05/08/1858: Tuyến cáp điện báo xuyên Đại Tây Dương đầu tiên

Thứ tư - 07/08/2019 02:47
Máy điện báo được phát triển đầu tiên bởi Samuel F. B. Morse, một nghệ sĩ kiêm nhà phát minh, người đã nghĩ ra ý tưởng về máy điện báo vào năm 1832. Một số nhà phát minh châu Âu đã đề xuất một thiết bị như vậy, nhưng Morse đã làm việc độc lập và đến giữa những năm 1830 đã chế tạo được một dụng cụ điện báo có thể hoạt động.
05/08/1858: Tuyến cáp điện báo xuyên Đại Tây Dương đầu tiên
05/08/1858: Tuyến cáp điện báo xuyên Đại Tây Dương đầu tiên


Nguồn: First transatlantic telegraph cable completedHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào ngày này năm 1858, sau nhiều nỗ lực không thành công, đường dây điện báo đầu tiên xuyên Đại Tây Dương đã hoàn thành, một kỳ tích đạt được phần lớn nhờ nỗ lực của thương gia người Mỹ Cyrus West Field.
Máy điện báo được phát triển đầu tiên bởi Samuel F. B. Morse, một nghệ sĩ kiêm nhà phát minh, người đã nghĩ ra ý tưởng về máy điện báo vào năm 1832. Một số nhà phát minh châu Âu đã đề xuất một thiết bị như vậy, nhưng Morse đã làm việc độc lập và đến giữa những năm 1830 đã chế tạo được một dụng cụ điện báo có thể hoạt động.
Vào cuối những năm 1830, ông đã hoàn thiện Mã Morse, một tập hợp các tín hiệu có thể biểu thị ngôn ngữ dưới dạng các thông điệp điện báo. Vào tháng 05 năm 1844, Morse đã khánh thành đường dây điện báo thương mại đầu tiên trên thế giới với thông điệp “Những gì con có đều do Chúa ban” (What hath God wrought) được gửi đi từ Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ tới một nhà ga đường sắt ở Baltimore. Trong vòng một thập niên, hơn 20.000 dặm cáp điện báo đã được giăng trên khắp đất nước. Khả năng liên lạc nhanh chóng mà nó tạo ra đã giúp ích rất nhiều cho việc mở rộng của nước Mỹ, giúp việc đi lại bằng đường sắt trở nên an toàn hơn vì nó thúc đẩy hoạt động kinh doanh được tiến hành trên những khu vực xa xôi của một nước Mỹ đang phát triển.
Năm 1854, Cyrus West Field đã tiếp thu ý tưởng về cáp điện báo và đã thuê một con tàu để đặt một đường dây được cách điện tốt dưới đáy Đại Tây Dương. Nhận được sự hỗ trợ của các tàu hải quân Anh và Mỹ, ông đã thực hiện bốn lần thử nghiệm không thành công, bắt đầu vào năm 1857. Vào tháng 07 năm 1858, bốn tàu của Anh và Mỹ – tàu Agamemnon, Valious, Niagara và Gorgon – đã gặp nhau giữa đại dương để thực hiện nỗ lực lần thứ năm.
Vào ngày 29 tháng 07, tàu Niagara và Gorgon, với tải trọng cáp của mình, đã khởi hành đến Vịnh Trinity, Newfoundland, trong khi tàu Agamemnon và Valious đã đi tới Valentia, Ireland. Vào ngày 05 tháng 08, cáp đã được đặt thành công, kéo dài gần 2.000 dặm qua Đại Tây Dương ở độ sâu trung bình hơn hai dặm. Vào ngày 16 tháng 08, Tổng thống James Buchanan và Nữ hoàng Victoria đã trao đổi những thông điệp chào hỏi ngoại giao cho nhau. Thật không may, đường cáp tỏ ra yếu và dòng điện không đủ mạnh, và đến đầu tháng 09 đã ngừng hoạt động.
Field sau đó đã gây được những nguồn quỹ và thỏa thuận mới. Năm 1866, tàu Great East của Anh đã thành công trong việc đặt đường dây điện báo cố định đầu tiên xuyên Đại Tây Dương. Cyrus West Field nhận được nhiều lời ca ngợi ở cả hai bờ Đại Tây Dương vì sự kiên trì của ông trong việc hoàn thành điều mà nhiều người cho là nhiệm vụ bất khả thi. Sau đó, ông đã thúc đẩy các tuyến cáp xuyên đại dương khác, bao gồm các đường dây điện báo kéo dài từ Hawaii đến Châu Á và Châu Úc.
Khoảng cách thế hệ trong chính trị Âu – Mỹ


Nguồn: Joseph E. Stiglitz, “The New Generation Gap”, Project Syndicate, 16/03/2016.
Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Một điều thú vị đã xuất hiện trong mẫu hình bầu cử trên cả hai bờ Đại Tây Dương (ở cả châu Âu và Mỹ): Cách những người trẻ bỏ phiếu khác biệt rõ rệt so với những người lớn tuổi. Có vẻ như một sự phân chia rõ rệt đã xuất hiện, không dựa nhiều vào thu nhập, giáo dục, hay giới tính mà phụ thuộc vào việc người bỏ phiếu thuộc thế hệ nào.
Sự phân chia này xuất phát từ những nguyên nhân dễ hiểu. Thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi hiện nay có cuộc sống khác nhau. Quá khứ của họ khác nhau, và cả những triển vọng của họ cũng khác nhau.
Ví dụ, cuộc Chiến tranh Lạnh đã kết thúc thậm chí trước cả khi nhiều người trong số họ ra đời và số khác thì vẫn là những đứa trẻ. Những từ ngữ như chủ nghĩa xã hội không còn mang ý nghĩa như trước nữa. Nếu chủ nghĩa xã hội nghĩa là tạo ra một xã hội nơi những mối quan tâm chung không bị phớt lờ – nơi con người quan tâm tới nhau và tới môi trường sống – vậy thì hãy thực hiện nó. Có thể đúng là đã có những thử nghiệm thất bại với khái niệm đó từ cách đây 25 hoặc 50 năm; nhưng những thử nghiệm của ngày hôm nay không có gì giống với những thử nghiệm trong quá khứ. Vì thế những thất bại trong quá khứ chẳng nói lên điều gì về hiện tại cả.
Những người lớn tuổi thuộc tầng lớp thượng-trung lưu ở châu Âu và Mỹ đã có một cuộc sống tốt. Khi họ mới tham gia vào lực lượng lao động, những công việc lương tốt đang chờ đợi họ. Câu hỏi họ đặt ra là mình muốn làm gì, chứ không phải họ sẽ phải sống cùng cha mẹ trong bao lâu cho tới khi tìm được một công việc (lương tốt) có thể giúp họ chuyển ra ở riêng.
Thế hệ đó kỳ vọng có công việc ổn định, kết hôn sớm, mua một căn nhà – và có thể là cả một căn nhà dành riêng cho việc nghỉ nghè nữa – và cuối cùng là một chế độ an sinh hưu trí hợp lý. Nhìn chung, họ kỳ vọng vào một cuộc sống tốt hơn thế hệ cha mẹ mình.
Tuy thế hệ những người lớn tuổi hơn cũng phải đối mặt với những trở ngại trong cuộc sống, nhưng hầu hết họ đều đạt được những kỳ vọng của mình. Họ có thể kiếm lời từ các khoản vốn đầu tư vào nhà cửa còn nhiều hơn từ công việc. Họ chắc cũng thấy điều đó lạ lùng, nhưng họ vẫn vui vẻ chấp nhận món quà đó từ các thị trường đầu cơ, và thường tự khen bản thân vì đã có những quyết định mua nhà đúng nơi, đúng lúc.
Ngày nay, kỳ vọng của người trẻ, dù thu nhập của họ nằm ở mức nào, lại trái ngược so với những điều trên. Họ luôn phải đối mặt với sự bất định trong công việc. Mặt bằng chung là nhiều sinh viên mới ra trường sẽ phải tìm kiếm trong nhiều tháng trước khi có được một công việc – thường là sau khi chấp nhận một vài tháng thực tập không lương. Và họ nghĩ bản thân mình may mắn, bởi họ biết rằng nhiều bạn cùng trang lứa có hoàn cảnh khó khăn hơn, một số trong đó học rất tốt ở trường, không thể trụ được từ một đến hai năm mà không có thu nhập, và cũng chẳng có mối quan hệ nào để được nhận cơ hội thực tập.
Hiện nay, nhiều cử nhân mới ra trường bị gánh nặng nợ nần – họ càng có hoàn cảnh khó khăn thì số nợ càng lớn. Vì thế họ không đòi hỏi một công việc như mong muốn; họ đơn giản chỉ cần một công việc cho phép họ trả được những khoản nợ học phí đại học, thường là gánh nặng cho họ trong vòng 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Tương tự, chuyện mua nhà đối với họ là một giấc mơ xa vời.
Những khó khăn này đồng nghĩa với việc những người trẻ sẽ không suy nghĩ nhiều đến chuyện nghỉ hưu. Nếu nghĩ tới, họ sẽ chỉ càng thêm hoảng sợ về số tiền họ cần phải tích lũy để có một cuộc sống tử tế (không dựa vào an sinh xã hội cơ bản), trong bối cảnh lãi suất thường xuyên ở mức thấp sát đáy.
Tóm lại, người trẻ bây giờ nhìn thế giới qua lăng kính của sự công bằng xuyên thế hệ. Con cái của tầng lớp thượng-trung lưu có thể vẫn sống tốt, bởi họ được thừa hưởng gia tài từ cha mẹ. Mặc dù có thể họ không thích sự phụ thuộc này, họ còn ghét phải đối mặt với khả năng còn lại hơn: một “khởi đầu mới” khi mà may mắn không đứng về phía họ trên chặng đường gây dựng những điều gần với thứ đã từng được coi là một mức sống trung lưu cơ bản.
Những sự bất bình đẳng này không dễ mà giải thích ngay được. Không phải là những người trẻ hiện nay không làm việc chăm chỉ: khó khăn này ảnh hưởng tới cả những người học tập rất chăm chỉ, có thành tích tốt ở trường, và luôn làm điều “đúng đắn”. Ý thức về sự bất công xã hội – rằng cuộc chơi kinh tế đã bị gian lận – càng tăng thêm khi họ chứng kiến những nhân viên ngân hàng, những người gây ra khủng hoảng tài chính và là nguyên nhân của tình trạng kinh tế bất ổn triền miên, vẫn ung dung với những khoản tiền thưởng và hầu như chẳng ai phải chịu trách nhiệm gì cho những việc làm sai trái của mình. Đã có một vụ lừa đảo trên quy mô lớn, nhưng theo cách nào đó, chẳng ai là thủ phạm thực sự cả. Giới tinh hoa chính trị hứa hẹn rằng “những cải cách” sẽ mang lại sự thịnh vượng chưa từng có. Và họ đã làm được điều đó, nhưng chỉ cho 1% số người thuộc tầng lớp trên. Những người khác, bao gồm giới trẻ, đang trải qua sự bất an chưa từng có.
Ba thực tế – sự bất công xã hội ở một quy mô chưa từng có, sự bất bình đẳng trên diện rộng, và sự mất niềm tin vào giới tinh hoa – đã định hình bối cảnh chính trị của chúng ta, một cách thỏa đáng.
Gia tăng những điều tương tự như trên sẽ không cho ta một câu trả lời. Đó là lý do tại sao các đảng trung tả và trung hữu ở châu Âu đang thất thế. Mỹ đang ở một tình thế kỳ lạ: trong khi các ứng cử viên tranh cử tổng thống đảng Cộng hòa cạnh tranh bằng sự mị dân, với những đề xuất thiếu cân nhắc có thể khiến mọi vấn đề trở nên tồi tệ hơn, thì cả hai cử ứng viên của Đảng Dân chủ đang đề xuất những thay đổi – chỉ khi chúng được Quốc hội thông qua – (được cho là) sẽ tạo nên sự khác biệt đích thực.
Nếu những cải cách do Hillary Clinton hay Bernie Sanders đưa ra được thông qua, khả năng của hệ thống tài chính trong việc gây bất lợi cho những người vốn đã có một cuộc sống bấp bênh sẽ được hạn chế. Đồng thời cả hai đã đề xuất những cải cách sâu sắc sẽ làm thay đổi việc tài trợ cho giáo dục đại học của Mỹ.
Tuy nhiên, rất nhiều điều cần phải được giải quyết để biến việc sở hữu nhà trở thành trong tầm tay không chỉ với những người trẻ được cha mẹ cho một khoản tiền trả trước, đồng thời an sinh hưu trí cũng phải trở nên khả thi trong bối cảnh những thay đổi bất thường của thị trường chứng khoán và tình trạng lãi suất thấp gần bằng không mà chúng ta đang trải qua. Quan trọng nhất là thế hệ trẻ sẽ không tìm được con đường êm ái nào để gia nhập thị trường việc làm trừ khi nền kinh tế có dấu hiệu khởi sắc. Tỉ lệ thất nghiệp “chính thức” ở Mỹ là 4,9%, che đậy tỉ lệ thất nghiệp không chính thức cao hơn nhiều, điều chí ít là đang kéo mức lương xuống thấp.
Tuy nhiên chúng ta sẽ không thể giải quyết được vấn đề nếu không nhận ra nó. Những người trẻ nhận ra nó. Họ nhận thấy sự thiếu công bằng giữa các thế hệ, và họ đã đúng khi giận dữ.
Joseph E. Stiglitz, đoạt giải Nobel Kinh tế và giáo sư tại Đại học Columbia, là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Bill Clinton và từng là Phó Chủ tịch Cao cấp và Kinh tế Trưởng của Ngân hàng Thế giới. Quyển sách gần đây nhất của ông, đồng tác giả với Bruce Greenwald, là quyển Xây dựng Xã hội Học tập: Phương pháp Mới để Tăng trưởng, Phát triển và Tiến bộ Xã hội.
Copyright: Project Syndicate 2016 – The New Generation Gap
Cuộc chiến tranh lạnh ở Trung Đông


Nguồn: Bernard Haykel, “The Middle East’s Cold War,” Project Syndicate, 08/01/2015.
Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Sự rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Iran và Ả-Rập Xê-út là một bước ngoặt nguy hiểm cho một khu vực vốn đã bất ổn và bị chiến tranh tàn phá. Nguyên do xuất phát từ việc Ả-rập Xê-út tử hình Nimr al-Nimr, một lãnh tụ người Shia có khuynh hướng bạo động vốn kêu gọi chấm dứt chế độ quân chủ ở quốc gia này. Nhưng sự tan vỡ đó lại có nguồn gốc từ sự thù địch chiến lược đang trải rộng trên khắp Trung Đông.
Tình trạng căng thẳng giữa hai quốc gia đã có từ nhiều thập niên, nhưng chúng trở nên đặc biệt gay gắt kể từ sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979 của Iran. Thủ lĩnh cuộc cách mạng, Ayatollah Ruhollah Khomeini, đã không giấu giếm sự khinh miệt của ông trước hoàng gia Ả-rập; ông nhanh chóng xây dựng vị thế của Iran với tư cách người bảo vệ “những người bị đàn áp” trước “các lực lượng ngạo mạn” – Mỹ và đồng minh của nó trong khu vực, Ả-Rập Xê-út và Israel.
Nhưng dù sự thù địch đó có nhiều yếu tố sắc tộc và ý thức hệ, trên tất thảy, nó là mối bất hòa mang tính thực dụng về những lợi ích trong khu vực. Bởi Iran coi trật tự chính trị trong thế giới Ả-rập là phương tiện phục vụ cho những lợi ích của kẻ thù mình, nên nước này sẽ không ngừng tìm cách lật đổ trật tự đó, thúc đẩy các nhóm khủng bố và triển khai các lực lượng ủy nhiệm nhằm thiết lập và mở rộng ảnh hưởng trong khu vực. Các chủ thể phi nhà nước được Iran ủng hộ gồm những người hành hương bạo loạn ở thánh địa Mecca, những kẻ đánh bom liều chết ở Li-băng, và các chiến binh Hezbollah, những người đã tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào Israel và gần đây hơn là chiến đấu chống các nhóm nổi dậy được Ả-rập Xê-út hậu thuẫn ở Syria.
Cho đến khi bước sang thế kỷ 21, phản ứng của Ả-rập Xê-út vẫn rất hờ hững; nước này tìm cách thiết lập tính chính danh Hồi giáo của mình thông qua việc cưỡng chế thực thi nghiêm ngặt các mệnh lệnh tôn giáo trong nước và ủng hộ phong trào giải phóng người Hồi giáo ở nước ngoài, đáng chú ý nhất là ở Afghanistan và Bosnia. Nhưng trong những thập niên gần đây, chiến tranh lạnh giữa hai thế lực trong khu vực đã dần được nung nóng.
Sau khi cuộc xâm lược Iraq của Mỹ năm 2003 dẫn đến sự thành lập một chính phủ do người Hồi giáo Shia thống trị ở Baghdad, các nhà cai trị Ả-rập Xê-út đã phải cảnh giác khi Iran mở rộng ảnh hưởng của mình trên khắp Trung Đông. Năm 2006, Hezbollah đã tấn công Israel cho đến khi ngừng bắn ở Li-băng. Sau đó, năm 2014, các phiến quân dòng Shia Houthi – một nhóm quân ủy nhiệm khác của Iran – đã xâm chiếm thủ đô Yemen. Trong những cung điện hoàng gia ở Riyadh, viễn cảnh các cuộc nổi loạn được Iran hậu thuẫn tại Ba-ranh – hay tại chính Ả-rập Xê-út – đã bắt đầu trở nên khả thi một cách đáng lo ngại.
Mọi thứ lên đến đỉnh điểm vào năm 2015, khi Mỹ và năm thành viên thường trực khác của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (cộng thêm Đức) đạt được một thỏa thuận hạt nhân với Iran, đồng ý dỡ bỏ các lệnh trừng phạt kinh tế trong khi vẫn cho phép quốc gia này duy trì ảnh hưởng của mình trong khu vực. Do các đồng minh của Iran hoặc các tổ chức được họ ủy nhiệm hoạt động ở Syria, Iraq, Li-băng và Yemen, các nhà lãnh đạo Ả-rập Xê-út đã cảm thấy ngày càng bị bao vây. Sau khi Salman bin Abdulaziz Al Saud lên ngôi tháng 1 năm 2015, mục tiêu chiến lược cơ bản của vương quốc này là đẩy lùi ảnh hưởng của Iran – dù có hay không sự giúp đỡ của Mỹ.
Chiến trường chính của sự thù địch này là Syria và Yemen. Ở Syria, Ả-rập Xê-út đã tự mình tìm cách lật đổ chính quyền tổng thống Bashar al-Assad, một đồng minh quan trọng của Iran, và tiến hành thống nhất các nhóm đối lập vốn cực kỳ vô tổ chức. Về phần mình, Iran tiếp tục chống lưng cho Assad với sự trợ giúp của Nga.
Cuộc chiến đã biến thành một vũng lầy. Với việc không bên nào có thể giành được thế thượng phong, bạo lực nhiều khả năng sẽ vẫn tiếp diễn. Một nỗ lực gần đây do Mỹ dẫn đầu nhằm môi giới một thỏa thuận hòa bình ở Li-băng, được triển khai với hy vọng nó có thể đem đến một bước đột phá ở Syria, đã trở thành nạn nhân của sự ngờ vực giữa hai quốc gia này. Thỏa thuận phân chia quyền lực được đề xuất đáng lẽ đã thay thế chính quyền Assad bằng một trong các đồng minh của ông và đồng thời đưa một đồng minh lâu năm của Ả-rập Xê-út lên làm thủ tướng. Nhưng trong khi Ả-rập Xê-út có vẻ đã sẵn sàng chấp nhận thỏa thuận thì Iran lại bác bỏ nó sau khi Hezbollah ngần ngại trước cả hai ứng cử viên.
Ở Yemen, Ả-rập Xê-út và các đồng minh Sunni của mình đã triển khai một chiến dịch quân sự vào tháng 3 năm 2015 nhưng nhanh chóng gặp phải một bế tắc khác. Các chiến binh Houthi thân Iran và các lực lượng trung thành với cựu Tổng thống Ali Saleh đã đẩy lui một nhóm quân người miền Nam Yemen được hậu thuẫn bởi các lực lượng đặc nhiệm và không quân Ả-rập Xê-út và các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất. Các cuộc đàm phán nhằm giải quyết cuộc xung đột nói trên đều đổ vỡ. Do không có một cuộc xâm lược toàn diện – điều rất ít khả năng xảy ra do nguy cơ gây thương vong trên quy mô lớn – nên cuộc chiến gần như chắc chắn sẽ kéo dài.
Việc Ả-rập Xê-út tử hình al-Nimr là một phần của chiến dịch đàn áp rộng lớn hơn lên các thế lực đối lập trong nước; vị lãnh tụ Hồi giáo này là một trong 47 người bị xử tử với cáo buộc khủng bố, trừ 4 người trong số đó thì tất cả đều là những chiến binh Sunni bị cáo buộc ủng hộ Al Qaeda. Phản ứng của Iran và những bên ủng hộ nước này – với các cuộc biểu tình bạo lực chống Ả-rập Xê-út không chỉ xảy ra ở Tehran, nơi đại sứ quán của vương quốc này đã bị đốt phá, mà còn ở cả Iraq và Ba-ranh – đã cho thấy mức độ sâu sắc của tình trạng thù địch ăn sâu bén rễ giữa hai nước.
Trong ngắn hạn, phản ứng của Iran sẽ có lợi cho các nhà cai trị Ả-rập Xê-út, giúp nước này tập hợp những người Sunni ở cả trong vương quốc cũng như ở ngoài nước và bịt miệng những đối thủ thánh chiến của họ. Tuy nhiên, nếu không có sự can thiệp nào đó từ bên ngoài nhằm đưa hai quốc gia này ngồi vào bàn đàm phán, tình trạng thù địch của họ sẽ làm hỏng những nỗ lực bình ổn Trung Đông và có thể dẫn đến những tác động lan tỏa và leo thang, khiến môi trường vốn đã tồi tệ của khu vực ngày càng trở nên trầm trọng hơn.
Bernald Haykel là giáo sư ngành Nghiên cứu Cận Đông tại Đại học Princeton.
06/08/1890: Vụ tử hình bằng ghế điện đầu tiên


Nguồn: First execution by electric chairHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1890, tại nhà tù Auburn ở New York, vụ tử hình bằng ghế điện đầu tiên trong lịch sử đã được thực hiện đối với William Kemmler, kẻ bị kết án giết tình nhân của mình, Matilda Ziegler, bằng rìu.
Sử dụng điện giật như một phương thức hành hình nhân đạo được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1881 bởi Nha sĩ Albert Southwick. Southwick đã chứng kiến một người say rượu lớn tuổi “chết không đau đớn” sau khi chạm vào các thiết bị đầu cuối của một máy phát điện ở Buffalo, New York. Hình thức xử tử phổ biến thời bấy giờ là treo cổ – tội nhân sẽ bị treo lơ lửng trong vòng 30 phút trước khi chết vì ngạt thở.
Năm 1889, Luật Tử hình bằng điện New York (New York’s Electrical Execution Law), đạo luật đầu tiên trên thế giới về cách tử hình này, có hiệu lực, và Edwin R. Davis, thợ điện của nhà tù Auburn, được giao nhiệm vụ thiết kế một chiếc ghế điện. Gần giống với ghế điện tử hình thời hiện đại, chiếc ghế do Davis chế tạo được gắn hai điện cực, bao gồm các đĩa kim loại được giữ bằng cao su và được phủ một miếng bọt biển ẩm. Điện cực sau đó sẽ được gắn vào đầu và lưng tội phạm.
Ngày 06/08/1890, William Kemmler trở thành người đầu tiên bị tử hình trên ghế điện. Sau khi anh ta bị buộc dây, một điện áp khoảng 700 volt được cung cấp chỉ trong 17 giây trước khi dòng điện bị ngắt. Mặc dù các nhân chứng nói rằng họ ngửi thấy mùi quần áo cháy và thịt cháy, nhưng Kemmler vẫn chưa chết, và một cú sốc điện thứ hai đã được chuẩn bị. Điện áp lần thứ hai là 1.030 volt và kéo dài khoảng hai phút, người ta đã thấy khói tỏa ra từ đầu của Kemmler, kẻ rõ ràng đã chết. Khám nghiệm tử thi cho thấy điện cực gắn trên lưng hắn đã đốt cháy đến cột sống.
Tiến sĩ Southwick đã hoan nghênh việc xử tử Kemmler, tuyên bố rằng “Chúng ta sống trong một nền văn minh cao hơn kể từ hôm nay,” trong khi nhà phát minh người Mỹ, George Westinghouse, một nhà cải cách sử dụng điện, lại nhận xét “Họ đáng lẽ sẽ làm tốt hơn với một chiếc rìu.”



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Lê Duẩn là hảo hán

Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: ‘Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc’ Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và...

Thống kê
  • Đang truy cập8
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm7
  • Hôm nay1,419
  • Tháng hiện tại38,786
  • Tổng lượt truy cập3,268,939
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây