Và khi bạn rời khỏi Grand Canyon, bạn sẽ thấy giấc mơ Mỹ đang hiện ra trước mặt bạn.
 

Những phẩm chất cần có của một nhà lãnh đạo vĩ đại

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Kishore Mahbubani & Klaus Schwab, “What Makes a Great Leader?”, Project Syndicate, 09/08/2017.

Biên dịch: Đậu Thế Hoàng | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Cách đây không lâu, trong một bữa tối ở Singapore, chúng tôi đã cố xác định những phẩm chất nào sẽ giúp tạo nên một nhà lãnh đạo vĩ đại. Đối với Klaus, có năm yếu tố cốt lõi là trái tim, trí tuệ, sức khỏe, can đảm và tâm hồn. Còn với Kishore, lòng thương cảm, tính cẩn trọng và sự dũng cảm là cốt yếu, tương tự là khả năng xác định tài năng và hiểu được các vấn đề phức tạp. Phạm vi của sự trùng lặp giữa hai ý kiến nói lên được nhiều điều.

Việc hai danh sách trên đều bắt đầu với “trái tim” hoàn toàn không phải là tình cờ. Như lời Nelson Mandela và Mahatma Gandhi, một nhà lãnh đạo không thể trở nên vĩ đại mà không thể hiện sự cảm thông sâu sắc với đồng bào mình, một thái độ giúp tiếp lửa cho cuộc đấu tranh chống lại bất công mà những người dân đó đang phải đối mặt.

Các nhà lãnh đạo anh hùng như vậy dường như không xuất hiện trong các giai đoạn bình thường. Song giai đoạn hiện nay không hề bình thường. Trái lại, tình trạng bất bình đẳng chưa từng có tiền lệ ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới chính là thứ bất công có thể thôi thúc sự trỗi dậy của những nhà lãnh đạo vĩ đại với lòng thương cảm dành cho tầng lớp dưới đáy xã hội. Thủ tướng Canada Justin Trudeau, vị lãnh đạo trẻ đang làm lan tỏa hi vọng trong thời điểm hiện nay, đắc cử một phần là nhờ việc ông cam kết hỗ trợ những người dân bình thường.

Kế đến là “trí tuệ”, khả năng sàng lọc từ khối lượng lớn thông tin mà chúng ta liên tục nhận được để đưa ra các quyết định khôn ngoan trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và phức tạp. Ở đây, một số nhà lãnh đạo hiện nay đang bộc lộ rất nhiều tài năng đó.

Ví dụ, sự phát triển và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ phản ánh thực tế rằng Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Narendra Modi đều hiểu rõ những thách thức và cơ hội xã hội và kinh tế đến từ cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư. Họ biết rằng, trong bối cảnh phức tạp này, đất nước họ cần phát triển các ngành công nghiệp mới năng động nhằm đưa nền kinh tế của nước mình dẫn đầu các tiến bộ về khoa học và công nghệ.

Việc sử dụng công nghệ mới một cách thông minh cũng góp phần giảm nghèo. Một tỷ người dân Ấn Độ đã đăng ký làm thẻ chứng minh nhân dân điện tử Aadhaar, và giờ họ có thể tiếp cận trực tiếp các phúc lợi mà không gặp bất cứ rào cản hành chính nào. Một tỷ người dân Trung Quốc đang sử dụng điện thoại thông minh để thanh toán trực tuyến nay đã có thể tiếp cận trực tiếp tất cả các loại sản phẩm tiêu dùng để nâng cao đời sống của mình.

Hiện vẫn chưa có ai có thể định lượng chính xác mức độ gia tăng thịnh vượng mà các tiến bộ công nghệ mang lại là bao nhiêu. Song sự lạc quan ở Trung Quốc và Ấn Độ đều đang gia tăng. Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew, 87% người dân Trung Quốc cảm thấy lạc quan về điều kiện kinh tế hiện nay của nước mình, trong đó có 82% tin rằng con cái họ sẽ khá giả hơn họ hiện nay. Tương tự, 83% người dân Ấn Độ cảm thấy lạc quan về nền kinh tế, và 76% trong số đó nghĩ rằng con cái họ sẽ dư giả hơn mình trong tương lai.

Phẩm chất quan trọng thứ ba của một nhà lãnh đạo vĩ đại là lòng dũng cảm – hay dũng khí theo cách gọi của Klaus. Làn sóng người tị nạn ở châu Âu, đặc biệt là những người tị nạn Syria trong năm 2015, đã dẫn tới sự bùng nổ của tư tưởng dân tuý, khi các nhà lãnh đạo chính trị gia tăng kêu gọi đóng cửa biên giới. Những lãnh đạo yếu sẽ chịu khuất phục trước áp lực, hoặc là sẽ đồng nhất luận điệu của mình với tư tưởng của các nhà dân tuý, hoặc là bị đè bẹp bởi các đối thủ hung hăng của họ.

Thủ tướng Đức Angela Merkel lại không giống vậy. Điển hình là việc bà thông qua việc tiếp nhận một triệu người tị nạn. Thoạt tiên, vị thế của bà trước cử tri – và thậm chí vị thế của nhiều thành viên trong đảng của bà – đã sụt giảm, tới mức nhiều người bắt đầu viết điếu văn chính trị cho bà. Song sự dũng cảm đáng nể của bà cuối cùng lại cho trái ngọt. Giờ đây bà được coi là một trong những vị lãnh đạo quyền lực nhất trong thời đại của chúng ta.

Với cách làm điềm tĩnh của riêng mình, Tổng thống Indonesia Joko “Jokowi” Widodo cũng cho thấy được lòng can đảm tương tự. Indonesia, giống như châu Âu, đang phải đương đầu với áp lực gia tăng từ các quan điểm ủng hộ chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa dân tuý vốn đang tìm cách thay thế năm nguyên tắc của lòng khoan dung – hay còn gọi là “Pancasila” – vốn là nền móng tư tưởng cho nhà nước Indonesia.

Việc bỏ tù cựu Thống đốc Jakarta Basuki Tjahaja Purnama, hay còn gọi là Ahok, đồng minh chính trị của Jokowi, vì tội phỉ báng Hồi giáo đã khiến áp lực ấy thêm trầm trọng. Tuy nhiên, Jokowi, giống như Merkel, vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại những người theo chủ nghĩa cực đoan, thậm chí còn đặt nhóm cực đoan Hizb ut-Tahrir ra ngoài vòng pháp luật.

Dĩ nhiên, việc biến lòng dũng cảm thành chuyển biến tích cực đòi hỏi phải có sức mạnh – ảnh hưởng và thẩm quyền để hành động – điều cần tới sự hiểu biết sâu sắc về thực tế chính trị. Phẩm chất tinh tế như vậy đóng vai trò thiết yếu mang lại một sự chuyển dịch mạnh mẽ trong hệ thống chính trị Ireland, khi một đất nước bảo thủ sâu sắc đã bầu Leo Varadkar, một người đồng tính gốc Ấn Độ, làm thủ tướng nước này.

Giáo hoàng Francis cho thấy cách kết hợp những phẩm chất này lại với nhau nhằm tạo nên một nhà lãnh đạo mạnh mẽ như thế nào. Sắc sảo, dũng cảm, đạo đức và trí tuệ là nền tảng củng cố cho nỗ lực của ông trong việc thay đổi vị thế và nhận thức về Giáo hội Công giáo La Mã trên thế giới.

Chẳng hạn, trong khi truyền thống cấm Giáo hoàng ủng hộ vấn đề đồng tính, Giáo hoàng Francis lại can đảm nói rằng: “Nếu một người đồng tính sẵn sàng tìm tới Chúa, tôi là ai mà có thể phán xét người đó?” Tương tự, Giáo hoàng Francis đã phá vỡ nguyên tắc truyền thống của Giáo hội khi đề xuất rằng những phụ nữ bị nhiễm virus Zirka vốn đang hoành hành nhiều nơi ở Mỹ La-tinh trong năm vừa qua có thể áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo.

Nói rộng hơn, Giáo hoàng Francis đã cho thấy được sự dũng cảm và tầm vóc trí tuệ của mình khi ủng hộ một cấu trúc giáo hội phi tập trung hơn, đồng thời mong đợi một giáo hội bao trùm, là “mái ấm cho tất cả mọi người.” Trong một động thái khôn ngoan khác, ông đã từ từ thay máu một số các chức sắc tại Vatican thay vì thay đổi tất cả cùng một lúc.

Giáo hoàng Francis còn sở hữu một thứ mà Klaus gọi là linh hồn của một nhà lãnh đạo. Đa phần các lãnh đạo không thể cưỡng lại những cám dỗ hấp dẫn khi tại nhiệm, lúc này hay lúc khác. Song Giáo hoàng vẫn tiếp tục sống một cuộc sống đơn giản và khoáng đạt mà không cần những thứ tài sản vốn gắn liền với vị trí lãnh đạo, thậm chí ngay cả trong phạm vi tôn giáo.

Trong một thế giới đang thay đổi với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết, chúng ta cần tìm kiếm những nhà lãnh đạo sẵn sàng bảo vệ và phục vụ những lợi ích của người dân mà họ đại diện. Điều này không chỉ có nghĩa là cần chỉ trích các khuyết điểm của những lãnh đạo yếu kém, mà còn cần nêu bật sự thành công của những nhà lãnh đạo vĩ đại. Họ có thể hiếm gặp, nhưng vẫn hiện hữu , và chúng ta nên tôn vinh những con người này.

Kishore Mahbubani, Hiệu trưởng Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu tại Đại học Quốc gia Singapore, là đồng tác giả với Jeffery của cuốn sách The ASEAN Miracle: A Catalyst for Peace. Ông được bình chọn là một trong 50 nhà tư tưởng hàng đầu thế giới năm 2014 bởi tạp chí Prospect.

Klaus Schwab là nhà sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới, là tác giả cuốn The Fourth Industrial Revolution.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập13
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm11
  • Hôm nay5,531
  • Tháng hiện tại74,918
  • Tổng lượt truy cập4,127,140
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây