Hò khoan Lệ Thủy (tiếp theo)

Chủ nhật - 27/09/2020 02:40
Câu hò sáng tác của mẹ tôi thường hò thời trẻ: " Bợc (1) Xuân Bồ càng cao, càng lở; đò Dinh Trạm (2) càng chở càng đông. Ai nói với eng (3), tui (4) đã có chồng. Cầm hèn chi phải (5) đem tấm lòng giả lơ (6). Giả lơ đi kẻo thế gian ngờ; chớ (7) lòng đây thương đó, biết cơ hội nào!Chú thích: (1) Bậc, (2) Làng Thuận Trạch bây giờ, (3) Anh, (4) tôi, Thế mà, (6) giả quay mặt đi(7) chứ
Hò khoan Lệ Thủy (tiếp theo)

Hò Khoan Lệ Thủy

         Nếu ai đã có dịp ghé thăm miền quê trù phú Lệ Thủy trong những ngày hội hò cổ truyền, chắc không khỏi cảm thấy rạo rực, xao xuyến tâm hồn khi được nghe những làn điệu thuộc Tổ hợp Hò Khoan Lệ Thủy (HKLT) - dân ca Quảng Bình.

            Tổ hợp dân ca này là một hợp thành của sáu làn điệu hò khoan1 (còn được gọi là Hò Khoan Sáu Mái2), do quần chúng nhân dân lao động sáng tạo, nhằm phục vụ lao động sản xuất và là nhu cầu sinh họat văn hóa tinh thần của người dân lao động.

            Hình thức sinh họat của HKLT chủ yếu được biểu hiện bằng lối diễn xướng tập thể bao gồm cá nhân lĩnh xướng (hò) và tập thể hội xướng (xô).

            Hò được sử dụng ngay trong khi làm việc: Đi cày, đi cấy, xay lúa, giã gạo, xây nhà, đắp lũy... khích lệ mạnh mẽ tinh thần lao động của nhân dân. Hò còn được dùng để đối đáp, giao đãi, chào mời, tâm tình, trao duyên trong những ngày hội cổ truyền.

            Ngoài ra, hò còn là lời ca độc thán (diễn xướng đơn lẻ), giàu chất tri âm, mang tính tự sự, tâm tư, gợi nhớ, gợi buồn trong những lúc làm việc một mình, hay khi suy tưởng, khi nhớ bạn...

            Sinh họat của HKLT biểu hiện một đời sống tinh thần hết sức văn minh và phổ cập. Hò vừa là lợi khí động viên, khích lệ  năng lực lao động, sản xuất, vừa là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân lao động. 

            1. Vài nét về nguồn gốc, xuất xứ của HKLT

            1.1. Về địa-sử:

            Lệ Thủy là vùng địa thổ cư có khoảng trong thế kỷ XV. Đa số cư dân ở đây thuộc các tỉnh phía Bắc (và một số rất ít cư dân sở tại - thuộc nhóm người Việt cổ miền Trung). Có thể những cư dân này di dời từ phía Bắc vào theo cuộc hành binh mở mang bờ cõi về phía Nam của Lê Lợi. Trong thời kỳ này, người ta thấy xuất hiện một lối hò của nghĩa binh Lê Lợi dùng để thông báo địch tình, loan tin thắng trận, có tên gọi là “hò nhân nghĩa” - có người cho rằng đó chính là HKLT ngày nay.

 Nhưng có thể nói, địa danh này thực sự được mở mang và phát triển là từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, thế kỷ XVI. Cho đến thời kỳ đó, sông Kiến Giang đi qua địa hạt Lệ Thủy mới ra đời, đó là một con sông nhân tạo (còn có tên gọi là sông Đào). Mục đích Nhà Nguyễn đào con sông này là để tạo một tuyến đường vận tải, chuyên chở vật liệu từ rừng về để xây đắp Lũy Trường Dục - phòng tuyến phân tranh Trịnh - Nguyễn, (còn có tên gọi là Lũy Thầy).

            Một sự trùng hợp có ý nghĩa là qua tìm hiểu, chúng tôi được biết: sinh họat hò khoan chủ yếu tập trung ở các làng mạc thuộc ven hai bờ con sông Kiến Giang (sông kiến tạo), còn sông Long Đại (sông thiên tạo) - thuộc địa hạt Lệ Ninh (một địa danh lân cận), lại ít thấy phổ biến sinh hoạt hò khoan. Có thể đi đến nhận xét rằng: sự ra đời của HKLT gắn liền với sự ra đời của dòng sông Kiến giang (thế kỷ XVI).

            1.2. Về chất liệu hò khoan:

            Qua khảo sát các bài bản ghi âm được, chúng tôi thấy, ngoài việc sử dụng thang 5 âm (thang âm phổ biến trong dân ca Việt Nam), thì chất liệu HKLT có những nét gần gũi với chất liệu dân ca Thanh - Nghệ -Tĩnh, đặc biệt là việc sử dụng và tiến hành thang 3 âm:

            -Thang 3 âm của HKLT - Hò mái chè:                  Mi-La-Si

            -Thang 3 âm của dân ca Nghệ Tĩnh -Ví & dặm: Mi-La-Do

            Tuy nhiên, sự tương tự nêu trên cũng chỉ mang tính chất phát tán ảnh hưởng lẫn nhau giữa các vùng dân ca, thực ra, giai điệu của HKLT thuần túy lối nói, lối hát của địa phương. Do có tính ứng khẩu và phục vụ kịp thời nên giai điệu hò khoan tương đối đơn giản (giai điệu hóa tiếng nói), không phân tiết nhịp, chú trọng chủ yếu các vế xô: mạnh, chắc, khỏe, thúc đẩy. Biểu hiện rõ nét nhất về đặc tính chất liệu hò khoan là diễn đạt được ngôn ngữ, phong cách, âm điệu mang bản sắc địa phương.

            1.3. Nhận xét:

            Tổng hợp các yếu tố cơ bản như đã phân tích, chúng tôi có thể đi đến nhận xét về nguồn gốc, xuất xứ của HKLT như sau:

            -Thể lọai hò được ra đời trên địa hạt Lệ Thủy vào khoảng thế kỷ XV, dưới dạng một thể loại diễn xướng đơn giản (có thể đó chính là “hò nhân nghĩa”) và chưa có tên gọi là hò khoan.

            -Khi con sông Kiến Giang ra đời - thế kỷ XVI, thể lọai hò khoan mới được hình thành, gắn liền với sự ra đời của sông Kiến Giang, đó chính là HKLT ngày nay.

            -Kiến trúc âm nhạc hò khoan dựa trên các điệu thức 5 âm bắc bộ, bằng sự giai điệu hóa các tứ thơ tức khẩu của nhân dân lao động, phù hợp với ngôn ngữ, phong cách, bản sắc của cư dân sở tại, có ảnh hưởng tương đối về chất liệu đối với các làn điệu dân ca Thanh - Nghệ - Tĩnh (đặc biệt là hò và ví dặm).

            -Là một thể lọai diễn xướng ứng khẩu, phục vụ kịp thời, tại chỗ công việc lao động, sản xuất và sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân. Hò khoan ra đời dựa trên sự sáng tạo tập thể của quần chúng lao động.

            -Hình thức kết cấu chung nhất của HKLT thuộc thể thức một đọan, được biểu thị dưới giản đồ sau:

                        Hò mở3

                        Câu 1 - Vế hò (lĩnh xướng) - Vế xô (hội xướng)

                        Câu 2 - Vế hò (lĩnh xướng) - Vế xô (hội xướng)

            Tuy nhiên, ở mỗi mái hò, hình thức kết cấu sẽ có sự khác biệt tương đối,  điều này xin nói rõ ở phần sau.

            Qua sưu tầm, tìm hiểu thực tế, chúng tôi được nghe nhiều làn điệu hò mang những nội dung khác nhau, nhưng theo sự tổng hợp và nhận định của chúng tôi thì HKLT có 6 mái hò cơ bản, đó là: mái Chè, mái Nện, mái Xắp, mái Ruổi (Rải), mái Nhì và mái Ba, còn các làn điệu hò khác như: hò lĩa trâu, hò nậu xăm, hò đưa linh, hò lính mộ, hò kéo gỗ, hò thách đố, hò giao duyên, hò chèo thuyền, hò giã gạo... chỉ là sự lắp ghép phần lời (có tính dị bản) trên cơ sở giai điệu của 6 mái hò cơ bản. 

            2. Những khái luận về sự hình thành và đặc điểm cấu trúc âm nhạc của hai nhóm hò cạn, hò nước trong tổ hợp sáu mái HKLT

            Như chúng ta đã biết HKLT được ra đời trên một vùng sông nước, trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, là một lợi khí tinh thần nhằm động viên, thúc đẩy nhân dân trong quá trình lao động, sản xuất. Đương nhiên, ở những vùng sông nước như “Lệ Thủy”, các công việc làm ăn, sinh sống của nhân dân lao động không chỉ ở trên cạn như: cày bừa, cấy hái, xây nhà, đắp lũy... mà còn có cả những công việc làm ăn trên sông nước như: đơm câu, giăng lưới, chèo thuyền chở người đi cấy ruộng sâu, đầm phá, hay chuyên chở vật liệu xây dựng từ nguồn về... Ở đây, nổi rõ hai tính chất lao động khác biệt: sự chắc nhịp, đều đặn, mạnh mẽ ở các công việc trên cạn và sự khoan thai, thong thả, ngâm ngợi ở những công việc trên sông nước. Do tính chất lao động trên cạn và trên sông nước có những đặc điểm khác biệt nhau như đã nói, nên sự hình thành hai nhóm hò cạn, nước là một tất yếu. Nhóm hò cạn bao gồm các mái: Chè, Nện, Xắp, chủ yếu phục vụ các công việc lao động trên ruộng đồng, đồi bãi, sân đình... Nhóm hò nước bao gồm các mái: Ruổi, Nhì, Ba, chủ yếu phục vụ các công việc trên sông nước như vùng sông hồ, đầm phá, ruộng sâu... Dưới đây, chúng tôi xin dẫn bảng tương quan so sánh về đặc điểm và tính chất của hai nhóm hò cạn - nước:

 

HÒ CẠN

HÒ NƯỚC

-Ra đời từ lao động trên ruộng đồng, đồi bãi.

-Ra đời từ lao động trên sông hồ, đầm phá, ruộng sâu.

-Tạm quy về thể hát nói (Recitativ).

-Tạm quy về thể hát chuyện (Ballade).

-Hình thức cấu trúc chủ yếu một đọan, có phân câu, các vế xô phân bố đều đặn.

-Hình thức cấu trúc chủ yếu một đọan, không phân câu, các vế xô phân bố không đều.

- Bố cục và giai điệu đơn giản.

Bố cục và giai điệu phức tạp.

-Chỉ sử dụng 3 âm chính của thang âm ngũ cung Bắc Bộ.

-Sử dụng cả 5 âm của thang âm ngũ cung Bắc bộ, bắt đầu có sự đan giao điệu thức.

-Âm nhạc phần nào hạn chế khả năng biểu hiện.

-Âm nhạc phần nào mang tính miêu tả, có hình tượng.

-Giai điệu tiến hành trên thể thơ tự do, có thể thêm bớt từ, thêm bớt âm và diễn xướng được trên các thể thơ khác nhau.

-Giai điệu tiến hành trên thể thơ lục bát cố định, ít thêm bớt từ, thêm bớt âm và chỉ có thể diễn xướng trên một thể thơ nhất định.

-Nhịp điệu chắc khỏe, tốc độ từ vừa phải đến nhanh.

-Nhịp điệu lơi lỏng, tốc độ từ khoan thai đến chậm rải.

-Tính chất thúc đẩy sự cố gắng đồng lọat.

-Tính chất ngâm vịnh, tự sự riêng mình.

-Sử dụng trong các công việc đòi hỏi sự đồng đều của số đông người.

-Sử dụng trong khi làm việc một mình nơi xa vắng.

-Chủ yếu diễn xướng tập trung.

-Chủ yếu diễn xướng đơn lẻ.

(...)

(...

 

            2.1.Hò cạn:

            Hò cạn gồm các mái: chè, nện, xắp, thuần túy lối hát nói (Récitativ), hoặc đã được giai điệu hóa ít nhiều, có bố cục tương đối rõ ràng. Hình thức kết cấu chung nhất của hò cạn là một đọan (2,3 hoặc 4 câu), cứ sau mỗi câu thì có một vế xô. Làn điệu hò cạn được triển khai trên thang 5 âm đơn giản (thang 5 âm thiếu), chủ yếu chỉ sử dụng 3 âm chính. Hò cạn phù hợp với các công việc lao động trên ruộng đồng, đồi bãi... từ những công việc nhẹ nhàng đến nặng nhọc, bởi vậy, hò cạn rất chú trọng đến các vế xô: chắc, khỏe, dứt khoát. Vế hò của hò cạn có thể không phân nhịp, giai điệu có khi co ngắn, kéo dài (ở mức độ nhất định) phụ thuộc vào lời hò, nhằm thể hiện nội dung đối đáp, kêu gọi, thúc dục. Âm nhạc hò cạn do vậy ít có khả năng biểu đạt, chủ yếu dựa vào lời hò. Hình thức diễn xướng của hò cạn chủ yếu là tập trung, bao gồm cá nhân lĩnh xướng (hò) và tập thể hội xướng (xô). Hò cạn ít khi dùng diễn xướng đơn lẻ.

            2.1.1. Mái đơn giản nhất của hò cạn là mái chè, có cấu trúc một đọan, 4 câu với 4 vế xô. Giai điệu mái chè chủ yếu chỉ sử dụng 3 âm chính của điệu thức 5 âm. Vế xô là đặc trưng nhất của lối tiến hành 3 âm trong HKLT.

            Với tầm cử hẹp, âm vang gần, tốc độ thong thả, mái chè phù hợp với ý muốn gây một hiệu quả trong khung cảnh làm việc nhỏ hẹp: một bãi dâu, nương chè... và chỉ thị một công việc nhẹ nhàng, ít cần gắng sức. Mái chè có thể vừa làm việc, vừa hò mà không ảnh hưởng đến khả năng diễn xướng và công việc đang làm.

            2.1.2. Mái nện so với mái chè đã được nâng lên một bước về hiệu quả diễn đạt và hình thức cấu trúc. Tuy lời hò được chia làm 2 câu không đều nhau, nhưng với cách thức diễn xướng như nói ở câu 1 (phần lời dài) và như hát ở câu 2 (phần lời ngắn), đã gây được một hiệu quả biến đổi thú vị, không nhàm chán như ở mái chè. Đồng thời, giúp người nghe hình dung được cấu trúc hình thức một đọan, 2 câu tương đối rõ ràng. Bước nâng cao của hò mái nện còn được biểu hiện ở câu hò mở đầu vang rõ, mạnh mẽ, thôi thúc (mà ở mái chè không có), có khả năng diễn đạt được nội dung, có hình tượng mang tính kêu gọi, thúc đẩy sự hiệp lực để hoàn thành những công việc nặng nhọc, cần phải gắng sức, đều tay. Tính chất này còn được thể hiện rất rõ nét ở các vế xô, với chấm giật và dấu nhấn phách, biểu đạt một sự dứt khoát, kêu gọi.

            2.1.3. Trong nhóm hò cạn - mái xắp4 có lẽ là mái hò ra đời sau cùng, bởi sự giai điệu hóa và phân chia tiết nhịp rõ ràng. Mái xắp được sử dụng khá phổ biến trong tất cả mọi công việc lao động cũng như sinh họat, giải trí. Có thể nói rằng, mái xắp là mái hò đặc trưng của hò cạn nói riêng và HKLT nói chung. Với bố cục đã được chỉnh thể, nâng cao, việc sử dụng và diễn xướng khá linh họat.

            Mái xắp bao gồm một đọan, hai câu, được bắt đầu diễn xướng bằng một câu hò mở và một vế xô ngắn. Câu hò mở đầu do một người lĩnh xướng, mang tính chất chào mời trong một phạm vi không gian nhỏ hẹp (một sân đình, một thửa ruộng...), âm điệu uyển chuyển, tươi tắn, tiết điệu nhịp nhàng, có khi hơi nhanh. Sau đó là vế xô ngắn của những người tham dự cuộc hò, hay đang cùng tham gia một công việc.

            Cấu trúc bài hò mái xắp khá độc đáo, ngoài phần hò mở đầu dùng để chào mời như đã nói, thì sau khi lĩnh xướng câu 1, tập thể hội xướng sẽ phụ họa bằng một vế xô dài. Còn ở câu 2, lời hò lĩnh xướng được phân đôi bởi một vế xô ngắn xen giữa và một vế xô ngắn ở cuối bài.

            Vế xô dài như một sự ứng đáp hào hứng của những người tham dự cuộc hò sau lời mời chào của người hò mở, còn vế xô ngắn lại như là nhịp đệm cho người hò lĩnh xướng phô diễn tài năng “ứng khẩu thành thơ”, nhằm chuyển tải những ý văn, lời thơ về một nội dung, đề tài bất kỳ nào đó. Vế xô ngắn, với hiệu quả dứt, gọn có tác dụng làm động lực thúc đẩy cho sự tiến triển của bài hò, đồng thời, đóng vai trò kết lửng ở cuối bài, đòi hỏi sự quay lại câu hò mở đầu. Cứ như vậy, bài hò không bao giờ chấm dứt, nếu như thời gian và công việc cho phép.

            Ba mái hò cạn (theo truyền thống) bao giờ cũng được diễn xướng theo thứ tự từ mái chè đến mái nện và cuối cùng là mái xắp. Trật tự này thể hiện sự bắt đầu và kết thúc một công việc hoặc bắt đầu và kết thúc một buổi sinh họat hò. Dưới đây là bảng tương quan so sánh về đặc điểm của 3 mái hò cạn:

 

MÁI CHÈ

MÁI NỆN

MÁI XẮP

Công việc nhẹ nhàng, chậm rải, thong thả

Công việc nặng nhọc, cần gắng sức, tập trung

Công việc đồng đều, cần sự nhịp nhàng, lâu bền

Nhịp điệu chậm

Nhiệp điệu thúc đẩy

Nhịp điệu vui họat

Số người tham gia ít

Số người tham gia vừa phải

Số người tham gia nhiều

Cường độ nhẹ nhàng

Cường độ mạnh mẽ

Cường độ dồn dập

(...)

(...)

(...)

 

 

            2.2. Hò nước:

            Hò nước gồm các mái: ruổi, nhì, ba, điển hình là lối hát chuyện (ballade), tính chất ngâm vịnh, tự sự và trữ tình. Hò nước tiến hành giai điệu tương đối tự do, sự phân nhịp ở đây chỉ mang tính ước lệ. Cấu trúc hình thức của hò nước khá phức tạp, sự phân câu không rõ ràng (trừ mái ba), giai điệu uốn lượn rích rắc, luyến láy phức tạp và bị xé rời bởi các vế xô xen giữa, phân bổ không đều. Nhịp điệu các mái hò nước đa số chậm rãi, nặng nề. Tuy nhiên, âm nhạc hò nước đã phần nào biểu đạt được nội dung cần thiết. Hò nước có âm lượng phong phú hơn hò cạn vì sử dụng đầy đủ thang 5 âm và kết hợp sự đan giao điệu thức. Lối diễn xướng độc ca trong những khi làm việc một mình nơi đồng không, sông vắng, khung cảnh u tịch, nhằm diễn tả tâm trạng lắng đọng, tâm tư, gợi nhớ bạn hiền, nhớ những ngày tri ngộ...

            2.21. Mái ruổi (còn gọi là mái rải, mái dài), có cấu trúc phân thành 3 câu và cũng như đặc tính chung của hò khoan là cứ sau mỗi câu xướng lại có một vế xô, trừ câu cuối, do để kết bài nên không cần xô nữa. Với tốc độ chậm rải, giai điệu triền miên, xé rời từng tiết nhỏ, mái ruổi biểu hiện một lối ngâm vịnh thâm trầm với một nỗi buồn man mác, mênh mang.

            Câu hò mở được bắt đầu từ một tiết hát ngắt, ngắn, tiếp đó vút lên một tiếng hò kéo dài, lan tỏa, xa dần trong khung cảnh u tịch của một vùng sông rộng, phẳng lặng. Để rồi sau khi dứt tiếng hò, lối hát biểu thị tính chất tự sự, kể lể trên đường tuyến giai điệu ngắt quãng, lúc lên bổng, lúc xuống trầm, day dứt, da diết, tưởng chừng không bao giờ dứt:

                                                “...Đói lòng ăn một trái sim

                                    Uống lưng bát nước đi tìm người thương...”

            Với lối hát ngâm ngợi như đã nói, tạo cho cấu trúc hình thức của mái ruổi không có tính cân đối, điều này có thể là một dụng ý trong sáng tác dân gian. Trong trường hợp này (tính mất cân đối của mái ruổi), phù hợp với tâm trạng con người khi lênh đênh trên con thuyền đêm khuya, đi buông câu, giăng lưới. Hay đang một mình trên mảng bè chở gỗ xuôi nguồn, ngửa mặt nhìn trời sao mà bồi hồi nhớ bạn...

            2.2.2.  Điển hình về tính chất hát chuyện trong nhóm hò nước, phải kể đến mái nhì. Mái nhì là một mái hò tương đối dài, có quy mô lớn và kết cấu phức tạp. Cấu trúc âm nhạc của hò mái nhì dựa trên sự kết hợp của 2 điệu thức đan giao thuộc nhóm điệu thức có cấu trúc lệch5. Bố cục của toàn bài hò có thể phân chia thành 4 câu, với độ dài ngắn khác nhau, trong đó, cứ mỗi cặp câu có một vế xô chen giữa. Có thể tóm tắt bố cục của mái nhì như sau:

                                    Câu 1 (ngắn) - Vế xô - Câu 2 ( dài  )

                                    Câu 3 ( dài  ) - Vế xô - Câu 4 (ngắn)

            Cảm giác chung về bố cục của mái nhì là một sự mất cân đối, nhưng tổng thể bố cục vừa nêu, chỉ rõ sự tương ứng của nhóm câu này với nhóm câu kia,  hay có thể gọi đó là một phương thức bố cục đối xứng theo hình chéo góc.

            Với phương thức cấu trúc hình thức như vậy, mái nhì được coi là mái hò có tính “bác học” trong tổ hợp HKLT. Và do vậy, khả năng diễn đạt của mái nhì trở nên phong phú hơn.

            So với mái ruổi, mái nhì là một mái hò đặc biệt giàu chất tri âm, là lời ca độc thán của một tâm trạng lắng đọng, ưu tư. Nếu mái ruổi thể hiện nỗi buồn vời vợi, mênh mang thì mái nhì diễn tả nỗi buồn sâu lắng, thâm trầm. Nhưng những nỗi buồn ấy, cần được hiểu là nỗi buồn của sự chung thủy, thủy chung, tuyệt nhiên không phải là nỗi buồn của sự bi quan, yếm thế và thất vọng. 

            2.2.3. Nếu ở hò cạn, mái xắp là mái hò tiêu biểu về tính phổ biến thì ở hò nước, mái ba là mái hò tiêu biểu về tính linh họat trong ứng dụng, bởi sự tin giản về bố cục, có phân câu, đọan và tiết nhịp rõ ràng. Mặt khác, mái ba là mái hò có tính chất sinh hoạt, đối đáp, giao duyên trữ tình, vừa có thể diễn xướng đơn lẻ, lại vừa có thể diễn xướng tập trung trong các ngày lễ, hội. Hình thức cấu trúc của mái ba được biểu thị dưới sơ đồ sau đây:

 

Câu

Lĩnh xướng

Hội xướng

Câu1

Hò mở + Vế hò

Vế xô

Câu2

Hò mở + Vế hò

Vế xô

Câu3

Hò mở + Vế hò

Vế xô

 

            Qua sơ đồ trên, ta thấy mái ba có bố cục khá vuông vắn, chặt chẽ. Mặc dù, hình thức cấu trúc của mái ba thuộc thể một đọan, 3 câu, nhưng kết cấu của mỗi câu đều có đủ 3 thành phần: hò mở - vế hò - vế xô, cùng với sự phân câu và nhịp phách khá rõ ràng, mái ba có thể được coi là mái hò hoàn chỉnh nhất về cấu trúc hình thức trong nhóm hò nước.

            Nếu mái ruổi và mái nhì biểu hiện sự lắng đọng, ưu tư của một tâm trạng thì mái ba nổi bật về tính trữ tình, tươi tắn, ý vị của tình cảm giao duyên thuần phác Việt nam:

            “...Qua sông em đổ mồ hôi

            Mượn khăn nho sĩ (để) lau đôi má hồng...”

            Sự kết hợp giữa giai điệu và lời hò cũng là một nghệ thuật sáng tác dân gian độc đáo, cần được nghiên cứu, học tập. Nếu câu nhạc 1, diễn đạt tòan bộ lời thơ câu 6 (câu lục), thì câu nhạc 2, chỉ diễn đạt phân nửa lời thơ câu 8 (câu bát), rồi ngừng hò để phần hội xướng (xô) phụ họa. Sau đó, câu nhạc 3 mới diễn đạt  toàn bộ lời thơ câu 8. Sự có thêm một câu nhạc thứ 3 trong cấu trúc một đọan của hò mái ba không phải là ngẫu nhiên mà có dụng ý kéo dài sự kết, thể hiện tình cảm giao duyên rất phù hợp với tâm lý, tập quán sinh họat của thôn nữ Việt Nam, vừa ngập ngừng, e lệ, lại vừa có thể rất nhí nhảnh, mạnh dạn (xin chiêm ngẫm ý thơ đã dẫn).

            Nhóm hò nước với những đặc điểm, tính chất vừa nêu có thể giả định sắp xếp theo thứ tự diễn xướng lần lượt từ mái ruổi, đến mái nhì và cuối cùng là mái ba. Dưới đây là bảng tương quan so sánh về đặc điểm của 3 mái hò nước:

 

MÁI RUỔI

MÁI NHÌ

MÁI BA

Tâm sự buồn nhớ man mác

Tâm sự buồn nhớ sâu lắng

Tâm sự trữ tình, tươi mát

Nhịp điệu chậm rải

Nhịp điệu chậm, nặng nề

Nhịp điệu duyên dáng, khoan thai

Diễn xướng độc ca

Có thể diễn xướng hai người

Có thể diễn xướng nhiều người

(...)

(...)

(...)

 

3. Hình thức sinh họat và đặc tính sử dụng của HKLT

3.1. Hình thức sinh họat:

Hình thức sinh họat phổ biến và chung nhất của HKLT là lối diễn xướng tập thể, bao gồm: cá nhân hò (lĩnh xướng) và tập thể xô (hội xướng). Dưới đây, xin giới thiệu một số hình thức sinh họat truyền thống của HKLT.

3.1.1. Hình thức tự giác:

Cách thức thứ nhất: Được biểu hiện trong quá trình làm việc, một người dừng tay cất lên câu hò mở đầu của một mái hò nào đó, rồi đi vào nội dung hò, nội dung, đề tài có thể đã thuộc hoặc tức khẩu. Dứt vế hò (lĩnh xướng), tập thể lao động ở đó vừa làm việc vừa phụ họa bằng vế xô (hội xướng). Vế xô bao giờ cũng có nhịp đều đặn, nên khi xô rất nhịp nhàng, không ảnh hưởng đến công việc lao động. Đặc biệt, khi sử dụng mái xắp (hò cạn) và mái ba (hò nước), cả người lĩnh xướng và tập thể hội xướng đều có thể vừa làm việc, vừa hò. Nếu hò mang nội dung, đề tài thách đối thì trừ người đang lĩnh xướng (hò), những người khác sẽ suy nghĩ những câu hò tiếp theo để có thể thay nhau người lĩnh xướng.

Cách thức thứ hai: Chủ yếu sử dụng các mái hò có thể diễn xướng đơn lẻ, như mái chè, mái nện, mái ruổi, mái ba... để hò trao đổi qua lại giữa hai người hoặc hai nhóm người đang làm việc cách nhau một khoảng ruộng, một dòng sông. Nếu người bên này thách đối thì bên kia ứng đáp, người bên này giãi bày tâm sự thì bên kia trao ý, gửi lòng. Hoặc nếu bên này trêu ghẹo thì bên kia đối chọi lại... Lối hò này khá phổ biến trong hình thức tự phát.

3.1.2. Hình thức tự giác:

Tập thể lao động trong giờ nghỉ giải lao, nhóm họp lại với nhau trên một bờ ruộng và sự giải trí lành mạnh, bổ ích nhất trong lúc này là tham gia hò. Cách thức này cũng như tự phát, song do được nghỉ ngơi nên có thể chú trọng hò và xô được tốt hơn. Người lĩnh xướng cũng được có sự chuẩn bị ít nhiều, tập thể vừa xô vừa vỗ tay làm nhịp, vừa suy nghĩ câu hò tiếp theo.

Hình thức tự giác còn có thể được thể hiện trong các công việc nhẹ nhàng, vừa phải như đập lúa, giã gạo đêm trăng ở sân đình, sân nhà... Lúc này, có thể vừa làm việc, vừa hò, sức người càng thêm dẻo dai. Bài hò có khi kéo dài thâu đêm không dứt và các công việc lúc này chỉ là nhịp đệm cho hò.

3.1.3. Hình thức một cuộc hò hoàn chỉnh:

Một cuộc hò hoàn chỉnh có sự chuẩn bị và gia công nghệ thuật diễn xướng kỹ càng, thường được được biểu hiện trong các lễ hội truyền thống như hội mùa, hội vật, hội đua thuyền... Những ngày đó, các bậc nghệ nhân hò lão luyện, có tài ứng tác như “nước chảy, mây trôi” cùng với đội hò của mình tập trung đến nơi hội họp để tham gia tranh tài. Những cuộc hò này, chủ yếu là sự đấu xảo về lời lẽ, ý văn, tứ thơ sao cho hay, cho đắt. Cuộc hò hòan chỉnh biểu hiện rõ nét nhất là sự chuẩn bị tứ thơ cho các vế hò của cá nhân lĩnh xướng, còn bậc nghệ nhân đôi khi chỉ là người suy nghĩ, sáng tác và chỉ đạo. Các cá nhân được chọn để lĩnh xướng thường có giọng hò tốt, vang xa và có khả năng diễn xướng các mái hò trên các thể thơ mới sáng tác tại chỗ một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo. Cuộc hò hòan chỉnh có mở đầu và có kết thúc gẫy gọn. Nếu bên thách hò diễn xướng xong, sau một thời gian cho phép mà bên đối hò không đáp được thì coi như thua cuộc. Có đội hò giỏi về thách đối, có đội hò giỏi về ứng đáp, lại có đội hò vừa giỏi ứng tác thách hò, lại vừa giỏi về ứng đáp đối hò.

Ngày nay, một cuộc hò hòan chỉnh được tổ chức và chuẩn bị khá chu đáo, có cả phục trang, ánh sáng, có khi được biểu hiện trên sân bãi, có khi được biểu hiện trên sân khấu văn nghệ dân gian.

3.2. Đặc tính sử dụng:

3.2.1. Tính chất đồng bộ về mặt sử dụng:

Là đặc tính nổi bật nhất trong sinh họat HKLT. Tính chất này thể hiện trong một cuộc hò hòan chỉnh cho thấy rằng:

Có khi chỉ cần một nội dung lời hò mà được diễn xướng lần lượt qua làn điệu của các mái hò, không cần phân biệt về tính chất âm nhạc riêng của mỗi mái và được sắp xếp diễn xướng theo tổ hợp từng sáu mái hoặc từng ba mái một, theo nhóm hò cạn - nước. Ban đầu, thường sử dụng các mái hò nhẹ nhàng, tốc độ vừa phải hoặc chậm, càng dần về kết thúc cuộc hò thì sử dụng các mái vào nhịp, đồng đều, nhanh, linh họat.

Ngược lại, có khi chỉ sử dụng làn điệu của một mái hò, với một tính chất âm nhạc để diễn xướng lần lượt các nội dung khác nhau, không cần phân biệt nội dung đó mang tính chất gì. Đặc biệt mái xắp (hò cạn) và mái ba (hò nước) thể hiện tính chất đồng bộ về mặt sử dụng là phong phú và phổ biến nhất. Với bất cứ nội dung nào, công việc nào cũng có thể sử dụng hai mái hò này mang lại hiệu quả tốt nhất.

3.2.2. Tính chất cá biệt về mặt sử dụng:

Tính chất đồng bộ về mặt sử dụng như đã nêu, là đặc tính cơ bản và phổ biến của HKLT. Tuy nhiên, không thể không đề cập đến tính chất cá biệt về mặt sử dụng của các mái hò, bởi những tính chất và nội dung nhất định của nó. Thí dụ: trong việc cấy lúa, giã gạo thì tốt nhất là sử dụng mái xắp (hò cạn), trong các công việc như đưa rước linh cữu, tiễn biệt lính mộ, phu mộ (khi diễn tích lịch sử) thì tốt nhất là sử dụng mái nhì (hò nước). Hay khi giục trâu kéo gỗ, kéo cày, tốt nhất là sử dụng mái ruổi...

3.2.3. Tính chất linh họat và nhạy bén về mặt sử dụng:

            Tính chất này đề cập đến khả năng kết hợp giữa lời hò và làn điệu hò. Đặc điểm làn điệu hò nói riêng và dân ca Việt nam nói chung chủ yếu và phần lớn dựa trên cơ sở ca từ được chắt lọc từ các thể thơ dân gian chuẩn cách hoặc biến cách. Do vậy, làn điệu hò có thể uốn nắn ít nhiều, một vài âm được thêm vào, bớt đi hoặc chuyển dịch cao độ cho phù hợp với ngữ âm, trừ câu hò mở và vế xô được giữ nguyên. Nhìn chung, tính chất nêu trên được co dãn trong một chừng mực nhất định, nhằm vẫn đảm bảo tính chất âm nhạc của hò, đồng thời, chuyển tải được những nội dung cần biểu đạt.

 Lời kết

            Sinh họat Hò khoan Lệ Thủy - là một truyền thống sinh họat văn hóa tinh thần đáng trân trọng của nhân dân lao động Quảng Bình. Đồng thời, truyền thống sinh họat đó, còn là một biểu hiện sinh động trong việc góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Truyền thống sinh họat Hò khoan Lệ Thủy từng được Đảng bộ, chính quyền, ngành văn hóa thông tin và nhân dân tỉnh Quảng Bình phát huy tích cực trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến.

 Chỉ tiếc rằng ngày nay, khi trở lại miền quê Lệ Thủy, khuôn mặt làng quê đang ngày càng đổi mới, vẫn thấy se lòng khi cứ thưa dần, vắng dần những làn điệu Hò Khoan.../.

            Thân Văn                                                                                                                                     

*  Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 12/1999

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

G???ng g???i

Truy??n ng??n c??a ???? Ho??ng                                          H??n th??ng n??y, m??a nh??ng...

Thống kê
  • Đang truy cập11
  • Hôm nay3,584
  • Tháng hiện tại64,952
  • Tổng lượt truy cập6,000,968
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây