vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


11/08/1952: Hussein lên kế vị ngai vàng Jordan

Vào ngày này năm 1952, Hoàng tử Hussein đã được tuyên làm vua Jordan sau khi cha ông, vua Talal, bị Quốc hội Jordan phế truất với lý do mắc bệnh tâm thần. Hussein chính thức lên ngôi vào sinh nhật lần thứ 18 của mình, ngày 14/11/1953. Ông là vị vua lập hiến thứ ba của Jordan và là thành viên của triều đại Hashemite, được cho là dòng dõi hậu duệ của nhà tiên tri Muhammad.
11/08/1952: Hussein lên kế vị ngai vàng Jordan

11/08/1952: Hussein lên kế vị ngai vàng Jordan

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Hussein succeeds to Jordanian throneHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1952, Hoàng tử Hussein đã được tuyên làm vua Jordan sau khi cha ông, vua Talal, bị Quốc hội Jordan phế truất với lý do mắc bệnh tâm thần. Hussein chính thức lên ngôi vào sinh nhật lần thứ 18 của mình, ngày 14/11/1953. Ông là vị vua lập hiến thứ ba của Jordan và là thành viên của triều đại Hashemite, được cho là dòng dõi hậu duệ của nhà tiên tri Muhammad.

Trong suốt gần năm thập niên cầm quyền, Hussein đã duy trì mối quan hệ tốt với phương Tây và giúp nền kinh tế Jordan phát triển ổn định. Ông cũng đã đưa đất nước chiến đấu chống lại Israel trong Chiến tranh Sáu ngày 1967 và sau đó tiếp t
 

Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học

Print Friendly, PDF & Email

Spreadsheet

Nguồn: Dani Rodrik, “Economists vs. Economics”, Project Syndicate, 10/09/2015.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Kể từ cuối thế kỷ 19, khi ngành kinh tế học ngày càng sử dụng nhiều toán học và thống kê hơn, đưa ra những tuyên bố rằng nó là một ngành khoa học, thì những người làm nghề đã bị cáo buộc hàng loạt tội danh. Các cáo buộc, bao gồm sự kiêu căng, thờ ơ với những mục tiêu xã hội ngoài thu nhập, quan tâm quá mức tới những kỹ thuật chính thống, và thiếu khả năng dự đoán những diễn biến kinh tế lớn như các cuộc khủng hoảng tài chính – thường đến từ những người ngoại đạo, hoặc từ những nhóm không chính thống bên lề. Nhưng gần đây dường như đến cả những cây đa cây đề của ngành này cũng không cảm thấy hài lòng.

Paul Krugman, một người được giải thưởng Nobel đồng thời phụ trách một mục báo (trên New York Times), đã hình thành thói quen đả kích gay gắt sự ra đời của các mô hình kinh tế vĩ mô mới nhất vì bỏ qua những sự thật lâu nay dựa trên quan điểm của Keynes. Paul Romer, một trong những nhà khởi lập thuyết tăng trưởng mới, đã buộc tội một số tên tuổi hàng đầu, bao gồm người đoạt giải Nobel Robert Lucas, về những điều mà ông gọi là “toán học hóa điên rồ” (“mathiness”) – sử dụng toán học để làm rắc rối thêm thay vì làm sáng tỏ vấn đề.

Richard Thaler, một nhà kinh tế học hành vi đáng kính tại trường Đại học Chicago, đã chỉ trích nghề này vì làm ngơ những hành vi trong thế giới thực tế để sử dụng các mô hình vốn giả định rằng con người là những kẻ tối đa hóa lợi ích có lý trí. Và giáo sư tài chính Luigi Zingales, cũng đến từ Đại học Chicago, đã buộc tội những chuyên gia tài chính đồng môn của ông là đã dẫn dắt xã hội đi lạc đường bằng việc phóng đại những lợi ích được tạo ra bởi ngành tài chính.

Hình thức phê phán bởi những tên tuổi lớn trong ngành là hoàn toàn lành mạnh và được chào đón – đặc biệt là trong một lĩnh vực mà vẫn thường thiếu nhiều sự tự nhìn nhận. Tôi cũng thường xuyên chỉ trích những quan niệm lâu đời trong bộ môn này – như thị trường tự do và tự do thương mại.

Nhưng có một ẩn ý không thống nhất trong vòng phê phán mới này cần phải được làm rõ – và phải được bác bỏ. Kinh tế học không phải bộ môn khoa học mà trong đó chỉ có một mô hình đúng duy nhất có thể áp dụng tốt nhất trong tất cả các hoàn cảnh. Vấn đề ở đây không phải là “đạt được sự đồng thuận về việc mô hình nào đúng,” như Romer đã nói, mà là để tìm ra mô hình nào áp dụng tốt nhất trong một tình huống cụ thể. Và thực hiện được điều này sẽ luôn là một nghệ thuật, chứ không phải khoa học, đặc biệt khi lựa chọn phải được đưa ra theo thời gian thực.

Thế giới xã hội khác với thế giới vật chất vì nó là thế giới nhân tạo và vì thế nó gần như có thể được uốn nắn không giới hạn. Vì thế, không giống khoa học tự nhiên, kinh tế học tiến lên về mặt khoa học không phải bằng cách thay thế những mô hình cũ bằng những mô hình tốt hơn, mà bằng cách mở rộng thư viện các mô hình, trong đó mỗi mô hình sẽ giải thích cho một sự kiện xã hội khác nhau.

Ví dụ, chúng ta giờ đây có rất nhiều mô hình thị trường cạnh tranh không hoàn hảo hoặc thông tin bất đối xứng. Những mô hình này không làm cho những mô hình tiền bối vốn dựa trên cạnh tranh hoàn hảo trở nên lạc hậu hoặc không phù hợp. Chúng chỉ cho chúng ta ý thức cao hơn về việc những hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi những mô hình khác nhau.

Tương tự như vậy, các mô hình hành vi nhấn mạnh việc ra quyết định dựa trên trải nghiệm giúp chúng ta thành những nhà phân tích giỏi hơn trong những môi trường mà những sự suy xét, cân nhắc như vậy có thể là rất quan trong. Chúng không thay thế những mô hình lựa chọn lý tính – vẫn tiếp tục là công cụ cần sử dụng đến trong một số hoàn cảnh khác. Một mô hình tăng trưởng mà áp dụng vào các nước tiên tiến có thể là một chỉ dẫn tồi cho các nước đang phát triển. Các mô hình nhấn mạnh sự kỳ vọng đôi khi là tốt nhất cho việc phân tích các mức lạm phát và thất nghiệp; nhưng trong một số thời điểm khác, các mô hình với yếu tố Keynesian lại có hiệu quả áp dụng vượt trội hơn.

Jorge Luis Borges, một nhà văn người Argentina, đã từng viết một truyện ngắn – một đoạn văn – mà có lẽ là hướng dẫn tốt nhất cho phương pháp khoa học. Trong đó, ông mô tả một vùng đất xa xôi nơi bộ môn bản đồ học – môn khoa học về vẽ bản đồ – được đẩy đến những thái cực nực cười. Một bản đồ tỉnh chi tiết đến mức có kích cỡ bằng cả một thành phố. Bản đồ một đế chế thì rộng bằng cả một tỉnh.

Dần dần, các nhà đo đạc bản đồ trở nên tham vọng hơn: họ vẽ một bản đồ như chính mô hình, thể hiện chính xác với tỷ lệ 1:1 của cả đế chế. Như Borges hài hước viết, những thế hệ sau chẳng thấy lợi ích thực tế nào của một tấm bản đồ rộng đến mức không thể cầm được như vậy. Vì thế tấm bản đồ này đã bị để tới mục ra ở sa mạc, cùng với môn khoa học địa lý mà nó đại diện.

Nhiều nhà khoa học xã hội ngày nay vẫn chưa nắm bắt được quan điểm của Borges: sự thấu hiểu đòi hỏi sự đơn giản hóa. Cách tốt nhất để đáp lại sự phức tạp của đời sống xã hội không phải là thiết kế ra những mô hình còn nhiều chi tiết hơn, mà là tìm hiểu xem những cơ chế hệ quả khác nhau hoạt động như thế nào, một cơ chế tại từng thời điểm một, và sau đó tìm ra những mô hình nào là phù hợp nhất trong một tình huống cụ thể.

Chúng ta sử dụng một bản đồ này nếu chúng ta đang lái xe từ nhà đến chỗ làm, một bản đồ khác nếu chúng ta du lịch đến một thành phố khác. Nhưng những loại bản đồ khác nhau sẽ cần được dùng nếu chúng ta đi xe máy, đi bộ, hoặc lên kế hoạch dùng phương tiện công cộng.

Xem xét giữa các mô hình kinh tế – lựa chọn mô hình nào hoạt động hiệu quả hơn – khó hơn rất nhiều so với việc chọn bản đồ đúng. Những người làm nghề sử dụng hàng loạt các phương pháp thực nghiệm chính thức và phi chính thức với nhiều kỹ thuật khác nhau. Và, trong cuốn sách tới đây của tôi tựa đề Các quy luật kinh tế (Economic Rules), tôi chỉ trích việc đào tạo bộ môn kinh tế vì không trang bị một cách thích đáng cho sinh viên những chẩn đoán thực nghiệm mà bộ môn này đòi hỏi.

Nhưng những nhà phê bình nội bộ trong nghề sẽ sai lầm khi cho rằng bộ môn này đã đi sai đường vì các nhà kinh tế học chưa thể đưa ra đồng thuận về những mô hình “đúng” (dĩ nhiên đó là những mô hình họ yêu thích hơn). Hãy để chúng ta tận hưởng bộ môn kinh tế học theo mọi khía cạnh đa dạng của nó – lý trí và hành vi, Keynesian và Cổ điển, tốt nhất và tốt thứ hai, chính thống và không chính thống – và dồn toàn bộ năng lượng của chúng ta vào việc trở nên khôn ngoan hơn trong lựa chọn mô hình nào để áp dụng vào lúc nào.

Dani Rodrik là Giáo sư ngành Kinh tế Chính trị Thế giới tại Trường Quản trị Nhà nước John F. Kennedy thuộc ĐH Harvard. Ông là tác giả của các cuốn sách One Economics, Many Recipes: Globalization, Institutions, and Economic Growth (Princeton University Press, 2009) và, gần đây nhất, là The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy (W. W. Norton & Company, 2012).

Copyright: Project Syndicate 2015 – Economists vs. Economics
 

Tại sao người Mỹ da trắng đang tự hủy hoại bản thân?

Print Friendly, PDF & Email

_86489306_istock_000005286338_full

Nguồn: Fareed Zakaria, “America’s self-destructive whites”, The Washington Post, 31/12/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thị Nhung

Tại sao nhóm người Mỹ da trắng trung lưu đang tự giết mình? Bản thân thực tế này đã là phát hiện quan trọng nhất của ngành khoa học xã hội trong nhiều năm qua. Và nó cũng đang định hình nền chính trị Mỹ. Jeff Guo trên tờ Washington Post đã chỉ ra rằng những người nằm trong nhóm này “là lực lượng chính đưa Donald Trump lên vị trí dẫn đầu trong cuộc đua giành  ghế ứng cử viên đại diện cho Đảng Cộng hòa để tranh cử tổng thống.” Câu hỏi mấu chốt ở đây là tại sao, và tìm hiểu vấn đề này sẽ cho chúng ta những câu trả lời cho thấy thái độ phẫn nộ đang chi phối nền chính trị Mỹ này sẽ chỉ trở nên ngày càng tồi tệ hơn.

Trong suốt nhiều thập niên, người dân ở các nước giàu thường sống ngày một thọ hơn. Nhưng trong một bài viết nổi tiếng, hai nhà kinh tế Angus Deaton và Anne Case đã nêu ra phát hiện của mình, rằng trong 15 năm qua, một nhóm người ở Mỹ đang hình thành nên một xu hướng ngược chiều đáng ngại, đó chính là nhóm người Mỹ da trắng trung niên.

Tỷ lệ tử vong ở nhóm này càng ngày càng tăng. Và trong số đó tình hình còn tệ hơn đối với những người chỉ có trình độ trung học phổ thông hoặc thấp hơn. Dù có người lên tiếng bày tỏ nghi ngờ đối với những số liệu này, nhưng ngay cả một trong những người chỉ trích nó mạnh mẽ nhất cũng từng thừa nhận rằng dù tính theo cách nào thì “mức thay đổi [của nhóm này] so với các quốc gia khác và các nhóm khác là rất lớn”.

Những nguyên nhân tử vong chính cũng gây ngạc nhiên không kém: tự tử, nghiện rượu, lạm dụng thuốc kê đơn, và các chất gây nghiện phi pháp. “Dường như người ta đang tự giết mình, dù từ từ hay nhanh chóng.” Deaton nói với tôi. Hoàn cảnh dẫn đến những nguyên nhân này thường là do căng thẳng thần kinh, trầm cảm, và tuyệt vọng. So với các quốc gia công nghiệp khác, chỉ có duy nhất sự gia tăng về số ca tử vong tương đương là ở nhóm nam giới tại Nga vào thời kỳ sau khi Liên Xô sụp đổ, khi tỷ lệ nghiện rượu tại đây tăng vọt.

Một cách lý giải thông thường cho tình trạng căng thẳng và lo âu của tầng lớp trung lưu này là xu hướng toàn cầu hóa và thay đổi công nghệ đã làm gia tăng áp lực đối với những người lao động bình thường ở các nước công nghiệp. Nhưng xu hướng đáng ngại này lại không xảy ra ở bất kỳ một quốc gia phương Tây nào khác, mà là một hiện tượng riêng biệt của Mỹ. Và thực chất Mỹ tương đối miễn nhiễm với các áp lực toàn cầu hóa này, nhờ vào thị trường nội địa tự chủ và rộng lớn. Thương mại chỉ đóng góp 23% vào nền kinh tế Mỹ, so với 71% như ở Đức và 45% như ở Pháp.

Deaton đã suy luận với tôi rằng có thể do tình hình phúc lợi xã hội hào phóng của châu Âu đã giúp xoa dịu những tâm lý lo sợ thường phát sinh khi có biến động đột ngột. Deaton cũng tin chắc rằng ở Mỹ, các bác sỹ và những công ty dược phẩm khi giải quyết các đau đớn về thể chất và tâm lý đã lạm dụng việc kê đơn thuốc quá mức, bao gồm cả việc dùng đến các thuốc giảm đau liều mạnh và gây nghiện (opioids). Thời điểm các thuốc như Oxycontin – một thuốc giảm đau bán theo đơn có tác dụng giống heroin – được lưu hành rộng rãi trùng với giai đoạn tỷ lệ tử vong tăng cao.

Nhưng tại sao chúng ta không thấy xu hướng tương tự ở các nhóm chủng tộc khác ở Mỹ? Trong khi tỷ lệ tử vong của người Mỹ trung niên không đổi hoặc tăng lên, thì con số này ở các nhóm người La Tinh hoặc da đen lại tiếp tục giảm mạnh. Những nhóm này cũng ở chung trong một đất nước và phải đối mặt với những áp lực kinh tế lớn hơn nhiều so với nhóm da trắng. Tại sao họ lại không cùng chịu tâm lý tuyệt vọng?

Câu trả lời nằm ở mức độ kỳ vọng. Nhà nhân chủng học Carolyn Rouse từ ĐH Princeton trong email trao đổi với tôi đã cho rằng, các nhóm khác có thể không kỳ vọng thu nhập, mức sống và vị thế xã hội của họ hiển nhiên là sẽ dần cải thiện. Họ cũng không tin tưởng chắc chắn rằng chỉ cần làm việc chăm chỉ, họ sẽ có thể vươn lên trong cuộc sống. Trên thực tế, Rouse cho biết sau hàng trăm năm chịu phận nô lệ, phân biệt và kỳ thị, người da đen đã tự phát triển được những biện pháp đối phó với nỗi thất vọng và bất công trong cuộc sống: thông qua gia đình, nghệ thuật, diễn ngôn phản đối và hơn hết, bằng tôn giáo.

“Các bạn đã trở thành những con người kỳ cựu về chịu đựng khổ đau không ngừng.” Martin Luther King đã nói với người Mỹ gốc Phi trong bài diễn văn “Tôi có một giấc mơ” năm 1963: “Hãy tiếp tục tiến lên với niềm tin rằng nỗi thống khổ oan ức ấy sẽ được bù đắp.” Trong một bài viết vào năm 1960, King đã dùng chính những trải nghiệm cá nhân để giải thích vấn đề này: “Khi nỗi thống khổ của tôi ngày càng chồng chất, tôi chợt nhận ra rằng chỉ có hai cách để đối phó với hoàn cảnh của mình: hoặc là phản ứng lại với thái độ chua chát, hoặc là tìm cách biến nỗi khổ đau này thành một sức mạnh mới mẻ…. Vậy giống như lời Thánh Phaolô, giờ đây tôi cũng có thể nói, một cách khiêm nhường nhưng đầy tự hào rằng, ‘Tôi mang nơi thân mình tôi những vết sẹo của Chúa Giêsu’.” Người La Tinh và những trải nghiệm khi nhập cư của họ ở Mỹ tất nhiên có phần khác biệt. Nhưng cũng tương tự như vậy, rất ít người trong nhóm này tin rằng vị trí của họ trong xã hội luôn được đảm bảo chắc chắn. Bộ phận dân tộc thiểu số, về cơ bản, luôn bị gạt ra ngoài rìa. Họ không mặc định rằng hệ thống này được xây dựng cho lợi ích của họ. Họ nỗ lực hết mình và hy vọng đạt được thành công, nhưng họ không kỳ vọng đó là quy luật.

Nước Mỹ đang trải qua một cuộc chuyển biến quyền lực lớn. Tầng lớp người lao động da trắng không tự coi mình thuộc nhóm quý tộc, tinh hoa. Nhưng ở một góc độ nhất định, họ chắc chắn luôn bị so sánh với người da đen, La-tinh, người Mỹ bản địa và phần lớn dân nhập cư. Họ từng là trung tâm của nền kinh tế Mỹ, xã hội Mỹ, và thực chất cả bản sắc Mỹ. Nhưng giờ đây họ không còn ở vị trí ấy nữa. Donald Trump đã hứa hẹn rằng ông ta sẽ thay đổi cục diện này và sẽ giúp họ thắng thế một lần nữa. Nhưng ông ta không thể làm được điều ấy. Không ai có thể. Và trong sâu thẳm, họ cũng biết điều này.

Fareed Zakaria là một cây bút trong mục quan hệ quốc tế của tờ Washington Post. Ông cũng là người dẫn (host) cho chương trình Fareed Zakaria GPS của đài CNN và là một biên tập viên đóng góp cho tờ The Atlantic.


Tại sao người Mỹ da trắng đang tự hủy hoại bản thân?

Print Friendly, PDF & Email

_86489306_istock_000005286338_full

Nguồn: Fareed Zakaria, “America’s self-destructive whites”, The Washington Post, 31/12/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thị Nhung

Tại sao nhóm người Mỹ da trắng trung lưu đang tự giết mình? Bản thân thực tế này đã là phát hiện quan trọng nhất của ngành khoa học xã hội trong nhiều năm qua. Và nó cũng đang định hình nền chính trị Mỹ. Jeff Guo trên tờ Washington Post đã chỉ ra rằng những người nằm trong nhóm này “là lực lượng chính đưa Donald Trump lên vị trí dẫn đầu trong cuộc đua giành  ghế ứng cử viên đại diện cho Đảng Cộng hòa để tranh cử tổng thống.” Câu hỏi mấu chốt ở đây là tại sao, và tìm hiểu vấn đề này sẽ cho chúng ta những câu trả lời cho thấy thái độ phẫn nộ đang chi phối nền chính trị Mỹ này sẽ chỉ trở nên ngày càng tồi tệ hơn.

Trong suốt nhiều thập niên, người dân ở các nước giàu thường sống ngày một thọ hơn. Nhưng trong một bài viết nổi tiếng, hai nhà kinh tế Angus Deaton và Anne Case đã nêu ra phát hiện của mình, rằng trong 15 năm qua, một nhóm người ở Mỹ đang hình thành nên một xu hướng ngược chiều đáng ngại, đó chính là nhóm người Mỹ da trắng trung niên.

Tỷ lệ tử vong ở nhóm này càng ngày càng tăng. Và trong số đó tình hình còn tệ hơn đối với những người chỉ có trình độ trung học phổ thông hoặc thấp hơn. Dù có người lên tiếng bày tỏ nghi ngờ đối với những số liệu này, nhưng ngay cả một trong những người chỉ trích nó mạnh mẽ nhất cũng từng thừa nhận rằng dù tính theo cách nào thì “mức thay đổi [của nhóm này] so với các quốc gia khác và các nhóm khác là rất lớn”.

Những nguyên nhân tử vong chính cũng gây ngạc nhiên không kém: tự tử, nghiện rượu, lạm dụng thuốc kê đơn, và các chất gây nghiện phi pháp. “Dường như người ta đang tự giết mình, dù từ từ hay nhanh chóng.” Deaton nói với tôi. Hoàn cảnh dẫn đến những nguyên nhân này thường là do căng thẳng thần kinh, trầm cảm, và tuyệt vọng. So với các quốc gia công nghiệp khác, chỉ có duy nhất sự gia tăng về số ca tử vong tương đương là ở nhóm nam giới tại Nga vào thời kỳ sau khi Liên Xô sụp đổ, khi tỷ lệ nghiện rượu tại đây tăng vọt.

Một cách lý giải thông thường cho tình trạng căng thẳng và lo âu của tầng lớp trung lưu này là xu hướng toàn cầu hóa và thay đổi công nghệ đã làm gia tăng áp lực đối với những người lao động bình thường ở các nước công nghiệp. Nhưng xu hướng đáng ngại này lại không xảy ra ở bất kỳ một quốc gia phương Tây nào khác, mà là một hiện tượng riêng biệt của Mỹ. Và thực chất Mỹ tương đối miễn nhiễm với các áp lực toàn cầu hóa này, nhờ vào thị trường nội địa tự chủ và rộng lớn. Thương mại chỉ đóng góp 23% vào nền kinh tế Mỹ, so với 71% như ở Đức và 45% như ở Pháp.

Deaton đã suy luận với tôi rằng có thể do tình hình phúc lợi xã hội hào phóng của châu Âu đã giúp xoa dịu những tâm lý lo sợ thường phát sinh khi có biến động đột ngột. Deaton cũng tin chắc rằng ở Mỹ, các bác sỹ và những công ty dược phẩm khi giải quyết các đau đớn về thể chất và tâm lý đã lạm dụng việc kê đơn thuốc quá mức, bao gồm cả việc dùng đến các thuốc giảm đau liều mạnh và gây nghiện (opioids). Thời điểm các thuốc như Oxycontin – một thuốc giảm đau bán theo đơn có tác dụng giống heroin – được lưu hành rộng rãi trùng với giai đoạn tỷ lệ tử vong tăng cao.

Nhưng tại sao chúng ta không thấy xu hướng tương tự ở các nhóm chủng tộc khác ở Mỹ? Trong khi tỷ lệ tử vong của người Mỹ trung niên không đổi hoặc tăng lên, thì con số này ở các nhóm người La Tinh hoặc da đen lại tiếp tục giảm mạnh. Những nhóm này cũng ở chung trong một đất nước và phải đối mặt với những áp lực kinh tế lớn hơn nhiều so với nhóm da trắng. Tại sao họ lại không cùng chịu tâm lý tuyệt vọng?

Câu trả lời nằm ở mức độ kỳ vọng. Nhà nhân chủng học Carolyn Rouse từ ĐH Princeton trong email trao đổi với tôi đã cho rằng, các nhóm khác có thể không kỳ vọng thu nhập, mức sống và vị thế xã hội của họ hiển nhiên là sẽ dần cải thiện. Họ cũng không tin tưởng chắc chắn rằng chỉ cần làm việc chăm chỉ, họ sẽ có thể vươn lên trong cuộc sống. Trên thực tế, Rouse cho biết sau hàng trăm năm chịu phận nô lệ, phân biệt và kỳ thị, người da đen đã tự phát triển được những biện pháp đối phó với nỗi thất vọng và bất công trong cuộc sống: thông qua gia đình, nghệ thuật, diễn ngôn phản đối và hơn hết, bằng tôn giáo.

“Các bạn đã trở thành những con người kỳ cựu về chịu đựng khổ đau không ngừng.” Martin Luther King đã nói với người Mỹ gốc Phi trong bài diễn văn “Tôi có một giấc mơ” năm 1963: “Hãy tiếp tục tiến lên với niềm tin rằng nỗi thống khổ oan ức ấy sẽ được bù đắp.” Trong một bài viết vào năm 1960, King đã dùng chính những trải nghiệm cá nhân để giải thích vấn đề này: “Khi nỗi thống khổ của tôi ngày càng chồng chất, tôi chợt nhận ra rằng chỉ có hai cách để đối phó với hoàn cảnh của mình: hoặc là phản ứng lại với thái độ chua chát, hoặc là tìm cách biến nỗi khổ đau này thành một sức mạnh mới mẻ…. Vậy giống như lời Thánh Phaolô, giờ đây tôi cũng có thể nói, một cách khiêm nhường nhưng đầy tự hào rằng, ‘Tôi mang nơi thân mình tôi những vết sẹo của Chúa Giêsu’.” Người La Tinh và những trải nghiệm khi nhập cư của họ ở Mỹ tất nhiên có phần khác biệt. Nhưng cũng tương tự như vậy, rất ít người trong nhóm này tin rằng vị trí của họ trong xã hội luôn được đảm bảo chắc chắn. Bộ phận dân tộc thiểu số, về cơ bản, luôn bị gạt ra ngoài rìa. Họ không mặc định rằng hệ thống này được xây dựng cho lợi ích của họ. Họ nỗ lực hết mình và hy vọng đạt được thành công, nhưng họ không kỳ vọng đó là quy luật.

Nước Mỹ đang trải qua một cuộc chuyển biến quyền lực lớn. Tầng lớp người lao động da trắng không tự coi mình thuộc nhóm quý tộc, tinh hoa. Nhưng ở một góc độ nhất định, họ chắc chắn luôn bị so sánh với người da đen, La-tinh, người Mỹ bản địa và phần lớn dân nhập cư. Họ từng là trung tâm của nền kinh tế Mỹ, xã hội Mỹ, và thực chất cả bản sắc Mỹ. Nhưng giờ đây họ không còn ở vị trí ấy nữa. Donald Trump đã hứa hẹn rằng ông ta sẽ thay đổi cục diện này và sẽ giúp họ thắng thế một lần nữa. Nhưng ông ta không thể làm được điều ấy. Không ai có thể. Và trong sâu thẳm, họ cũng biết điều này.

Fareed Zakaria là một cây bút trong mục quan hệ quốc tế của tờ Washington Post. Ông cũng là người dẫn (host) cho chương trình Fareed Zakaria GPS của đài CNN và là một biên tập viên đóng góp cho tờ The Atlantic.


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây