vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


Đỗ Trương ... Truyện kể

(Nhà thơ Đỗ Hoàng ngoài tài năng, anh còn có kiến thức, và cái món Hán văn thâm hậu. Trong phê bình văn học anh thẳng thắn, nhiều khi đến "đanh đá và chát chúa" chạm vía nhiều người. Khi viết về chân dung Đỗ Hoàng và đọc bài viết của nhà thơ Trần Quang Đạo về gia cảnh ĐH, tôi chợt nhớ đến câu chuyện ở Monaco đã rất lâu rồi.)CÓ NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ HIỂUThời tiết Châu Âu năm nay, dường như hơi đỏng đảnh. Đã đầu tháng sáu, trời vẫn còn se lạnh. Mưa dầm mưa dề, không thối đất thối cát như ở quê nhà, nhưng đủ làm nước sông Elber
Đỗ Trương ... Truyện kể
Đỗ Trường cùng với Do Hoang và 2 người khác.
27 tháng 3 · 

(Nhà thơ Đỗ Hoàng ngoài tài năng, anh còn có kiến thức, và cái món Hán văn thâm hậu. Trong phê bình văn học anh thẳng thắn, nhiều khi đến "đanh đá và chát chúa" chạm vía nhiều người. Khi viết về chân dung Đỗ Hoàng và đọc bài viết của nhà thơ Trần Quang Đạo về gia cảnh ĐH, tôi chợt nhớ đến câu chuyện ở Monaco đã rất lâu rồi.)
CÓ NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ HIỂU
Thời tiết Châu Âu năm nay, dường như hơi đỏng đảnh. Đã đầu tháng sáu, trời vẫn còn se lạnh. Mưa dầm mưa dề, không thối đất thối cát như ở quê nhà, nhưng đủ làm nước sông Elber dâng cao, tàn phá nhiều thành phố làng mạc của Đức và những nước có chung dòng chảy. Những ngày này, lại làm tôi nhớ đến Monaco và câu nói của Michal Bui: “ Mưa bão, lụt lội, chiến tranh bom đạn, dù xảy ra ở nơi nào, đất nước nào, thì cũng vô cùng tàn khốc. Nhưng chiến tranh mâu thuẫn trong lòng người còn tàn khốc, nguy hiểm hơn ngàn lần…“
Tháng tám năm 1995, tôi có ông cậu họ Đặng, Chef nhớn của Quận Ba Đình Hà Nội, sang Paris học hay thăm quan gì đó ở trường hành chánh mấy tháng. Ông điện bảo, học hành gì, cỡi ngựa xem hoa thôi, tôi sang lúc nào cũng được. Lúc đó, tôi có vợ chồng anh Nguyễn Thế Cường, nguyên đội trưởng lao động ở Werdau, hiện là Phó tổng giám đốc một công ty thuộc Bộ Nông Nghiệp, cũng từ Việt Nam sang thăm. Tôi rủ anh sang Paris và đi Manaco thăm bà bác theo chồng là sỹ quan Pháp về nước từ những năm 1940. Buổi tối Paris, chỗ ông cậu tôi có cả anh Cù Huy Hà Vũ ở đó. Hàn huyên với nhau một đêm, hôm sau chúng tôi đi tiếp tục chặng đường 1000 cây số đến Manaco.
Từ trên Autobahn(đường cao tốc) ngồi trong xe, nhìn xuyên qua những tấm kính ngăn tiếng ồn, Manaco lọt thỏm trong tầm mắt. Vương Quốc 36 ngàn dân, rộng chừng 202 ha này, có con đường chính chạy dài, một mặt phố, như hai cánh tay ôm lấy biển. Ngoài xa, đoàn tầu rực lên ánh đèn màu lọt qua ô cửa và có những con sóng bạc vỗ nhẹ dưới chân tầu, cứ ngỡ đó là khu phố mới, xây trên miền đất trắng. Phố đã vào đêm, tôi kéo cửa kính, gió chợt luồn vào xe, mát dịu. Để xe chầm chậm, nhẹ lăn trên đường, tôi vục tay vào trong gió, cảm giác như được chạm vào làn da của… thuở yêu đầu. Từng tốp khách du lịch, chẳng cần chiếu đệm, nằm phơi mình, hứng gió trên hè đường. Thành phố lặng yên, nghe tiếng thở của sóng. Với tôi, Monaco có lẽ là Vương Quốc sạch và đẹp vào bậc nhất hành tinh này.
Đã khá muộn, nhưng bác tôi, vợ chồng Davis, con cả của bác và Michal Bùi (bạn Davis) vẫn chờ cơm chúng tôi. Bác tôi, năm ấy đã tám chục, nhưng còn khỏe và minh mẫn. Bác có bốn người con, ba người sinh sống ở Ý. Chỉ còn Davis từ ngày bác trai mất, anh dọn về ở cùng với bác. Davis sinh ở Hà Nội và có một vài năm sống ở quê, lại gần gũi với mẹ, nên anh nói được tiếng Việt. Năm ấy anh cũng đã gần sáu chục, đủ tuổi về hưu sớm. Michal Bùi, tuy sinh đẻ ở Pháp nhưng ba mẹ đều là người Việt, hồi nhỏ anh sống vật vờ mấy năm trong cư xá Sainte Livrade cùa những người đã làm việc cho Pháp hoặc có gốc Pháp, hồi cư năm 1955, nên anh sõi tiếng Việt. Vì vậy, trong bữa ăn bữa nhậu chúng tôi dùng tiếng Việt thoải mái, rôm rả.
Milchal Bùi hơn tôi chừng bốn, năm tuổi, nhìn rất phong trần, sóng gió của người lính trên tầu viễn dương. Anh bảo, mấy năm trước tàu có cập cảng Hải Phòng và Sài Gòn, nhưng chỉ bốc dỡ hàng xong là đi ngay, không có thời gian tìm về bản quán quê hương. Nhưng những năm tháng hải hành như vậy, tầu anh đã vớt, cứu được nhiều đồng hương trên đường vượt biên…
Trời gần sáng, bia rượu trên bàn đã cạn. Tôi gần như hai đêm không ngủ, lái xe liên tục hai ngàn cây số, người đã quay quay. Định chui vào phòng ngủ, nhưng Milchal Bùi làm cho tôi chợt tỉnh, giã cả rượu, bằng câu chuyện về số phận những người lính khố đỏ, ở mặt trận chống phát xít năm xưa. Câu chuyện này, Milchal cũng kể lại theo lời của ba anh, tuy ngắn, đơn giản nhưng nó làm tôi ám ảnh mãi: “Ông Bùi (ba của Michal) có người bạn thân quê miền Trung từ khi vào lính khố đỏ. Cả hai đều được điều động sang An-ge-ri vào cuối thập niên ba mươi, thế kỷ trước. Ngay sau đó, họ lại được điều về chính quốc (Pháp), mặt trận chống phát xít Đức. Pháp thất bại, họ đều bị quân đội Đức bắt làm tù binh. Sau khi được quân đội Đồng Minh giải phóng, các ông ở lại Pháp. Năm 1946, nghe theo lời kêu gọi chính phủ Việt Minh, hơn nữa đã có vợ con ở quê nhà, nên bạn ông Bùi đã lên tầu về nước. Ông Bùi ở lại, sau đó ông quen và ăn ở với vợ người lính Pháp chết trận, từ Việt Nam sang và sinh ra Milchal Bui ở cư xá Sainte Livrade. Sau này có nhiều người từ Việt Nam sang, ông dò hỏi về bạn mình. Có người biết bảo, khi bạn ông về, bà vợ đã đi lấy chồng vì tưởng ông đã chết. Nhưng ngay sau đó, bà bỏ ông chồng mới, trở về sống với ông. Lúc đó bạn ông đã vào bộ đội Việt Minh. Nhưng trớ trêu thay, bạn ông lại lại là thuộc cấp của ông chồng mà vợ bạn ông vừa bỏ. Trong một trận đánh, bạn ông đã bị ông này, bắn chết từ phía sau và gán cho cái tội chạy theo địch…“
Vâng! Câu chuyện chỉ có vậy thôi. Tôi ám ảnh, không hẳn vì cái chết oan uổng của người lính trận, hoặc hành động dã man, bỉ ổi của kẻ giết người, mà bởi cái tàn nhẫn của chiến tranh. Thân phận của người vợ, cũng như mâu thuẫn, dày vò trong nội tâm của bà, tưởng như chỉ có trong tiểu thuyết hay phim ảnh. Đúng như vậy, hậu quả trong bất cứ cuộc chiến nào, sự thiệt thòi, trớ trêu, khổ đau nhất, cũng thuộc về những người vợ, người mẹ. Và tôi cứ phân vân tự hỏi, liệu chúng ta có cần bằng mọi giá thống nhất đất nước, với một cuộc chiến đẫm máu và nước mắt vừa qua?
Khi tôi tìm tài liệu về thân thế của nhà thơ, dịch giả Đỗ Hoàng để viết bài “ Đỗ Hoàng, Người Đi Nhặt Lại Hồn Thơ Cũ“. Chỉ có bài viết của nhà thơ Trần Quang Đạo, nhắc về cái chết của thân phụ Đỗ Hoàng, bị đồng đội bắn chết và gán cho cái tội chạy theo giặc vì mâu thuẫn tình ái. Lúc này, tôi chỉ mơ màng dường như câu chuyện này mình đã nghe, hoặc đọc ở đâu đó. Nhưng khi nhận được thư của Đỗ Hoàng gửi cho tôi ngày 19-6-2013 đăng trên báo vannghecuocsong.com ở trong nước, thì câu chuyện của Michal Bui kể, gần hai mươi năm về trước, vỡ òa trong ký ức tôi. Tôi bị xúc động mạnh, tôi không khóc, nhưng đến lúc này ngồi viết trên bàn máy vi tính tay tôi vẫn còn run run.
Tôi không phải là người nghiên cứu xã hội hay hình sự học, nên không dám khẳng định hai sự việc trên là một, nhưng sự liên tưởng của người viết văn bất chợt có trong tôi.
Leipzig ngày 24-6-2013
© Đỗ Trường
—————————————————————————-
GỬI NHÀ VĂN ĐỖ TRƯỜNG 
Hà Nội, Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 2013
Kính gửi nhà văn Đỗ Trường!
Đọc bài anh viết về tôi, tôi quá cảm kích và xúc động. Trước hết anh đã hiểu tôi như những người bạn cùng tuổi chơi thân với nhau, hàng ngày cùng bia bọt ở trong nước, thứ nữa anh đã hiểu những tác phẩm tôi viết một cách sâu sắc, chia sẻ cùng tôi những suy nghĩ trăn trở một thời và cả bây giờ những vấn đề lớn lao của đất nước, con người, nhân loại toàn cầu. Với tầm nhìn, tầm nghĩ như anh lại được được tiếp xúc với thế giới rộng lớn bên ngoài, thế giới của những nền văn hóa lớn, nền văn mình vượt xa tổ quốc chúng ta; anh đã phân tích, bàn bạc, nhận định một cách khách quan, trung thực mà nhiều người ở quốc nội vì lý do này, lý do khác không kiến giải hết.

Cám ơn anh vô cùng! Anh đã chia sẻ cùng tôi người cùng họ. Họ mình nhỏ, ít người quá. Tôi ở khắp đất nước cố tìm họ nhưng ở đâu họ mình cũng lưa thưa. Không phải bênh vực, bè phái họ hàng, nhưng họ mình chia sẻ và dựa vào các họ lớn để vươn lên là một điều rất tốt mà con cháu trong họ phải biết. Nó cũng như các dân tộc nhỏ phải dựa vào dân tộc lớn để phát triển; nước nhỏ phải dựa vào nước lớn để tồn tại.
Anh đã khá hiểu tiểu sử của tôi và bi kịch gia đình. Tôi xin thưa thêm vài điều nhỏ để hiểu thêm những năm tháng đau thương của gia đình, quê hương, đất nước.
Ba tôi mất khi tôi mới 8 tháng tuổi, (ngày trước ở quê tôi, con nhà có tý chức sắc thì gọi bố bằng ba, con nhà thấp thì gọi bố bằng bọ), mẹ tôi phải đi xin sửa khắp bà con tản cư ở chiến khu Bang Rợn (Lệ Thủy, Quảng Bình). Tám tháng tuổi thì làm sao biết được chuyện gia đình. Sau này khai lý lịch thì chính quyền địa phương bảo sao khai vậy. Không thể khai như bà con trong họ kể và mẹ tôi kể.
Năm học lớp 9 cấp 3 Lệ Thủy (tương đương lớp 11 bây giờ). Tôi được giới thiệu vào Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam. Muốn vào đoàn thì phải khai lý lịch. Tôi ghi bố: chết.
Không kết nạp được Đoàn. Mãi đến cuối năm, anh Bí thư Chi đoàn lớp bào phải khai rõ ràng: Bố chết vì gì? Tôi phải về hỏi mẹ tôi. Phong tục Việt Nam là xấu che, tốt khoe. Ai lại bảo bố chết trận bao giờ. Mẹ tôi không nói nhưng tôi bảo, trên rộng rãi, họ muốn biết chết vì gì. Và cuối cùng tôi khai : Bố chết trận!
Tôi được kết nạp Đoàn, thành Đoàn viên thanh niên Lao động Việt Nam tại Chi đoàn lớp 9C, trường cấp 3 Lệ Thủy, Quảng Bình (năm học 1966- 1967).
Hai người lính bắn nhau như anh viết chính là chuyện đồn thổi, không có thật. Nhưng hai người lính ấy là hai người chồng của mẹ tôi.
Ba tôi đi lính sang Pháp năm 1939, không phải đánh nhau ở An giê ri mà đánh nhau với Đức Quốc xã khi chúng chuẩn bị vào Pa ri xâm lược Pháp. Cùng đợt ấy có cả bốn bác tôi nữa. Và năm anh em đều bị tù ở Đức.
Ba tôi cùng mấy anh em về nước năm 1946 , hình như cùng chuyến tàu với Bác Hồ. Mấy anh em nghe theo Bác Hồ đều đầu quân đánh giặc. Vì cán bộ quân sự thời Cách mạng tháng Tám năm 1945 hiếm lắm. Nghe nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp biết tên đến đại đội trưởng. Ba tôi là em út nhưng cũng đã lên được Quản thì phải. Các bác lên trước Quản, Đội nhiều năm. Ai cũng đều là cán bộ quân sự tỉnh, huyện Việt Minh, đảng viên, rồi về hưu.
Riêng ba tôi làm đại đội trưởng 361 huyện đội Lệ Thủy, Quảng Bình. Ông Lê Hoản làm Chính trị viên. Hồi ấy Việt kiều trở về nước mới giỏi quân sự, mấy anh thanh niên ở làng biết gì a lô xô, đi ong đơ (đi đều một, hai)…
Ông Lê Hoản là người cùng làng (Thuận Trạch, Mỹ Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình) cùng hoạt động Cách mạng thời tiền khởi nghĩa với mẹ tôi, cùng trong Chi bộ, Đảng bộ, cùng cướp chính quyền ở huyện lỵ Lệ Thủy,cùng tham gia tích cực Tuần lễ vàng Mẹ tôi là Bí thư phụ nữ xã Cao Vân, sau đó là Bí thư phụ nữ huyện Lệ Thủy. Mẹ tôi tuy đã có con gái lên 5, 6 tuổi, có chồng đi Pháp bảy, tám năm không biết sống chết thế nào, nhưng ông Hoản vẫn lấy mẹ tôi làm vợ.
(Thời ấy trai tân lấy nạ dòng là chuyện ngược đời.). Anh ruột ông Hoản là Lê Lỵ đã lấy dì họ tôi rồi.
Hai người có với nhau một người con trai (tức là anh cùng mẹ với tôi, hơn tôi mấy tuổi). Nhưng anh mất khi lên chiến khu vì sốt rét.
Khi ba tôi bên Pháp về thì mẹ tôi ở vào tình huống rất khó xử. Trong làng có câu ca:
Hoàng Thị Khê bốn bề ngao ngán (1)
Lê Thị Gắn chắc chắn chồng về (2)
(1) Mẹ tôi
(2) Bác gái ruột của tôi, vợ bác Đội Diệm
Sau nhiều dằn vặt, mẹ tôi trở lại với chồng cũ, bỏ ông Lê Hoản.
Ông Hoản nói ba tôi đã giết chết con ông. Mâu thuẩn địch ta không phải Việt Minh và Pháp mà là giữa Ba tôi và ông Hoản. Ông Đại đội trưởng và ông Chính viên không thể hòa hợp rồi chuyện không hay xảy ra, không biết hư thực thế nào?
Ba tôi chỉ huy quân sự nên chẳng mưu cao như ông Chính trị viên.
Ba tôi có làm thơ:
Con ơi con!
Cha mắc tòng quân qua Pháp
Cho nên chi cha Sở, con Tần
Thương mẹ con trăm phần chi xiết
Nỗi đớn đau này ai có biết?
Giục lòng cha Âu, Á đôi phương…
(Mẹ tôi đọc được một đoạn như vậy- Bài này viết cho chị tôi. Hồi đó tôi chưa sinh)
Đấy là tôi nghe người lớn tốt nói lại vậy thôi, không biết có đúng không xin mọi người lượng thứ.
Khi hòa bình lập lại sau năm 1954, tôi nghe mẹ tôi nói, khi tôi đi vắng, ông Hoản nhiều lần đến tìm mẹ tôi, nhưng mẹ tôi bảo làm nít (vợ bé), mẹ tôi không chịu. Ông còn nói nếu chịu ông sẽ nhận tôi làm con ông để đi học nước ngoài. Mẹ tôi vẫn không chịu!
Chuyện nó như thế anh Trường ạ!
Một lần nữa vô cùng cảm ơn anh đã viết rất đúng về tôi, về dòng họ Đỗ nhỏ và ít của mình trong cộng đồng người Việt.
Chúc anh khỏe viết tốt!
TB: Nhà văn Bảo Ninh nổi tiếng với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh sau khi đọc bài của anh do tôi chuyển đến đã nhờ tôi chuyển lời hỏi thăm anh và khen bài viết của anh
Đỗ Hoàng
Tạp chí Nhà văn
Số : 65, Nguyễn Du, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 0913369652

(Bài viết về chân dung Đỗ Hoàng)

ĐỖ HOÀNG NGƯỜI ĐI NHẶT LẠI HỒN THƠ CŨ
Họ Đỗ nhà tôi ít có người tài, nên người làm quan không nhiều, viết văn làm thơ lại càng quí hiếm. Hôm rồi đại hội họ toàn quốc, nghe nói, có bác muốn hướng một số cháu thi vào trường viết văn, tương lai trở thành nhà văn, nhà thơ để cân bằng với các dòng họ khác. Nhưng có một số ý kiến lại cho rằng, chẳng có cái trường nào đào tạo được các nhà văn, nhà thơ cả, cứ để các cháu phát triển một cách tự nhiên. Thấy ý kiến này có lý, ngay sau đó, tôi viết thư cho bác Đỗ Ngọc Liên chủ tịch (hodovietnam.vn) an ủi và đề nghị: Nếu thật sự xảy ra cuộc thi đấu văn thơ, khi họ Nguyễn có những Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo… Họ Trần có Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa…Họ Đỗ ta sẽ đưa Đỗ Hoàng ra tỉ thí. Theo đánh giá của nhà văn, triết học gia Nguyễn Hoàng Đức, Đỗ Hoàng của chúng ta, là một trong ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Do vậy các bác cứ việc rung đùi, vểnh râu chờ kết quả.
Đỗ Hoàng sinh năm 1949 ở một làng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Bình. Bố ông nguyên là lính khố đỏ, đánh đấm ở An-gie-ri mãi không chết, quay súng về làm lính bộ đội cụ Hồ. Được một thời gian ngắn, ông bị chính đồng chí chỉ huy bắn chết từ phía sau, gán cho cái tội chạy trốn, hàng địch, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, yêu đương tình ái. Cái nghi án, nhọ như đít chảo này, quàng vào cổ Đỗ Hoàng, theo ông hết những năm tháng tuổi trẻ và còn rớt lại đến tận hôm nay.
Cũng từ những nỗi đau không thể nói, không người giãi bày ấy, nó đã ủ cho tâm hồn Đỗ Hoàng mau chín hơn. Để ông có những suy nghĩ vượt thời gian, ngay từ những ngày đầu làm người lính chiến. Đầu những năm bảy mươi, khi các nhà thơ cùng thời đang say cuồng cổ vũ cho cuộc chiến thần kỳ, ông đã nhận ra sự thật thối tha của những kẻ bán mua chiến tranh, gây ra cảnh nồi da xáo thịt đồng loại. Ngày 20-11-1973, trên điểm chốt 176 mặt trận biên giới Việt Lào, nghe tin Lê Đức Thọ và Kissinger nhận giải Nobel hòa bình, lời thơ mỉa mai, đau đớn của ông dường nghẹn quắn lại:
“…Nỗi hận thù nghìn đời kẻ bày ra chiến tranh,
Biến nhà văn trở thành biệt kích
Biến đồng loài thành ra tội đồ thứ thiệt,
Trái đất tỷ năm này dằng dặc khổ đau!
Bọn chúng muốn lưu tiếng tăm còn mãi mai sau,
Muốn tổ tông giống dòng nghìn đời quan tước.
Bọn chúng muốn thăng quan tiến chức,
Tranh giải thưởng này đến các giải thưởng kia.
Đến như cái Nô Ben nào có ý nghĩa gì.
Khi phần thưởng trao vào tay quỹ dữ 
Khi phần thưởng lại trao cho những tên đồ tể,
Coi mạng người như cỏ rác 
trong cuộc chiến tranh này…“(Sự Thật Chiến Tranh)
Chiến tranh càng khốc liệt, sự tuyên truyền đánh vào tâm lý người dân, người lính cần thiết hơn bao giờ hết. Do vậy, người ta đã dựng lên những người lính điển hình, như Phạm Tiến Duật… (giữa chiến trường được hưởng tiêu chuẩn như một sỹ quan cao cấp) để nhả ra những câu thơ ru người vào khói lửa, binh đao:
“Cô bộ đội ấy đã đi rồi
Chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy
Em gái đi, các anh ở lại
Biết đến bao giờ mới được gặp nhau…
…Lúc ấy lòng anh biết mấy tự hào
Tự hào vì có em ở đây, tự hào vì đất nước
Ở đây màu hồng xiết bao thân thuộc
Xao xuyến lòng anh, xao xuyến bạn bè… “ (Phạm Tiến Duật)
Trong lúc Phạm Tiến Duật đang bắt nhịp, gân lên“Đường ra trận mùa này đẹp lắm“ hừng hực vui như bản tình ca trẩy hội, thì thơ Đỗ Hoàng quặn lên đau xót. Ông xé toạc tấm áo che đậy sự lọc lừa giả dối ấy, để thấy rõ vào miền trong sự thật là con đường máu lửa và chết chóc:
“…Đoàn lính gái áo quần còn mới
Lứa lính này đưa tới miền trong.
Họ không hề bị đeo gông,
Mà sao ánh mắt mênh mông nỗi buồn!
Bước gấp lại đầu buôn lạnh vắng,
Nghe chỉ huy sốt sắng truyền lời:
“Rằng quân ta đủ gái trai,
Vào trong giải phóng đất trời tự do!…”(Lính Gái)
Rồi đoàn lính gái đã không trở lại. Cái chết của họ, những người nữ quân nhân ấy, đã đẩy cuộc chiến lên đỉnh điểm khốc liệt và tàn nhẫn. Với tôi, bài “Cái Chết Của Người Đẹp“ là một trong những bài thơ hay, bi thảm, chân thực, cảm thông nhất viết về chiến tranh. Âm vang của lời thơ vọng lên như tiếng chuông tiễn đưa oan hồn, để nghìn năm sau em cũng chẳng được quay về.
Và đúng như vậy, nếu cái đẹp bị hủy diệt, thì hành tinh này dứt khoát sẽ bị vứt bỏ:
“Em chết rồi.
Người đẹp!
Viên đạn của thế kỷ nào bắn em?
Anh sững sờ giữa trái đất máu đổ.
Xác em nằm trong huyền ảo xa xôi.
Không gian đen,
Không gian trắng
Không nói ra lời
Nỗi đau trái đất màu mây xám.
Thế là vô tình 
Sự sống
Bắt tay cái chết chia lìa!
Quân phục em mang
Máu thâm sì.
Nghìn năm sau em chẳng về được nữa.
Dù vật chất biến hoá bảo toàn,
Dù sự sống chỉ là điều phi lý.
Không gian,
Thời gian 
Mệt mỏi trường tồn!
Anh đi trên trái đất cô đơn.
Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở.
Xác em nằm 
Một hành tinh vứt bỏ.
Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua…“ (Quảng Trị1-1974)
Cho đến lúc đang ngồi viết những dòng chữ này, tôi cũng không thể lý giải: Nơi chiến trường ác liệt và bao cạm bẫy đang rình mò như vậy, Đỗ Hoàng viết và cất giấu được bản thảo? Để đến năm 1996 Nhà Xuất Bản Văn Học (Hà Nội) in thành tập thơ“Tâm Sự Người Lính“. Nói dại, vào thời điểm ấy, bản thảo này, rơi vào tay kẻ cơ hội nào đó, số phận Đỗ Hoàng chắc chắn đi tong. Và nếu như Đỗ Hoàng hy sinh ngoài mặt trận, trong hành trang, người ta tìm thấy tập bản thảo này, thay cho báo tử, có lẽ là lời tuyên án chẳng khác gì cha ông trước đây.
Đặt tựa đề tập thơ là “Tâm Sự Người Lính“ tôi có cảm giác dường như vì lý do xuất bản, hay vì lý do nào khác, Đỗ Hoàng muốn làm nhẹ hình thức đi chăng? Thật ra nó phải là Số Phận Người Lính. Cái bi thương trong chiến tranh dù ở đâu và giai đoạn nào trước nhất thuộc về người lính. Máu và nước mắt họ đối với những kẻ có quyền và phát động chiến tranh chỉ là“Đầu hèn lính mọn lại sắp rơi“. Dù có nâng lên chủ nghĩa này, học thuyết nọ, thì cuộc chiến này, đọng lại một cách khách quan, chân thực nhất qua bài“Hành Quân Qua Đồng Hới“
“Dừng lại vội vàng giây lát thôi,
Thành quách ngày xưa đổ nát rồi.
Sao cảnh trăm đời như vẫn một.
Đầu hèn lính mọi lại sắp rơi!“ (Tháng10-1973)
Viết về chiến tranh, súng đạn khói lửa, những chết chóc tang thương của người lính, nhưng trong thơ Đỗ Hoàng tuyệt nhiên không thấy sự hận thù địch, ta, chỉ thấy tình thương ngút trời với cái nhìn cảm thông:
“ Lính ở bên kia mấy tiểu đoàn?
Vô nhiều đứng chật cả đường quan.
Ngày mai không biết nơi nào đánh?
Nhất định có người phải chết oan! “(Chết Oan-12-1973)
Sự cảm thông đó thực sự chỉ có được từ người lính chiến có trái tim nhân hậu. Do vậy, thơ ông dường như không còn của riêng mình nữa, mà nó là những cảm xúc chung của những người lính cả hai phía trong cuộc chiến tương tàn này:
“Ai nhìn khuôn mặt lính?
Cháy đen màu đồng hun.
Mấy năm trời đã sống
Lặng câm như khoảng rừng.
Sinh viên năm thứ nhất
Sinh viên năm thứ hai
Lớp lớp trong cỏ rác
Dưới đất đen sâu vùi.
Số sư đoàn cơ động
Số sư đoàn chốt cao,
Biến đi cùng năm tháng
Đời trần ai biết đâu?“ (Thân Phận Người Lính-1972)
Tôi nghĩ, “ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ là bài thơ hay nhất của Đỗ Hoàng viết trong thời gian chiến tranh(1970-1975). Chẳng cần phải đến sau 30-4-1975 mới nhận ra, như nhà văn Dương Thu Hương, khi vào tới Sài Gòn, ngồi bệt xuống đường, khóc, hét lên cho cả thế hệ bị dối lừa. Ngay từ năm 1973 Đỗ Hoàng đã vạch ra: “Kiểu làm ăn hợp tác/ Đói nghèo đến tủy xương“. Bài thơ như một lời ai điếu sớm cho một chủ thuyết và những chính sách sai lầm. Vì một lý tưởng nào đó, hay muốn thoát khỏi đói nghèo, thanh niên phải lách mình ra trận?“…Trai tráng bỏ quê hương/ Sung vào nơi lính tráng/Coi thường thân mạng sống/Cố lách qua đói nghèo…“
Vâng! Chúng ta hãy đọc lại trọn bài“ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ để thấy toàn cảnh của bức tranh nhoăn nheo, tiêu điều miền Bắc hậu phương vững chắc vì miền Nam một thời:
“Vừa mới đến đầu thôn,
Đã thấy làng lạnh vắng.
Mùa này giêng hai đến,
Người chạy ăn khắp nơi.
Làng quê đồng trắng trời,
Tre yếu gầy buổi đói.
Mái nhà tranh không chói(1) 
Dửng dưng trời cao xanh!
Khắp nơi người chạy ăn,
Như kiến ong vỡ mật.
Đói không còn biết chết.
Xuống biển lại lên rừng.
Mẹ già đang tha phương.
Quên đường bom đạn nổ.
Chưa trọn đời đói khổ.
Nợ nần chất cháu con!
Ruộng ở nhà bỏ hoang,
Lúa tiêu điều xơ xác.
Kiểu làm ăn hợp tác,
Đói nghèo đến tuỷ xương!
Trai tráng bỏ quê hương,
Sung vào nơi lính tráng,
Coi thường thân mạng sống.
Cố lách qua đói nghèo!
Khuôn mặt đất nhăn nheo,
Quê nhà tan xác lá.
Bao giờ không đói khổ?
Lúa đầy rương giêng hai!“
30 -11 – 1973 (1) Lợp thêm, tiếng miền Trung)
Sau chiến tranh, Đỗ Hoàng chuyển sang viết, làm thơ chuyên nghiệp. Hiện ông đang làm công việc biên tập của tạp chí nhà văn Việt Nam. Ông là người ham đọc, tự học, biết nhiều sinh ngữ, nhất là tiếng Trung. Đỗ Hoàng có thể trực tiếp đọc và nghiên cứu từ nguyên bản thơ văn cổ. Nên vốn cổ văn cũng như hiểu biết của ông về lãnh vực này sâu và đa dạng.
Cách đây mấy năm, Đỗ Hoàng đã dịch và phóng tác từ nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thành 6 122 câu thơ lục bát với tựa đề Kiều Thơ. Năm vừa rồi (2012) Đỗ Hoàng lại cho ra lò song thất lục bát Khúc Ngâm Vợ Lính dịch nguyên tác từ tác phẩm chữ Hán Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Hai tác phẩm này, đã được đại thi hào Nguyễn Du và nữ sỹ Đoàn Thị Điểm dịch, từ mấy trăm năm nay được coi là quốc hồn quốc túy của nước Việt ta. Việc làm được coi là ngông, động trời này của Đỗ Hoàng, tốn khá nhiều bút mực trên văn đàn. Nhưng khi đọc, khó ai có thể phủ nhận tài năng cũng như sức (vốn) sáng tạo của ông. Và biết đâu đấy, trăm năm sau, khi nói về Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, hậu nhân của chúng ta chẳng nhắc đến Kiều Thơ và Khúc Ngâm Vợ Lính của Đỗ Hoàng?
“Lẻ loi cánh phượng trời xa
Phải chăng tạo hoá chưa ra an bài…”
(Kiều Thơ)
“Xưa nay chinh chiến trận đồ
Tấm thân muôn dặm nấm mồ táng đâu
Gió thổi rát thêm sầu mặt lạnh
Dòng nước sâu ngựa tránh chân xiêu
Kê yên, gối trống sớm chiều
Màn trời chiếu đất trải nhiểu đắng cay!…”
(Khúc Ngâm Vợ Lính)
Là nhà thơ, mang tính khí của người lính trận, nên gặp những bài thơ tắc tị, vô lối, bất kỳ tác giả là ai, tức khí, ông cũng phang thẳng cánh. Gần đây Đỗ Hoàng đã đè nghiến những bài thơ viết bằng tiếng Việt, đọc không thể hiểu của những Nguyễn Quang Thiều, Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh…dịch sang tiếng Việt theo thể lục bát. Việc làm của ông gây ra nhiều tranh luận, nhưng với tôi những bản ông dịch, quả thật hay, từ ngữ sáng, đẹp so bài gốc của nó rất nhiều. Cái chính, Đỗ Hoàng làm cho người đọc hiểu tác giả đó muốn nói cái gì, điều gì. Đành rằng thơ là cảm xúc riêng của tác giả, nhưng dùng những từ ngữ rắm rối, lảm nhảm tối thui để diễn tả, người đọc không thể hiểu, thì làm sao đồng cảm, xẻ chia cảm xúc? Dù có biện giải thơ mới, trừu tượng hay..gì gì ..đi chăng nữa, nó cũng chỉ là thứ nên cho vào kho.
Đỗ Hoàng đã sáng tác khá nhiều thơ theo thể tự do. Có những bài ông viết cách nay đã ba, bốn chục năm, nhưng đọc lên vẫn thấy rất mới và lạ, trẻ trung. Thật ra thơ hay hoặc dở, cũ hay mới, chẳng liên quan gì đến thể loại lục bát, tứ tuyệt, hay thể tự do. Thể loại chỉ là hình thức. Tải đến, làm người đọc rung động là những ngôn từ. Ngôn từ làm nên hình tượng thông qua sự tưởng tưởng cảm xúc của nhà thơ. Thơ hay dứt khoát phải có từ mới, hoặc cụm từ mới.Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú.
Với tôi, Đỗ Hoàng là một trong số ít các nhà thơ tài năng như vậy. Chưa một lần tiếp xúc, gặp gỡ Đỗ Hoàng, nhưng đọc thơ, tôi nghĩ, ông là người giỏi triết học. Thơ của ông giầu hình tượng so sánh, phảng phất triết lý sống dù đó là thơ tình. “Khoảng Cách” là một bài thơ, ông viết cách nay đã tròn ba mươi năm, nói lên điều đó:
“Chẳng có khoảng cách nào giữa các vì sao mà ánh sáng kia không tới.
Nhiều vô cùng gần lại trong tầm tay
Nhà thiên văn có thư¬ớc đo cực tiểu 
Để đi hết không gian 
chiều rộng
chiều dài!
Nh¬ưng em!
Chẳng ở đâu trong thiên thể.
Chỉ cách anh lối phố, con đ¬ường.
Thế mà anh chư¬a một lần đến đ¬ược.
Dù tốc độ trái tim nhanh hơn ánh sáng hàng tỷ năm!
Thế mới biết,
Tình anh chỉ là thoáng chốc
Tr¬ước tình em
vĩnh viễn thời gian!
Dễ dàng chi trong đời đi hết?
Khoảng cách
Từ trái tim ng¬ười
đến trái tim tôi!”
Thơ của Đỗ Hoàng đậm tính triết, nặng phần trí nên thường có bố cục chặt chẽ. Khi trích dẫn thơ của ông, khó tách ra từng đoạn, mà chỉ có thể bê nguyên bài. “Ngủ Quên” là một trong những bài thơ như vậy. Cái qui luật, mối quan hệ tuần hoàn của tự nhiên ấy, là triết lý sống liên tưởng về con người và giá trị của tâm hồn và cuộc sống:
“Không có mặt trời,
Trái đất ngủ quên.
Trong triệu năm băng giá!
Không có con thuyền,
Dòng sông ngủ quên.
Và tự xoá mình khi về biển cả!
Không có người¬ đi,
Con đ¬ường ngủ quên.
Rồi cũng tan vào cây cỏ!
Không có tình yêu,
Trái tim ngủ quên.
Bao lứa đôi
Hóa đá!” (Huế 1983)
“Trước Tài Nghệ Ướp Xác“ là một bài thơ hay tiêu biểu về nhân sinh quan sâu sắc thân phận con người của Đỗ Hoàng, được viết vào tháng 5-1973(in trong tập thơ Tâm Sự Người Lính). Đọc, tôi cảm thấy hơi bị ê răng. Nếu như bài thơ này lọt ra ngoài, trong thời kỳ đang cuồng say ấy, gặp mấy ông ” vịnh người ngồi trên” Đỗ Hoàng gặp đại hạn như vụ Cây Táo Ông Lành-Hoàng Cát là cái chắc. Dù ông đã có lời giải thích, cảm hứng viết từ vụ ướp xác ở Thanh Hóa nào đó:
“Ai chết nghìn năm còn để xác? 
Thế giới hôm nay mãi sững sờ!
Còn ta sống giữa đời đen bạc,
Như chết nghìn năm dưới đáy mồ!“
Không phải ngẫu nhiên, nhà triết học Nguyễn Hoàng Đức đánh giá Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Hưng Quốc là ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Vốn ở đây chắc chắn là đạo đức, tư tưởng, chí khí và những kiến thức uyên thâm trong mọi lãnh vực của nhà thơ mà Nguyễn Hoàng Đức muốn nói đến. Với Đỗ Hoàng, tôi bảo đảm người đọc sẽ còn gặp nhiều những bất ngờ khác từ nơi ông.
Và nếu như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, bước ra từ ca dao lục bát để làm mới thi ca, thì tôi tin nhà thơ Đỗ Hoàng đang cần mẫn đi nhặt lại hồn thơ cũ đó.
Leipzig ngày 11-6-2013
© Đỗ Trường

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo email cho Đỗ Hoàng : ĐỖ HOÀNG NGƯỜI ĐI NHẶT LẠI HỒN THƠ CŨ
Trần Mạnh Hảo gửi ĐỖ TRƯỜNG
Cám ơn em, anh đã đọc một mạch bài viết đầy cảm xúc và trí tuệ của em về nhà thơ, nhà phê bình, dịch giả ĐỖ HOÀNG. Bài viết thật hay, xuát sắc. Có một chi tiết này em cần sửa. GS.TS. Nguyễn Hưng Quốc đang là chủ nhiệm môn Việt Nam học tại trường đại học Victoria Úc là nhà phê bình, chứ không phải nhà thơ.Gần cuối bài em có trích lời Nguyễn Hoàng Đức. Anh nhớ hình như ông Đức có nói : "Đỗ Hoàng cùng với Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hưng Quốc là những nhà phê bình sáng giá của VN..." (*) .Nếu bài đã in trên các mạng, em nên viết cho họ sửa dùm chi tiết này.
Họ Đỗ CÓ ÔNG ĐỖ PHỦ thơ hay nhất thế giới.
Chúc em và gia dình vui khỏe, hạnh phúc, viết thêm nhiều bài phê bình hay nữa, góp phần làm rạng danh họ Đỗ và rạng danh quê hương Nam Định của chúng ta.
(*) Nguyễn Hoàng Đức viết " Tâm sự người lính" từ bóng râm chiến khu đến quảng trường phản tỉnh của lương tri có câu:
Đỗ Hoàng trước hết khá giỏi tiếng Trung, có cả kho tàng thơ cổ trong người. Tôi đã nghe anh nói tiếng Anh, bình thơ có tiếng Pháp, lại còn nhắn tin cho tôi bằng tiếng Nga. Riêng về vốn thơ, tôi gặp ba người làm tôi đáng nể và luôn cho rằng họ giầu vốn thơ nhất Việt Nam, đó là, Đỗ Hoàng, Nguyễn Hưng Quốc và Trần Mạnh Hảo. dohoang.vnwweblogs.com ho
hoặc vannghecuocsong.com

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây