vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


Tiền Trung Quốc tạo rủi ro cho các nước đang phát triển

Tuyến đường sắt tương lai có hơn 400 km cắt ngang qua các khu rừng nhiệt đới của Lào. Những con tàu sẽ sớm lăn bánh – qua những cây cầu, những đường hầm và những con đập được xây dựng riêng cho tuyến đường sắt, chạy từ biên giới phía Bắc của Trung Quốc cho đến thủ đô Viêng Chăn của Lào bên bờ sông Mekong này.
Tiền Trung Quốc tạo rủi ro cho các nước đang phát triển
Tiền Trung Quốc tạo rủi ro cho các nước đang phát triển


Giới thiệu: Trần Quang
Tuyến đường sắt tương lai có hơn 400 km cắt ngang qua các khu rừng nhiệt đới của Lào. Những con tàu sẽ sớm lăn bánh – qua những cây cầu, những đường hầm và những con đập được xây dựng riêng cho tuyến đường sắt, chạy từ biên giới phía Bắc của Trung Quốc cho đến thủ đô Viêng Chăn của Lào bên bờ sông Mekong này.
Sau 5 năm xây dựng, tuyến đường sắt dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2021. Trưởng bộ phận phía Trung Quốc chắc chắn rằng nó sẽ được hoàn thành đúng hạn. Ông nói: “Riêng văn phòng của chúng tôi tuyển 4.000 công nhân”. Ngân sách cũng không thiếu: Chính phủ Trung Quốc đã dành khoảng 6 tỷ USD cho dự án này và gần đây đã trở thành chủ nợ lớn nhất cũng như nhà cung cấp viện trợ phát triển quan trọng nhất của Lào.
Xét cho cùng, Trung Quốc không chỉ trực tiếp tài trợ 70% tuyến đường sắt mới, mà họ còn đang xây dựng các con đập, trường học, bệnh viện quân y và thậm chí còn giúp Lào phóng một vệ tinh liên lạc vào không gian. Tháng 4/2019, Trung Quốc đã cho Lào vay thêm 40 triệu USD để xây dựng đường bộ – một khoản tín dụng được cấp thông qua Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) có trụ sở tại Bắc Kinh, một thể chế tài chính mà Trung Quốc thành lập để thay thế cho các ngân hàng phát triển của phương Tây.
Nếu tính cả Hong Kong, thì Trung Quốc không chỉ là chủ nợ lớn nhất của Lào mà của cả thế giới. Các khoản Bắc Kinh cho nước ngoài vay chiếm lĩnh các thị trường toàn cầu ở mức gần như ngang với đồ chơi, điện thoại thông minh và xe máy điện. Từ Kenya tới Montenegro, từ Ecuador đến Djibouti, đường sá, các con đập và nhà máy điện đang được xây dựng với những khoản vay trị giá hàng tỷ USD từ Bắc Kinh. Và tất cả các quốc gia này sẽ phải trả nợ cùng với lãi suất trong nhiều năm tới.
Cơn lũ vốn từ Trung Quốc giúp ngăn nền kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng đình trệ sau vụ phá sản của Lehman Brothers và cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra sau đó. Nhưng điều này không phải là không gây tranh cãi.
Đối với nhiều nước, hàng tỷ USD từ Trung Quốc là một đóng góp đáng hoan nghênh nhằm giúp nhiều khu vực kém phát triển ở châu Á và châu Phi mở rộng cơ sở hạ tầng. Đối với các nước khác, những khoản vay từ Bắc Kinh đã khiến một nửa thế giới phải phụ thuộc vào Bắc Kinh về kinh tế và chính trị. Một số người đã mô tả tình huống này là “sự lệ thuộc vì nợ”, trong khi đó một nhóm thượng nghị sĩ Mỹ đã viết một lá thư gửi Ngoại trưởng Mike Pompeo vào mùa Hè năm 2018 để cảnh báo về việc Trung Quốc đang “nỗ lực biến vốn thành vũ khí”.
Thiếu sự minh bạch
Hơn nữa, gần như không có mấy thông tin về các khoản vay này. Tài sản của Trung Quốc ở nước ngoài hiện trị giá 6.000 tỷ USD, nhưng ngoài chính phủ ở Bắc Kinh, không ai biết gì nhiều về việc số tiền đó sẽ được đầu tư vào đâu và đi kèm những điều kiện và rủi ro gì. Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Christine Lagarde cho biết vì Trung Quốc không cung cấp toàn bộ sổ sách kế toán cho các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới và IMF, nên các khoản vay này thiếu sự minh bạch cần thiết.
Tuy nhiên giờ đây, với việc một nghiên cứu do nhóm học giả Đức và Mỹ dưới sự dẫn dắt của Giáo sư Đại học Harvard Carmen Reinhart mới được công bố, Largarde sẽ có một bức tranh rõ ràng hơn. Trong nhiều tháng qua, các nhà kinh tế học đã đào xới các nguồn tư liệu xác thực cũng như chưa xác thực, tổng hợp những phân tích toàn diện nhất về các khoản Trung Quốc cho nước ngoài vay. Và hình ảnh thu được không thể làm giảm bớt những lo ngại về sức mạnh tài chính của Bắc Kinh.
Ngược lại, dữ liệu này cho thấy nhiều quốc gia ở các khu vực nghèo hơn trên thế giới đã tiếp nhận các khoản tín dụng từ Trung Quốc nhiều hơn hẳn so với trước đây. Và các khoản cho vay thường đi kèm với những điều kiện nghiêm ngặt hoàn toàn hướng đến các lợi ích chiến lược của Bắc Kinh và làm tăng nguy cơ đẩy nhiều quốc gia đang phát triển vào một cuộc khủng hoảng tài chính. Christoph Trebesch, đồng tác giả của nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu kinh tế thế giới tại Kiel, cho biết: “Phương Tây vẫn chưa hiểu sự trỗi dậy của Trung Quốc đã thay đổi hệ thống tài chính quốc tế sâu sắc đến mức nào”.
Ngồi trong một thư viện ở Hamburg, Trebesch lướt qua hàng trăm dòng dữ liệu trên máy tính xách tay của ông: thời hạn cho vay, lãi suất, mục đích và tài sản thế chấp của gần 5.000 khoản cho vay và thanh toán viện trợ của Trung Quốc đối với 152 quốc gia. Thông tin này đến từ gần chục cơ sở dữ liệu được biên soạn với sự giúp đỡ của các tổ chức viện trợ, các ngân hàng và Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA).
Trebesch mô tả quy trình biên soạn thông tin này là “một dạng khảo cổ kinh tế”. Quá trình này đòi hỏi ông và người đồng nghiệp Sebastian Horn phải phân tích dữ liệu và sau đó so sánh với các nguồn chính thức để đưa ra một bức tranh toàn cảnh về các tài sản của Trung Quốc ở nước ngoài – bức tranh mà Bắc Kinh chắc chắn sẽ muốn che giấu.
Vòng tròn tài chính khép kín
Theo nghiên cứu này, Trung Quốc xuất khẩu nhiều vốn sang các nước mới nổi và đang phát triển hơn tất cả các quốc gia công nghiệp hóa khác cộng lại. Hơn nữa, nhiều điều kiện đi kèm với khoản cho vay đang đè nặng lên vai các nước tiếp nhận.
Trong khi các chính phủ phương Tây và các tổ chức đa phương thường đưa ra lãi suất thấp và thời hạn thanh toán dài đối với các khoản cho vay của họ, thì Trung Quốc có xu hướng áp đặt thời hạn ngắn và lãi suất cao hơn. Để đảm bảo các khoản cho vay sẽ được thanh toán, các hợp đồng cho vay quy định Bắc Kinh có một số quyền, chẳng hạn như quyền tiếp cận nguồn thực phẩm, nguyên liệu thô hoặc lợi nhuận của các công ty thuộc sở hữu nhà nước ở các nước tiếp nhận. Thông thường, Chính phủ Trung Quốc chỉ đạo rót tiền thẳng cho các công ty Trung Quốc đã ký hợp đồng xây dựng sân bay, cảng biển hay các con đập, cách tiếp cận tạo ra một vòng tròn tài chính mà không có sự dính líu của bất kỳ tài khoản nước ngoài nào.
Ngoài ra, hơn 75% các khoản cho vay dưới dạng viện trợ trực tiếp được cung cấp trong những năm gần đây đều đến từ hai thể chế tài chính do nhà nước điều hành: Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc và Ngân hàng phát triển Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là chính phủ được báo cáo thường xuyên về mọi giai đoạn của các dự án viện trợ và khi khủng hoảng xảy ra với các nước cho vay, Trung Quốc vẫn có lợi thế để giành lấy tài sản thế chấp trước các chủ nợ khác. Nghiên cứu lưu ý rằng Trung Quốc đã xây dựng một hình thức viện trợ phát triển mới, trong đó các khoản cho vay cấp nhà nước được cung cấp tùy theo các điều kiện thương mại.
Điều đó có thể dẫn đến các cuộc xung đột tồi tệ khi các dự án không được tiến hành theo kế hoạch. Chẳng hạn như tại Sri Lanka, Trung Quốc có quyền kiểm soát một cảng biển sau khi chính phủ nước này gặp khó khăn trong việc trả nợ. Tại Ecuador, Bắc Kinh nắm giữ 80% doanh thu từ dầu mỏ của nước này để bù đắp cho những phí tổn có liên quan đến một dự án xây đập khổng lồ. Tại Zambia, nước nợ Trung Quốc 6 tỷ USD theo ước tính, những người chỉ trích lo ngại rằng Bắc Kinh sẽ tiếp quản công ty cung cấp năng lượng nhà nước Zesco.
Sự sợ hãi cũng đang gia tăng ở Nam Phi, nơi Tổng thống Cyril Ramaphosa được cho là đã đàm phán về các khoản cho vay và trợ cấp trị giá 370 tỷ rand (tương đương khoảng 24 tỷ euro) trong một chuyến thăm cấp nhà nước tới Bắc Kinh mùa Thu năm 2018. Đảng đối lập Liên minh dân chủ lo ngại rằng Nam Phi có thể sa vào bẫy nợ và Bắc Kinh có thể nắm quyền kiểm soát công ty điện thuộc sở hữu nhà nước Eskom đang chật vật duy trì sự tồn tại. Mùa Thu năm 2018, Ramaphosa khẳng định rằng Chính phủ Nam Phi “không có thói quen bàn giao tài sản của đất nước chúng tôi cho bất kỳ quốc gia hay thực thể nào khác”. Câu nói này rõ ràng ám chỉ Trung Quốc. Chắc chắn các nước phương Tây không hề khó chịu khi Trung Quốc, trong số nhiều quốc gia trên thế giới, đảm nhận vai trò tốt thí từng thuộc về IMF hay Mỹ trong một thời gian dài. Nhưng dù sao họ vẫn không yên tâm trước nỗ lực của Bắc Kinh nhằm che giấu quy mô thực sự của các khoản cho vay của nước này đối với các nước đang phát triển.
Nguy cơ vỡ nợ
Nghiên cứu giữa Đức và Mỹ đã vạch ra quy mô của nỗ lực đó. Nghiên cứu này lập luận rằng nhiều khoản tiền từ Bắc Kinh bị che giấu vì chúng được đổ thẳng vào các công ty thuộc sở hữu nhà nước đang hoạt động tại các nước tiếp nhận. Tuy nhiên các bảng cân đối kế toán của các công ty này thường không có trong thống kê tài chính chính thức. Kết quả là một lượng lớn các khoản cho vay phát triển của Trung Quốc đã qua mặt các chính phủ phương Tây và các tổ chức quốc tế. Nghiên cứu này cho thấy số nợ của nước ngoài mà Trung Quốc nắm giữ cao hơn khoảng 50% so với số liệu thống kê chính thức.
Sự khác biệt đặc biệt lớn ở những nước vốn đã nợ nần chồng chất. Chẳng hạn như ở Bờ Biển Ngà, số nợ cao hơn 4 tỷ USD so với mức mà người ta vẫn nghĩ. Sự chênh lệch ở Angola là 14 tỷ USD và Venezuela là 33 tỷ USD. Theo nghiên cứu này, vì Chính quyền Bắc Kinh có xu hướng tính lãi suất cao, nên nhiều nước mới nổi và đang phát triển phải thực hiện “nghĩa vụ trả nợ gia tăng thường niên”. Điều đó có nghĩa là các khoản thanh toán lãi suất của họ tiếp tục tăng, làm gia tăng nguy cơ vỡ nợ.
Một con tàu tại thành phố biển Mombasa của Kenya hoạt động trên đường ray do Trung Quốc xây dựng.
Các tác giả của nghiên cứu này lưu ý rằng tình hình hiện nay gợi nhớ đến thời điểm cuối những năm 1970, khi các ngân hàng lớn từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cung cấp các khoản cho vay trị giá hàng tỷ USD cho các nước Mỹ Latinh và châu Phi vốn giàu hàng hóa – những món nợ đã qua mắt được các cơ quan giám sát quốc tế. Khi giá của nhiều nguyên liệu thô sụt giảm, các nước như Mexico không thể trả nợ được nữa, và phần lớn các nước đang phát triển đều rơi vào một cuộc khủng hoảng nợ khiến họ bị chững lại trong nhiều năm.
Hiện nay, tình hình gần như không có gì khác biệt. Một lần nữa, nhiều nước đang phát triển đã chấp nhận các khoản nợ khổng lồ. Và nếu tính cả dòng tiền không rõ ràng từ Trung Quốc, như nghiên cứu đã chỉ ra, thì số nợ mà nhiều nước phải gánh chịu một lần nữa sẽ ở mức cao như hồi những năm 1980. Các tác giả bài viết cho rằng tình huống này “giống một cách đáng chú ý” vi nhng gì đã xy ra.
Cũng có những dấu hiệu ban đầu cho thấy một cuộc khủng hoảng đang đến rất gần. Pakistan gần đây đã buộc phải xin IMF cấp một khoản cho vay khẩn cấp vì họ không thể trả số nợ khổng lồ cho Trung Quốc. Tại Sierra Leone, chính phủ đã cho ngừng xây dựng một sân bay mà Trung Quốc có ý tài trợ. Trong khi đó, Tổng giám đốc IMF Lagarde gần như trong mọi bài phát biểu đều đề cập đến những nguy cơ đe dọa sự ổn định tài chính toàn cầu.
Châu Phi cần gì?
Tuy nhiên, trước mắt chưa thấy dấu hiệu dòng tín dụng của Trung Quốc sẽ ngừng lại. Các lợi thế kinh tế, cũng như các lợi ích chính trị, đặc biệt là ở châu Phi của Trung Quốc đơn giản là quá lớn.
Trong khi phương Tây phần lớn chỉ coi lục địa này là nguồn gốc liên tục gây ra thảm họa, thì Bắc Kinh lại coi đây là nơi có tiềm năng chưa được khai thác. Khoảng 1,5 triệu người Trung Quốc gồm các doanh nhân, chuyên gia công nghệ thông tin, kỹ thuật viên và thương nhân được cho là đang sinh sống và làm việc ở châu Phi.
Họ đã mở rộng cơ sở hạ tầng ở châu Phi với tốc độ đầy ấn tượng, xây các con đập, sân bay, đường ray và các khu công nghiệp trên khắp châu lục này. Đổi lại, Trung Quốc có quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các thị trường châu Phi.
Theo lời Tổng thống Rwandan Paul Kagame, Bắc Kinh đang mang đến chính xác những gì châu Phi cần. Ông nằm trong nhóm ngày càng nhiều những nhà lãnh đạo ở châu Phi đang tìm cách bắt chước mô hình chuyên chế được Trung Quốc phát triển thành công, thường có sự ủng hộ từ phía người dân. Theo một cuộc khảo sát được các công ty thăm dò ý kiến trên trang web Afrobarometer thực hiện tại 36 nước châu Phi, 63% số người được hỏi có cái nhìn tích cực về sự can dự của Trung Quốc.
Các nhà cầm quyền châu Phi muốn hợp tác với Trung Quốc một phần là vì nước này không liên quan đến các quy định về đạo đức giống như những đòi hỏi, ít nhất là trên giấy tờ, của các chính phủ phương Tây. Và họ không quá đắn đo trong việc hối lộ các chính trị gia.
Tuy nhiên, ngày càng có nhiều cảnh báo về số nợ đang trở nên quá cao ở châu Phi. Không chỉ vì nhiều dự án đã tỏ ra không khả thi về mặt kinh tế, mà còn vì Trung Quốc đã và đang làm một việc mang tính hệ thống là báo cáo không đầy đủ về ảnh hưởng của họ.
Rõ ràng hơn nữa
Như nghiên cứu mới đã chỉ ra, trong khi số liệu thống kê chính thức của Chính phủ Trung Quốc thường chỉ liệt kê các khoản cho vay nhỏ, con số thực tế cao hơn nhiều. Chẳng hạn, đất nước nhỏ bé Djibouti đang nợ Trung Quốc một khoản tương đương với 70% sản lượng kinh tế hàng năm của họ. Con số này ở Congo là 30% và Kenya là 15%, lớn hơn nhiều so với khoản nợ các nước phương Tây.
Nợ công của các nước với Trung Quốc năm 2017, tính theo % GDP.
Tình hình này khó có thể thay đổi trong tương lai gần. Trebesch nói: “Nhiều dự án của Trung Quốc đã có lợi cho các nước tiếp nhận”. Xét cho cùng, nhiều nước châu Phi đang rất cần cơ sở hạ tầng hiện đại.
Hơn nữa, một số nghiên cứu gần đây của Mỹ đã vẽ ra một bức tranh ít gây hoang mang hơn về các khoản cho vay phát triển của Trung Quốc. Nhà kinh tế học Deborah Brautigam thuộc Đại học Johns Hopkins ở Baltimore nhận thấy trong số 17 nước châu Phi mắc kẹt trong cuộc khủng hoảng nợ, chỉ có 3 nước tiếp nhận các khoản cho vay từ Bắc Kinh. Trong khi đó, các nhà phân tích đến từ Tập đaoàn Rhodium lập luận rằng Trung Quốc không độc đoán như nhiều người vẫn nghĩ. Khi xem xét 40 dự án của Bắc Kinh, tập đoàn này nhận thấy Chính phủ Trung Quốc sẵn sàng đưa ra nhượng bộ về thời hạn trả nợ nếu việc đó là cần thiết.
Tuy vậy, tần suất của những nhượng bộ này dường như chỉ ra rằng các điều kiện ban đầu do Trung Quốc đặt ra là quá nghiêm ngặt. Và tình hình này không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về tính minh bạch liên quan đến quy mô các khoản cho vay của Bắc Kinh và các điều kiện kèm theo.
Trên thực tế, đó là sự cải thiện quan trọng nhất mà Trabesch muốn thấy – cụ thể là Trung Quốc cuối cùng sẽ phải làm rõ hơn các hoạt động tài chính của họ tại các nước đang phát triển. Thứ nhất vì hậu quả kinh tế và chính trị của các khoản cho vay này sẽ trở nên rõ ràng hơn. Thứ hai vì điều đó có thể giúp ngăn chặn sự bùng nổ của một cuộc khủng hoảng nợ mới tại các nước đang phát triển.
Xét cho cùng, Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp nếu điều đó xảy ra.
Theo Spiegel | Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông
Người Kurd là ai?


Nguồn: Matthew Barbari, “Who Are The Kurds?, Foreign Policy Association, 25/02/2016.
Biên dịch: Vũ Hồng Trang
Gần đây, phương Tây đặt phần lớn sự chú ý của mình vào cuộc xung đột Syria và sự nổi lên của Nhà nước Hồi giáo (ISIS), gạt sang một bên những nguyện vọng hình thành nhà nước của người Kurd. Tuy nhiên, các quan chức Hoa Kỳ từ lâu đã coi người Kurd là một trong những đồng minh mạnh nhất của họ, đặc biệt là trong cuộc chiến chống lại ISIS.
Người Kurd là một nhóm dân tộc sống chủ yếu trên bốn quốc gia: Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Syria và Iran. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, người Kurd được đại diện bởi cả Đảng Công nhân người Kurd (PKK) và Đảng Dân chủ Nhân dân (HDP). Tuy đều nỗ lực chấm dứt bạo lực giữa người Kurd Thổ Nhĩ Kỳ và chính phủ của Tổng thống Recep Tayyip Erdogan, cả hai sử dụng các chiến lược khác nhau để đạt được mục tiêu đó.
Đảng PKK là một nhóm quân sự, gây ra nhiều cuộc tấn công chống lại lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ và bị cả Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ liệt kê là một nhóm khủng bố.  Trái lại, đảng HDP tìm cách giành quyền tự trị cho người Kurd thông qua việc tham gia tiến trình chính trị và nỗ lực không ngừng để không bị cho là dính líu tới bạo lực gây ra bởi đảng PKK.
Khi các ứng cử viên chính trị Hoa Kỳ nói về việc trang bị vũ trang cho người Kurd trong cuộc chiến chống ISIS, họ thường không phân biệt được giữa người Kurd ở Thổ Nhĩ Kỳ, ở Syria và ở Iraq. Khi Hoa Kỳ đề cập đến các đồng minh người Kurd, nước này có ý nhắc tới người Kurd ở Đông Bắc Iraq.
Ngay trong chính người Kurd Iraq, dân số ít nhiều chia thành hai phe: Đảng Dân chủ Kurdistan (KDP) và Liên minh yêu nước Kurdistan (PUK). Gần đây hơn, Đảng Gorran, nghĩa là ” thay đổi”, đã mang đến một sự lựa chọn mới bên cạnh hai đảng truyền thống.
Mặc dù có sự chia rẽ dẫn đến cuộc nội chiến (1994 – 1997), hai nhóm hiện tại đang đoàn kết cùng nhau trong cuộc chiến chống ISIS và vì mục tiêu chung là lập nên nhà nước của người Kurd. Tuy nhiên, đó không phải là nhà nước của người Kurd xuyên quốc gia mà PKK kỳ vọng, mà là một nhà nước bên trong biên giới Iraq.
Ở Syria, các Đơn vị Tự vệ Nhân dân (YPG) – cánh quân sự của Đảng Liên minh Dân chủ người Kurd (PYD) – đã có một loạt chiến thắng quân sự chống lại ISIS trong những tháng qua. Thổ Nhĩ Kỳ xem PYD như là tổ chức mẹ của PKK ở Syria và đang tích cực chống lại sự thúc đẩy xây dựng một nhà nước của người Kurd ở Syria vì lo ngại điều này sẽ kích động người Kurd thiểu số ở chính Thổ Nhĩ Kỳ. Thật vậy, Hoa Kỳ phải chật vật cân bằng sự hỗ trợ cho PYD trong cuộc chiến chống ISIS với việc không chọc giận Ankara.
Sự do dự của Mỹ đã tạo cơ hội Nga. Kể từ khi Thổ Nhĩ Kỳ bắn hạ một máy bay chiến đấu của Nga tại biên giới Syria – Thổ Nhĩ Kỳ, Moskva đã có xu hướng hỗ trợ người Kurd ở Syria và đảng PYD nhằm tạo ra một khu vực bán tự trị ở phía bắc gọi là “Rojava”. Hơn nữa, Nga không xem PYD hay PKK là tổ chức khủng bố, và do đó cũng không e ngại việc hỗ trợ cho họ.
Sự đa dạng của các phong trào (hướng tới thành lập) quốc gia của người Kurd trên khắp Trung Đông cho thấy một khía cạnh phức tạp khác trong cuộc chiến chống ISIS. Một trong những điều không thể phủ nhận là cuộc đấu tranh của người Kurd không thể tiếp tục bị cộng đồng quốc tế phớt lờ.
22/05/1455: Chiến tranh Hoa Hồng bắt đầu


Nguồn: The War of the RosesHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1455, trong trận chiến mở màn Chiến tranh Hoa Hồng của nước Anh, lực lượng của Nhà York đã đánh bại phe Lancaster của vua Henry VI tại St. Albans, cách London 20 dặm về phía tây bắc. Nhiều quý tộc của Nhà Lancaster đã thiệt mạng, bao gồm cả Edmund Beaufort, Công tước xứ Somerset, và nhà vua đã buộc phải tuân theo mệnh lệnh của người anh họ là Richard của Nhà York. Cuộc chiến vương quyền dai dẳng giữa Nhà York, với biểu tượng hoa hồng trắng, và Nhà Lancaster, với biểu tượng hoa hồng đỏ, đã kéo dài trong 30 năm.
Cả hai dòng họ, vốn có quan hệ gần gũi, đã tuyên bố đòi ngôi báu thông qua các hậu duệ của các con trai của Edward III, vua nước Anh trong giai đoạn 1327 – 1377. Vị vua đầu tiên của Nhà Lancaster là Henry IV, lên ngôi năm 1399. Nổi loạn và vô pháp đã xuất hiện trong suốt thời trị vì của ông. Sau đó, con trai ông, Henry V, đã thành công hơn và giành chiến thắng quyết định trong Chiến tranh Trăm năm chống Pháp.
Nhưng cháu nội Henry VI thì lại không có phẩm chất của một nhà vua và đã để mất phần lớn đất Pháp mà cha mình đã chinh phục được. Nội bộ nước Anh chìm trong hỗn loạn và các lãnh chúa với quân đội riêng đã ra thách thức quyền lực của Henry VI. Đôi khi, vị hoàng hậu đầy tham vọng, Margaret xứ Anjou, mới là người thực sự kiểm soát ngai vàng.
Năm 1453, Henry VI mắc phải căn bệnh điên loạn. Năm 1454, Nghị viện bổ nhiệm Richard, Công tước xứ York, làm người bảo vệ vương quốc. Hai người ông của Henry và Richard lần lượt là con trai thứ tư và thứ ba của Edward III. Khi Henry hồi phục vào cuối năm 1454, ông đã phế truất Richard và khôi phục lại quyền hành cho Margaret, người luôn coi Richard là mối đe dọa cho quyền kế vị của con trai bà – Hoàng tử Edward.
Richard đã xây dựng một đội quân gồm 3.000 người, và vào tháng 05, quân đội Nhà York đã diễu hành tới London. Ngày 22/05/1455, phe York đối đầu lực lượng của Henry VI tại St. Albans trong khi đang hành quân trên con đường phía bắc tiến đến thủ đô. Cuộc đụng độ đẫm máu kéo dài chưa đầy một giờ, và Nhà York đã giành chiến thắng. Công tước xứ Somerset, đồng minh lớn của Margaret, đã bị giết chết, còn Henry thì bị phe York bắt giữ.
Sau trận chiến, Richard lại trở thành người bảo vệ vương quốc, nhưng sang năm 1456, Margaret đã giành lại quyền lực. Một nền hòa bình không mấy thoải mái đã bị phá vỡ vào năm 1459. Năm 1460, Nhà Lancaster bị đánh bại, Richard đã được quyền lên ngôi khi Henry qua đời. Nhà Lancaster sau đó đã tập hợp các lực lượng ở miền bắc nước Anh, và tháng 12/1460, họ đã tấn công bất ngờ và giết chết Richard ở bên ngoài lâu đài của ông, gần Wakefield.
Con trai của Richard, Edward, đã đến London trước Margaret và được tấn phong là vua Edward IV. Tháng 03/1461, Edward đã giành chiến thắng quyết định chống lại phe Lancaster trong Trận Towton, trận chiến đẫm máu nhất. Henry, Margaret, và con trai phải trốn sang Scotland, và giai đoạn đầu của cuộc chiến đã kết thúc.
Tranh giành quyền lực trong nội bộ Nhà York sau đó đã dẫn tới việc lật đổ Edward vào năm 1470, và Henry VI quay lại ngôi vua. Một năm sau, Edward quay trở lại sau thời gian bị lưu đày ở Hà Lan, đánh bại lực lượng của Margaret, giết chết con trai của bà, và giam Henry trong Tháp London, nơi ông bị sát hại. Edward IV đã cầm quyền mà không bị gián đoạn cho đến khi ông qua đời vào năm 1483. Con trai cả của ông được tấn phong làm vua Edward V, nhưng anh trai của Edward IV, Richard III, đã giành lấy vương miện và giam giữ Edward V cùng em trai ở Tháp London, nơi mà hai hoàng tử đã biến mất, có lẽ họ đã bị sát hại. Năm 1485, trong Trận Bosworth Field, Richard III bị đánh bại và giết chết bởi phe Lancaster do Henry Tudor dẫn đầu.
Henry Tudor được tấn phong làm vua Henry VII, vị vua đầu tiên của Nhà Tudor. Henry là cháu nội của Catherine xứ Valois, người vợ góa của Henry V, và Owen Tudor. Năm 1486, ông kết hôn với con gái của Edward IV, Elizabeth xứ York, nhờ đó thống nhất hai nhà York và Lancaster. Sự kiện này được coi là đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Hoa Hồng; dù thực tế, vào năm 1487, vẫn có một số người nhà York ủng hộ một cuộc nổi dậy không thành công do Lambert Simnel dẫn đầu nhằm chống lại Henry. Chiến tranh Hoa Hồng không để lại nhiều dấu ấn đối với thường dân Anh Quốc, nhưng nó đã làm suy giảm rất nhiều hàng ngũ quý tộc nước này.
Tương lai Đài Loan sau bữa tối giữa Tập và Mã


Nguồn: Chris Patten, “A Chinese Dinner for Two”, Project Syndicate, 10/11/2015.
Biên dịch: Trần Văn Thắng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Một lượng nước lớn đã chảy qua eo biển Đài Loan trong 70 năm qua kể từ khi nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc là Mao Trạch Đông gặp gỡ Tưởng Giới Thạch – thủ lĩnh Quốc Dân Đảng đối lập. Do đó cuộc gặp gần đây ở Singapore giữa những người kế thừa của họ: Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và người đồng nhiệm Đài Loan Mã Anh Cửu có thể đáng được miêu tả là một sự kiện mang tính lịch sử.
Cuộc đàm phán ngoại giao diễn ra trước cuộc gặp này rất phức tạp, thậm chí bao gồm cả việc ai nên trả tiền cho bữa tối (họ đã chia tiền hóa đơn). Tuy nhiên, sau cuộc gặp ngắn đằng sau những cánh cửa khép kín đã không có một tuyên bố chung nào được đưa ra và chỉ có một bài tường thuật được rà soát kỹ lưỡng về cuộc gặp được phát trên các phương tiện truyền thông nhà nước của Trung Quốc. Vậy tại sao cuộc gặp này diễn ra và nó báo trước điều gì?
Kể từ khi những người Cộng sản của ông Mao giành chiến thắng trong cuộc nội chiến (cuộc chiến mà cuộc gặp cuối cùng giữa hai đảng năm 1945 nỗ lực ngăn chặn) và lực lượng Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch rút về Đài Loan, quan hệ giữa hai bên vẫn âm ỉ nóng mà chưa bao giờ thực sự bắt lửa. Mối quan hệ tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và giới lãnh đạo Quốc dân Đảng không hề mất đi, và Hoa Kỳ đã trao cho Đài Loan những đảm bảo về mặt quân sự nhằm ngăn cản Trung Quốc cố gắng thống nhất hòn đảo này với đại lục bằng vũ lực.
Các cuộc phiêu lưu của ông Mao trên bán đảo Triều Tiên nhằm ủng hộ Bắc Triều Tiên chống Nam Triều Tiên và các đồng minh phương Tây của nó đã giúp củng cố trục quan hệ Washington – Đài Bắc; và nhờ một số động thái ngoại giao khéo léo, trục quan hệ này đã tiếp tục tồn tại bất chấp chính sách cải thiện quan hệ với Trung Quốc vào đầu những năm 1970 của Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Hoa Kỳ đã công nhận những người cộng sản ở Bắc Kinh là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc, đồng thời giúp duy trì Đài Loan trong một tình trạng lấp lửng về chủ quyền và địa vị một quốc gia độc lập. Hòn đảo này vận hành công việc riêng của mình, trở thành một nền dân chủ năng động trong những năm 1980, nhưng không bao giờ nhất quyết đòi được quốc tế công nhận là một nhà nước có chủ quyền đầy đủ.
Với những nhà cầm quyền của Trung Quốc, Đài Loan là một “tỉnh nổi loạn” và Trung Quốc kiên quyết không quan hệ ngoại giao với những thành viên của cộng đồng quốc tế cố gắng coi Đài Loan là một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, trong quá trình đó cũng có một sự công nhận trên thực tiễn, đặc biệt là về mặt kinh tế.
Người ta nhớ về năm 1989 vì các vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn. Nhưng vào tháng Năm và tháng Sáu, các bộ trưởng trong đó có tôi đã bay tới Bắc Kinh để tham dự một sự kiện mà dường như đối với tất cả chúng tôi là một cơ hội tích cực và thực sự mang tính lịch sử. Trung Quốc đã lần đầu tiên cho phép Đài Loan tham dự cuộc họp thường niên của Ban Quản trị Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), miễn là nó được gọi bằng cái tên “Đài Bắc, Trung Quốc”.
Vài năm sau, khi tôi là một ủy viên của Liên minh châu Âu (EU), sau khi đàm phán việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Đài Loan, chúng tôi muốn thiết lập một văn phòng EU tại Đài Bắc để theo dõi sự tuân thủ các quy tắc WTO của hòn đảo này. Trước khi làm như vậy, tôi đã nhấn mạnh với chính phủ Trung Quốc rằng những gì chúng tôi đang làm chỉ là mở một cơ quan thương mại chứ không phải là một đại sứ quán.
Đối với cả Trung Quốc và Đài Loan, tiền có sức hút, và nền kinh tế của hai bờ hiện nay được liên kết chặt chẽ, với nhiều người Đài Loan sống và làm việc tại Trung Quốc (đặc biệt ở khu vực Thượng Hải) và các khoản đầu tư rất lớn của Đài Loan vào ngành chế tạo của Trung Quốc. Foxconn của Đài Loan, nhà sản xuất thiết bị điện tử lớn nhất thế giới (bao gồm các thiết bị Blackberry, iPhone, và Kindle), có 12 nhà máy ở Trung Quốc, trong đó một nhà máy ở Thâm Quyến sử dụng hàng trăm ngàn lao động.
Tuy nhiên, mặc dù nền chính trị Đài Loan bị chi phối một cách tự nhiên bởi mối quan hệ của hòn đảo này với đại lục, thực tế quan hệ thương mại sâu sắc giữa Trung Quốc và Đài Loan đã không có sự tương ứng về mặt ngoại giao. Quốc Dân Đảng muốn cải thiện quan hệ mà không từ bỏ sự độc lập của Đài Loan. Đối thủ của nó, Đảng Dân Tiến, lại muốn đạt được một tư thế tự chủ hơn, mặc dù khả năng đảng này có thực sự muốn bất cứ điều gì thực chất tới mức làm Trung Quốc tức giận vẫn là không chắc chắn.
Một cuộc khảo sát ba năm trước đây cho thấy rằng 80% trong tổng số 25 triệu người dân Đài Loan sẽ ủng hộ một tuyên bố độc lập chính thức, miễn là điều này không dẫn đến một cuộc xâm lược của Trung Quốc. Đó là một tỉ lệ khá lớn. Trung Quốc thường xuyên cảnh báo Đài Loan không được tiến hành bất kỳ hành động nào liều lĩnh như vậy, và Hoa Kỳ cũng gây sức ép lên các nhà lãnh đạo của hòn đảo bất cứ khi nào họ có vẻ trở nên quá xem thường đại lục.
Dường như có hai lý do cho cuộc gặp giữa ông Tập và ông Mã. Đầu tiên, họ lo lắng rằng Quốc Dân Đảng, vốn đã thất bại thảm hại trong các cuộc bầu cử địa phương năm ngoái, sẽ tiếp tục thất bại trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng Một (năm 2016). Cả hai hy vọng rằng việc thể hiện Trung Quốc và Đài Loan có thể hòa thuận với nhau mà không gặp quá nhiều rắc rối sẽ mang lại lợi thế bầu cử cho Quốc dân Đảng.
Ngoài ra, tại thời điểm khi mà nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển chậm lại và những căng thẳng trong khu vực đang tăng lên do Trung Quốc đang khoa trương cơ bắp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông, ông Tập có vẻ háo hức muốn thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình của mình. Sau khi làm nhiều nước láng giềng chứ không chỉ người Mỹ bất an, chuyến thăm của ông đến Việt Nam và chuyến thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường tới Hàn Quốc là một phần tương tự với chính sách ngoại giao “ăn tối” với ông Mã.
Những dự định thực sự và về dài hạn của Trung Quốc không hoàn toàn rõ ràng, và có lẽ đó là một phần trong chiến lược của nước này: Những tín hiệu không rõ ràng đóng một vai trò quan trọng trong ngoại giao. Nhưng có hai điều rõ ràng.
Trước hết, sáng kiến của ông Tập thể hiện mức độ mà ông chi phối nền chính trị Trung Quốc. Một nhà lãnh đạo yếu hơn có thể đã không tiến hành một bước đi nhiều tham vọng như vậy, điều cho thấy một sự đột phá khỏi tư duy chính thống của Đảng Cộng sản trước đây.
Thứ hai, việc tái thống nhất hòa bình giữa đại lục và Đài Loan vẫn sẽ không xảy ra trừ phi diễn ra trên cơ sở “một nhà nước, hai chế độ” như Trung Quốc tiếp tục hứa hẹn. Tuy nhiên, người Đài Loan không thể an tâm trước những điều mà họ chứng kiến ngày nay ở Hồng Kông, nơi từng được hứa hẹn điều tương tự trước khi trở về với Trung Quốc đại lục năm 1997.
Hệ thống của Đài Loan là dân chủ, còn của Trung Quốc thì không như vậy. Điều mà trường hợp của Hồng Kông cho thấy là Trung Quốc sẽ phải ép Đài Loan từ bỏ dân chủ và pháp quyền – hoặc tự mình theo đuổi cả hai điều đó – trước khi nước này có thể chào đón “tỉnh nổi loạn” của mình trở về với đại gia đình.
Chris Patten, Thống đốc cuối cùng của Anh tại Hồng Kông và là cựu ủy viên của EU về đối ngoại, là Hiệu trưởng của Đại học Oxford.
Copyright: Project Syndicate 2015 – A Chinese Dinner for Two
04/08/1854: “Walden” của Henry David Thoreau được xuất bản


Nguồn: Henry David Thoreau’s “Walden” is publishedHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Tác phẩm kinh điển của Henry David Thoreau, Walden hay A Life in the Woods (Một mình sống trong rừng) ngày nay là cuốn sách phải đọc trong nhiều lớp học. Nhưng trong lần phát hành đầu tiên – vào ngày này năm 1854 – nó chỉ đạt được doanh số khiêm tốn, khoảng 300 bản mỗi năm.
Cuốn sách của nhà văn người Mỹ theo trường phái siêu việt/tiên nghiệm (transcendentalist) là câu chuyện kể ở ngôi thứ nhất, viết về thời gian thử nghiệm sống đơn giản của ông tại Walden Pond ở Concord, Massachusetts, bắt đầu từ năm 1845, kéo dài trong hai năm và hai tháng. Cuốn sách đi sâu khám phá quan điểm của Thoreau về tự nhiên, chính trị và triết học.
Thoreau chỉ là một sinh viên 27 tuổi tốt nghiệp trường Harvard khi ông chuyển đến Walden. Ông đã dựng một cabin 10 x 15 foot đơn giản dọc theo bờ ao rộng 62 mẫu, cách nhà hàng xóm gần nhất một dặm đường, trên mảnh đất thuộc sở hữu của bạn mình, nhà thơ Ralph Waldo Emerson.
“Tôi vào rừng vì muốn sống có chủ ý, để chỉ phải đối mặt với những sự thật thiết yếu của cuộc sống, và xem liệu mình có thể sống mà không cần học những gì đời sống ấy dạy, và để khi chết không phải nhận ra rằng tôi đã không sống,” ông viết.
“Thu nhập” duy nhất của Thoreau lúc ấy đến từ lao động tay chân. Thoreau làm ruộng, ăn và bán các loại cây trồng của mình, gồm đậu, khoai tây, ngô, đậu Hà Lan và củ cải, thường xuyên vào thị trấn (bao gồm cả việc đi thăm mẹ mình, người sống dọc đường) và dạo chơi cùng du khách.
Lượt in đầu tiên là 2.000 cuốn sách, giá 1 USD một cuốn, và phải mất 5 năm để bán hết. Tựa sách sau đó được rút ngắn thành Walden, theo yêu cầu của Thoreau. Đó là một trong hai cuốn sách dài mà ông xuất bản (mặc dù ông cũng viết cả những tác phẩm ngắn, như bài tiểu luận nổi tiếng “Civil Disobedience”). Cuốn sách đầu tiên của ông, A Week on the Concord and Merrimack Rivers, được phát hành năm 1849, cũng được viết trong thời gian ông ở Walden, là tác phẩm tưởng niệm người anh trai quá cố, John.
#51 – Bồi thường cho nạn nhân bị xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng: Trường hợp Campuchia


Nguồn: Hao Duy Phan, “Reparations to Victims of Gross Human Rights Violations: The Case of Cambodia”, East Asia Law Review, Vol 4,  pp. 277-298.>>PDF
Biên dịch: Nguyễn Thị Thanh Hà | Hiệu đính: Lê Thanh Tùng
Cộng đồng thế giới đã giới thiệu nhiều công cụ pháp lý khác nhau liên quan đến việc bồi thường cho nạn nhân bị xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng. Tuy nhiên, tại Campuchia, vấn đề bồi thường cho những vi phạm nghiêm trọng và có tính hệ thống liên quan đến nhân quyền của chế độ Khmer Đỏ vẫn chưa có lời giải đáp, dù Tòa án Đặc biệt của Campuchia nhằm Truy tố các Tội ác dưới thời Campuchia Dân chủ đã được thành lập. Trong trường hợp phức tạp như tại Campuchia, có rất nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề bồi thường vẫn chưa được giải đáp. Bài báo này sẽ xem xét vấn đề đó và đưa ra một vài đề xuất về một chương trình bồi thường khả thi và hiệu quả cho các nạn nhân của chế độ Khmer Đỏ.
I. Giới thiệu
Ngày 17 tháng 4 năm 1975, chỉ hai tuần trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Phmom Pênh đã rơi vào tay chính quyền Khmer Đỏ, bắt đầu thời kỳ lịch sử đen tối của “những cánh đồng chết”. Chính quyền Khmer Đỏ đã đưa ra một chiến dịch nhằm tạo nên một “hệ thống xã hội sạch”, thông qua đó chúng đã vi phạm quyền con người rộng khắp, đẩy ba triệu người phải di cư khỏi các thành phố về các vùng nông thôn làm nô lệ lao động khổ sai và tiêu diệt tất cả những ai bị cho là đe dọa đến mục đích của chúng.[1]

Hơn ba thập kỷ trôi qua, mục tiêu bồi thường thiệt hại một cách toàn diện vẫn nằm ngoài tầm với của những nạn nhân mà quyền của họ đã bị chính quyền Khmer Đỏ tước đoạt một cách nghiêm trọng và có hệ thống. Vấn đề này đã ít nhận được sự quan tâm từ chính phủ cũng như cộng đồng quốc tế, ngay cả khi Tòa án Đặc biệt của Campuchia nhằm Truy tố các Tội ác dưới thời Campuchia Dân chủ (Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia for the Prosecution of Crimes Committed during the Period of Democratic Kampuchea, viết tắt là ECCC) đã được thành lập.[2]
Chính phủ hiện tại có nghĩa vụ pháp lý phải bồi thường cho những nạn nhân của chính quyền cũ không? Ai có thể yêu cầu bồi thường? Hình thức bồi thường nào là thích hợp và khả thi với tình hình ở Campuchia? Đó chỉ là một số trong nhiều câu hỏi xung quanh vấn đề bồi thường vẫn chưa được giải đáp. Với mục đích xác định bổn phận của chính phủ Campuchia trong việc bồi thường thiệt hại và đưa ra một số gợi ý về một chương trình bồi thường hiệu quả và khả thi cho các nạn nhận của chính quyền Khmer Đỏ, bài báo này sẽ cố gắng để trả lời các câu hỏi đó.
Bài báo gồm có 5 phần. Phần II phân tích các trách nhiệm pháp lý của chỉnh phủ Campuchia và trách nhiệm của những cá nhân đã gây ra tội ác trong việc bồi thường cho các nạn nhân. Phần III phân tích những việc đã được làm cho đến nay để giải quyết các vấn đề này và cố gắng giải thích tình trạng trì trệ hiện nay. Tiếp theo, phần IV sẽ đưa ra một số cơ sở để xác định xem đối tượng nào nên được bồi thường thiệt hại. Phần V sẽ đánh giá hình thức bồi thường khả dĩ nhất cho các nạn nhân ở Campuchia. Phần cuối sẽ đưa ra một số gợi ý về cách thức thực hiện bồi thường. Việc biến quyền (được bồi thường) này trở thành thực tế vẫn là một thách thức lớn. Song, thách thức này nên được vượt qua và vấn đề bồi thường cho các nạn nhân Khmer Đỏ phải được giải quyết càng sớm càng tốt để đảm bảo công lý thực sự cho các nạn nhận bị xâm hại nhân quyền nghiêm trọng ở Campuchia.
II. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân của Khmer Đỏ
Bảng Chỉ dẫn và Nguyên tắc Cơ bản của Liên Hợp Quốc về Quyền được Bồi thường của các Nạn nhân bị Xâm phạm Nhân quyền Nghiêm trọng và Luật Nhân đạo quốc tế quy định việc bồi thường thiệt hại bao gồm việc đề bù khôi phục nguyên trạng, bồi thường thiệt hại, tái hòa nhập các nạn nhân, khắc phục về tinh thần, và đảm bảo không tái diễn sự xâm phạm nữa.[3] Thông thường, việc đền bù phục hồi nguyên trạng (restitution) là hình thức đền bù được mong muốn nhất.[4] Việc phục hồi “hướng tới việc khôi phục lại nguyên trạng ban đầu (status quo ante)[5] của nạn nhân”, ví dụ như bao gồm việc trả lại tài sản, khôi phục tự do, địa vị công dân và các quyền hợp pháp khác, trở về nơi cư trú và khôi phục công ăn việc làm.[6]Là hình thức khắc phục pháp lý phổ biến nhất, bồi thường thiệt hại (compensation) là việc trả tiền mặt cho nạn nhân như một cách thừa nhận những hành động sai trái đã xảy ra và xoa dịu các tổn thất mà nạn nhân đã phải chịu đựng.[7]Tái hòa nhập (rehabilitation) thường bao gồm việc chăm sóc về sức khỏe và tâm lý cũng như các dịch vụ pháp lý.[8] Việc khắc phục về tinh thần (satisfaction) bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có sự thừa nhận việc xâm phạm, công khai toàn bộ sự thật, chính thức xin lỗi và nhận các trách nhiệm, và tưởng niệm các nạn nhân.[9] Việc đảm bảo không tái xâm phạm bao gồm việc đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn sự xâm phạm tái diễn.[10]
Vấn đề bồi thường thiệt hại không phải là mới mẻ trong luật nhân quyền và nhân đạo quốc tế.[11] Sự ủng hộ ban đầu cho quyền này trong luật quốc tế “có thể được tìm thấy tại Điều 3 của Công ước Hague IV năm 1907 về các Luật lệ và Tập quán Chiến tranh,”[12] mà theo đó bên nào vi phạm Công ước này “sẽ phải bồi thường.”[13] Bản Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền, vốn có thể coi là thành tựu lớn nhất trong thế kỷ 20,[14] sau đó đã nhấn mạnh rằng “mỗi người đều có quyền nhận được biện pháp khắc phục hiệu quả thông qua các toàn án quốc gia có thẩm quyền đối với các hành động xâm hại các quyền cơ bản của mình được hiến pháp hoặc luật pháp thừa nhận.”[15] Rất nhiều các điều ước quốc tế khác cũng đã được ký kết trong những thập kỷ sau đó dựa trên Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền, giúp củng cố các quyền được bồi thường cho các nạn nhân bị xâm phạm quyền con người. Trong số các điều ước này có Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị;[16] Công ước chống Tra tấn và các Hình thức Đối xử hoặc Trừng phạt Tàn bạo, Vô nhân đạo hoặc Hạ nhục con người; [17] Công ước Giơ-ne-vơ thứ 3;[18] và Nghị định thư I của Công ước Giơ-ne-vơ.[19] Các công cụ pháp lý khu vực cũng chứa những điều khoản đòi hỏi khắc phục pháp lý cho vấn đề xâm phạm quyền con người. Điều 13 trong Công ước Châu Âu về Bảo vệ Quyền con người và các Quyền tự do Cơ bản cũng quy định quyền của các nạn nhân bị xâm hại nhân quyền được đòi hỏi một phương án giải quyết hiệu quả “trước một cơ quan chức trách của quốc gia dù sự xâm phạm là do các cá nhân hành động theo thẩm quyền chính thức.” [20] Công ước Châu Mỹ về Nhân Quyền công nhận rằng mỗi người đều có quyền được đòi bồi thường để chống lại các hành động vi phạm đến các quyền cơ bản của con người được công nhận bởi hiến pháp hay “các luật của nhà nước hay theo quy định của Công ước.”[21]
Xem xét vấn đề thấu đáo sẽ cho thấy rằng Chính phủ Campuchia có nghĩa vụ pháp lý trong việc thực hiện bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân phải chịu các tội ác dã man của chế độ Khmer Đỏ trong những năm 1970. Hiện nay, Campuchia là một bên tham gia trong các điều ước vì quyền con người chủ yếu, [22] hầu hết các điều ước này đều quy định trách nhiệm pháp lý đối với các nhà nước thành viên nhằm đảm bảo các phương án hiệu quả trong việc bồi thường cho các nạn nhân bị xâm hại nhân quyền dưới mọi hình thức. Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị cũng kêu gọi các nhà nước thành viên “phải đảm bảo rằng bất cứ người nào mà các quyền hay sự tự do của họ [như được thừa nhận bởi Công ước] bị xâm hại sẽ được khắc phục hiệu quả cho dù hành động xâm hại đó được thực hiện bởi các cá nhân đang hành động theo thẩm quyền chính thức…và đảm bảo rằng các cơ quan có thẩm quyền sẽ thực thi các biện pháp khắc phục đó sau khi được đưa ra.”[23] Ủy ban Nhân quyền[24] kết luận rằng “nếu không có bồi thường cho các cá nhân mà quyền theo Công ước của họ đã bị xâm hại thì nghĩa vụ phải đưa ra một biện pháp khắc phục hiệu quả vốn đóng vai trò cốt lõi đối với hiệu lực của Điều 2, khoản 3, sẽ không được hoàn thành.”[25] Những biện pháp khắc phục này cũng tính đến tình trạng dễ bị tổn thương đặc biệt của một số nhóm người nhất định, đặc biệt là trẻ em.[26] Việc không tuân thủ nghĩa vụ này có thể “bản thân nó gây nên một hình thức vi phạm khác đối với Công ước”[27] và “không thể biện minh được dựa vào những cân nhắc liên quan đến chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế.[28]
Công ước Quốc tế về Xóa bỏ mọi Hình thức Phân biệt Chủng tộc cũng yêu cầu các nhà nước thành viên đưa ra biện pháp khắc phục hiệu quả đối với các nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc.[29]Công ước chống Tra tấn và các Hình thức Đối xử hoặc Trừng phạt Tàn bạo, Vô nhân đạo hoặc Hạ nhục con người cũng quy định nghĩa vụ của các nhà nước thành viên phải đảm bảo bất kỳ nạn nhân nào của tra tấn phải “nhận được bồi thường và hưởng quyền có thể thực thi được đối với việc bồi thường một cách thỏa đáng và công bằng.”[30] Tương tự như vậy, Điều 39 trong Công ước về Quyền Trẻ em cũng yêu cầu tất cả các nhà nước thành viên phải “thực hiện mọi biện pháp thích hợp để đảm bảo sự phục hồi về thể chất cũng như tâm lý và sự tái hòa nhập xã hội của các nạn nhân trẻ em” bị xâm hại dưới bất cứ hình thức nào.[31]
Các nạn nhân của chế độ Khmer Đỏ bao gồm phụ nữ và trẻ em, những người bị tước quyền chính trị và dân sự, những người chịu tra ấn, và những người bị phân biệt giới tính và phân biệt chủng tộc. Có thể thấy rằng các nạn nhân này nằm trong phạm vi các điều ước về quyền con người mà Campuchia đã tham gia. Các tiền lệ từ trường hợp của các nước như Áo,[32] Đức,[33] và Nhật Bản[34] cho thấy Chính phủ Campuchia có nghĩa vụ xem xét một cách nghiêm túc khả năng bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân của Khmer Đỏ, cho dù tội ác này được gây ra bởi chính quyền cũ đã bị lật đổ bởi chính quyền hiện tại.
Dù lập luận trên đây đề cập đến nghĩa vụ pháp lý của Chính phủ Campuchia trong việc phải bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân của Khmer Đỏ thì chính các lãnh đạo Khmer Đỏ mới là người chịu trách nhiệm trực tiếp cho các tội ác mà họ đã gây ra. Trong bản báo cáo của Nhóm các Chuyên gia về Campuchia[35] được thành lập chiếu theo Nghị Quyết số 52/135 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, các thủ lĩnh Khmer Đỏ sở hữu một khối lượng tài sản lớn từ khi họ bị lật đổ.”[36] Bản báo cáo kiến nghị sử dụng khối tài sản của những lãnh đạo Khmer Đỏ đã bị kết án bởi tòa án làm nguồn kinh phí cho hoạt động đền bù nạn nhân, và rằng ECCC nên quy định khả năng bồi thường có thể có của các bị cáo cho các nạn nhân của họ.[37] Ở đây có cả các phương tiện pháp lý và năng lực thực tế cho phép các nạn nhân yêu cầu được bồi thường từ những kẻ xâm hại nghiêm trọng nhân quyền của họ trong những năm 1970.
III. Tình trạng không hành động
Đã ba thập kỷ đã trôi qua từ khi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ sụp đổ, nhưng những nạn nhân của chế độ này vẫn chưa nhận được bồi thường thỏa đáng.[38] Có nghĩa rằng những hành động sai trái vẫn chưa hoàn toàn được sửa chữa, và quyền lợi của các nạn nhân vẫn chưa hoàn toàn được công nhận. Các nạn nhân đã chờ được bồi thường từ rất nhiều năm nay. Các tổ chức phi chính phủ về quyền con người đã quan tâm đến vấn đề này nhưng hoạt động và áp lực của họ chưa đủ mạnh để tạo nên thay đổi thực sự. Quỹ Tín thác của Liên Hợp Quốc (dùng để chi cho việc thiết lập và hoạt động của các tòa án khác nhau) đã không thành công trong việc gây quỹ dùng cho việc bồi thường.[39] Khi Liên Hiệp Quốc và Campuchia đàm phán thỏa thuận thành lập ECCC, người ta đã hi vọng rằng bản thỏa thuận này sẽ bao gồm cả những điều khoản về việc bồi thường. Tuy nhiên, trong một bước đi được Tổ chức Ân xá Thế giới miêu tả như là “một bước thụt lùi lớn đối với Quy chế Rome (về Tòa án Hình sự Quốc tế)”,[40] Liên Hiệp Quốc và chính phủ Campuchia đã đưa ra một bản thỏa thuận không có những điều khoản nói trên.
Bản thỏa thuận này đã dẫn đến việc ban hành Luật Thành lập ECCC, trong đó không đề cập gì cụ thể đến việc bồi thường thiệt hại. Dù luật này giới hạn các hình thức trừng phạt chỉ có việc bỏ tù,[41] nó vẫn cho phép tịch thu các tài sản cá nhân, tiền, và tài sản thực có được một cách bất hợp pháp bởi người bị kết án.[42] Tuy nhiên, Luật này quy định rằng các tài sản bị tịch thu sẽ phải được trả lại cho chính phủ chứ không phải cho các nạn nhân của chế độ Khmer Đỏ.[43] Quy chế Nội bộ của ECCC là tài liệu duy nhất từ bản thỏa thuận này đề cập một cách cụ thể vấn đề bồi thường, nhưng nó lại quy định rằng việc bồi thường chỉ nên được thực hiện với một số nhóm nạn nhân cụ thể (nghĩa là các bên dân sự), và chỉ dưới hình thức đạo đức hoặc tượng trưng mà thôi.[44]
Vậy tại sao Chính phủ Campuchia lại mất nhiều thời gian như vậy mới nhận ra quyền lợi của công dân nước mình? Sao vấn đề bồi thường cho các nạn nhân của chế độ Khmer Đỏ lại nhận được ít sự quan tâm như vậy của cộng đồng thế giới? Có thể giải thích tình trạng này này như sau:
Thứ nhất, vấn đề bồi thường cho các nạn nhân bị xâm hại nhân quyền nhìn chung chỉ được chú ý hơn sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.[45] Với Campuchia, người ta chủ yếu tập trung vào việc điều tra sự thật và tìm kiếm công lý vì đây được coi là những yêu cầu tiên quyết để tiến hành hoạt động bồi thường. [46]
Thứ hai, sau sự sụp đổ của chế độ Khmer Đỏ, nền chính trị Campuchia rất bất ổn cho tới cuối những năm 1990. Từ năm 1979 đến năm 1991, sự chiếm đóng của Việt Nam và cuộc tranh luận xem ai sẽ là đại diện hợp pháp cho Campuchia thu hút sự quan tâm chính, gạt các thảo luận về vấn đề bồi thường sang một bên.[47] Sau đó, từ năm 1991 đến năm 1997, sự quan tâm trong nước cũng như quốc tế lại tập trung vào cuộc tranh giành quyền lực nội bộ ở nước này.[48] Chỉ đến năm 1997, ngay trước khi Campuchia trở thành thành viên chính thức của ASEAN[49] thì tình hình chính trị ở nước này mới ổn định. Lúc đó, Liên Hiệp Quốc đã nhận được yêu cầu trợ giúp từ Chính phủ Campuchia trong việc tổ chức một quy trình xét xử Khmer Đỏ.[50] Từ đó, người ta lại chủ yếu tập trung vào việc khởi tố, không xếp việc bồi thường lên ngang hàng.[51]
Thứ ba, có sự thiếu quan tâm về mặt chính trị của Chính phủ Campuchia liên quan đến nghĩa vụ bồi thường cho nạn nhân của Khmer Đỏ. Dù chế độ này đã bị lật đổ, một số người liên quan đến chế độ đó vẫn còn nắm quyền.[52] Tình hình này làm cho chính quyền Campuchia miễn cưỡng trong việc truy cứu trách nhiệm của tất cả những kẻ phạm tội cũng như bồi thường cho các nạn nhân trong cuộc thảm sát thời kỳ những năm 1970.
Thứ tư, cộng đồng thế giới và các tổ chức phi chính phủ vẫn chưa thay đổi được tình trạng bất động hiện nay và nâng cao nhận thức một cách hiệu quả. Thậm chí chính các nạn nhân cũng không phải luôn luôn biết được quyền lợi của mình.[53]
Điều cuối cùng chính là những gì mà J. Angelo Corlett gọi là “Sự bác bỏ vì phức tạp lịch sử”[54] đối với một trường hợp đã diễn ra từ lâu trong lịch sử. Theo Corlett, lịch sử chứa đựng quá nhiều tình huống phức tạp đến mức không thể xác định được tất cả mọi sự bất công cần phải được bồi thường và giải quyết một cách hiệu quả.[55] Đối với Campuchia, sau một phần tư thế kỷ, dường như việc đo đếm những thiệt hại của các nạn nhân một cách chi tiết theo từng trường hợp là không khả thi và việc khôi phục quyền lợi của các nạn nhân bị thương đã lâu cũng hết sức tốn kém.[56] Và việc thuyết phục các thế hệ sau này rằng họ phải chịu một khoản nợ với ông bà của những người đòi bồi thường là một việc hết sức khó khăn.[57]
Bất chấp những rào cản này, vấn đề bồi thường cho các nạn nhân bị xâm hại nhân quyền ở Campuchia cũng không nên bị trì hoãn mãi mãi. Nếu việc điều tra, thừa nhận và truy tố là điều kiện tiên quyết trong việc bồi thường, thì giờ đây, khi mà tất cả các khía cạnh khác liên quan đến công lý đang được thực hiện, chính là lúc tiến tới mục tiêu bồi thường thiệt hại. Dù bản Thỏa thuận thành lập ECCC không có điều khoản nào liên quan đến việc bồi thường, vẫn có một nền tảng pháp lý cho việc bồi thường như vậy được quy định trong các điều ước mà Campuchia đã tham gia cũng như trong chính nội luật của Campuchia. Dựa theo luật pháp hiện hành của Campuchia, trong các vụ án hình sự, các nạn nhân có thể đòi bồi thường cho những thiệt hại mà họ phải chịu do các tội phạm đang bị xét xử gây ra,[58]và các Quy chế Nội bộ của ECCC cũng thừa nhận các hình thức bồi thường nhất định.[59] Vấn đề ở đây chính là nghĩ ra các cách thức thực hiện nghĩa vụ bồi thường khả thi và hiệu quả. Trên tinh thần đó, phần tiếp theo sẽ thảo luận một số phương án khả thi về cách thức các nạn nhân của chế độ diệt chủng ở Campuchia nên được bồi thường như thế nào.
IV. Những đối tượng có thể nhận bồi thường
Thách thức đầu tiên là làm sao xác định được đối tượng nào thích hợp cho việc đòi bồi thường trong trường hợp này, do nhiều nạn nhân trực tiếp đã chết. Trong số 2 triệu người bị giết trong các cuộc thảm sát, có rất nhiều người có con cháu còn sống. Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là liệu con cháu họ có được nhận bồi thường hay không? Và liệu gia đình của những người còn sống có được bồi thường không? Những câu hỏi này chỉ có thể được trả lời tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, rốt cuộc cần phải có một khuôn khổ chung để xác định những đối tượng được bồi thường trước khi tiến hành với số lượng khổng lồ những người đòi bồi thường. May mắn sao, có rất nhiều nguồn luật quốc tế có thể hỗ trợ việc thành lập khuôn khổ chung này. Ví dụ, Điều 14 trong Công ước Liên Hiệp Quốc về chống Tra tấn quy định rằng: “khi một nạn nhân bị chết bởi hành động tra tấn, những người phụ thuộc vào người đó sẽ được hưởng bồi thường.”[60] Như Ủy ban Châu Âu về Quyền con người trong vụ X và Cộng hòa Liên bang Đức đã xác định: từ “nạn nhân” bao gồm “không chỉ các nạn nhân trực tiếp bị xâm hại mà cả những người gián tiếp phải chịu các định kiến do hậu quả của sự xâm hại đó hoặc những người có lợi ích cá nhân xác đáng trong việc đảm bảo chấm dứt sự xâm hại đó.”[61] Tương tự như vậy, Ủy ban Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc cũng kết luận rằng nạn nhân có thể bao gồm cả các thành viên gia đình của những người trực tiếp bị xâm hại.”[62] Những quyết định gần đây nhất của Tòa Án liên Châu Mỹ về Nhân quyền cũng chỉ rõ: khi nạn nhân đã chết, người thân của họ được hưởng đền bù; và nếu không có bằng chứng về mối quan hệ gia đình, các thành viên gia đình có thời gian hai năm sau phán quyết để chứng minh mối quan hệ gia đình của mình để được bồi thường thiệt hại.[63] Trước tiên phải thiết lập một khuôn khổ chung, trong đó các thành viên trong gia đình tất cả nạn nhân đều được pháp đòi bồi thường, và trong khuôn khổ này phải có các biện pháp cụ thể đưa ra cho từng trường hợp.
Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề liên quan đến phạm vi của khái niệm “gia đình”. Để giải quyết vấn đề này, cần phải xem xét phạm vi được áp dụng trong những trường hợp khác.  Trong vụ Loayza Tomayo và Peru, Tòa án liên Châu Mỹ về Nhân quyền đã coi khái niệm “thành viên gia đình” được hiểu là bao gồm tất cả những người có quan hệ mật thiết như con cái, cha mẹ và anh chị em ruột của nạn nhân.[64]Tương tự như vậy, trong vụ Blake và Guatemala, Tòa án quyết định rằng tất cả 4 thành viên trong gia đình người bị mất tích, gồm cha mẹ và hai anh em trai của nạn nhân, đều bị ảnh hưởng trực tiếp từ cái chết và sự mất tích của Blake.[65] Trong vụ Suárez Rosero và Ecuador  và  Bámaca Velásquez và Guatemala, Tòa án cũng đã yêu cầu các nhà nước liên quan phải bồi thường cho vợ/ quả phụ và con cái của các nạn nhân.[66] Trong các trường hợp diễn ra sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1990, Hội đồng Bồi thường của Liên Hiệp Quốc xác định rằng vợ, chồng và con cái hoặc cha mẹ của nạn nhân có thể được xem là những đối tượng được bồi thường hợp pháp cho những gì họ phải chịu đựng trong cuộc xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp của Iraq vào Kuwait tháng 8 năm 1990.[67] Các tiền lệ từ những trường hợp trên gợi nên câu trả lời cho việc những ai có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp ở Campuchia. Thứ nhất, nạn nhân trực tiếp của những hành động tàn bạo phải được hưởng bồi thường. Thứ hai, người thân của các nạn nhân bị giết trong thời kỳ những năm 1970 hoặc những người đã chết từ đó đến nay, bao gồm cha mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột và con cái của những nạn nhân đó cũng phải được bồi thương. Dựa trên cách tiếp cận chung đó, giải pháp bồi thường có thể được xác định trong từng trường hợp cụ thể.
V. Những hình thức bồi thường khả dĩ nhất
VI. Cách thực hiện việc bồi thường 
VII. Kết luận
Download toàn bộ nội dung văn bản tại đây: Boi thuong nan nhan xam pham nhan quyen Campuchia.pdf

[1] Xem, ví dụ, Báo cáo của nhóm các chuyên gia về Campuchia dựa theo Nghị quyết của Đại hội đồng số 52/135, Phục lục,  ¶¶ 16, 19, 20, 30, 56, U.N. Doc. A/53/850- S/1999/231 (15.3.1999) [sau đây gọi tắt là Báo cáo của nhóm chuyên gia] (bàn về vấn đề người dân bị ép phải di dời khỏi thành phố và các lạm dụng quyền con người khác); Katheryn M. Klein, Bringing the Khmer Rouge to Justice: The Challenges and Risks Facing the Joint Tribunal in Cambodia, 4 NW. J. INT’L HUM. RTS. 549, 549, 553-54 (2006) (ghi lại việc di dời và lao động cưỡng bức).
[2] ECCC, còn được gọi là Tòa án Campuchia, là một tòa án chung được thành lập bởi một hiệp định giữa Liên Hợp Quốc và Campuchia với mục tiêu xét xử các tội ác dưới chế độ Khmer đỏ từ năm 1975 đến năm 1979. Xem website của ECCC: http://www.eccc.gov.kh/english (truy cập lần cuối 28.11.2009) để biết thêm thông tin về ECCC.
[3] Bảng Chỉ dẫn và Nguyên tắc Cơ bản của Liên Hợp Quốc về Quyền được Bồi thường của các Nạn nhân bị Xâm phạm Nhân quyền Nghiêm trọng và Luật Nhân đạo quốc tế, G.A. Res. 60/147, Annex, ¶ 18, U.N. Doc. A/RES/60/147 (2005)  [sau đây gọi tắt là Những nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc].
[4]  Stef Vandeginste, Reparation, trong RECONCILIATION AFTER VIOLENT CONFLICT: A HANDBOOK 145, 145 (David Bloomfield et al. eds., 2003).
[5] Pablo de Greiff, Justice and Reparations, trong THE HANDBOOK OF REPARATIONS 451, 452 (Pablo de Greiff ed., 2006).
[6] Những nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc, chú thích 3 ở trên, ¶ 19.
[7] Những nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc, chú thích 3 ở trên, ¶ 20, de Greiff, chú thích 5 ở trên, trang 452; Dinah L. Shelton, Reparations for Victims of International Crimes, trong INTERNATIONAL CRIMES, PEACE, AND HUMAN RIGHTS: THE ROLE OF THE INTERNATIONAL CRIMINAL COURT 137, 139-40 (Dinah Shelton ed., 2000).
[8] Những nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc, chú thích 3 ở trên, ¶ 21; de Greiff, chú thích 5 ở trên, trang 452.
[9] Những nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc, chú thích 3 ở trên, ¶ 22.
[10] Như trên, chú thích 3 ở trên, ¶ 23.
[11] Ví dụ, xem  Paul M. Hughes, Rectification and Reparation: What Does Citizen Responsibility Require?, 35 J. SOC. PHIL. 244, 245 (2004) (cho rằng các thảo luận về việc bồi thường đã là một vấn đề nổi bật trong việc xử lý các tội ác tàn bạo trong quá khứ).
[12] Liesbeth Zegveld, Remedies for Victims of Violations of International Humanitarian Law, 85 INT’L REV. RED CROSS 497, 506 (2003).
[13] Công ước về Luật lệ và Tập quán Chiến tranh trên đất liền, điều 3, ngày 18.10.1907, 36 Stat. 2277, 1 Bevans 631.
[14] Xem PAUL GORDON LAUREN, THE EVOLUTION OF INTERNATIONAL HUMAN RIGHTS: VISIONS SEEN 199-270 (2d ed. 2003) (ghi lại chi tiết bối cảnh lịch sử và tác động của Tuyên ngôn toàn cầu về Nhân quyền).
[15] Tuyên ngôn toàn cầu về Nhân quyền, G.A. Res. 217A, art. 8, U.N. GAOR, 3d Sess., 1st plen. mtg., trang 71, 73, U.N. Doc A/810 (10.12.1948) .
[16] Công ước quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, điều 2(3) và 9(5), ngày 16.12.1966 [sau đây gọi tắt là ICCPR]
[17] Công ước chống Tra tấn và các Hình thức Đối xử hoặc Trừng phạt Tàn bạo, Vô nhân đạo hoặc Hạ nhục con người, điều 14 ngày 10.12.1984, 1465 U.N.T.S. 85.
[18] Công ước Giơ-ne-vơ liên quan đến việc đối xử với tù nhân chiến tranh, điều 68, ngày 12.8.1949, 75 U.N.T.S. 135.
[19] Nghị định thư bổ sung Công ước Giơ-ne-vơ ngày 12.8.1949, và Nghị định thư liên quan đến việc Bảo vệ nạn nhân của các xung đột vũ trang quốc tế (Nghị định thư 1) điều 91, ngày 8.6.1977, 1125 U.N.T.S. 3.
[20] Công ước Bảo vệ Nhân quyền và Quyền Tự do Cơ bản, điều 13, ngày 4.11.1950, 213 U.N.T.S. 222, sửa đổi bởi Nghị định thư số 3, 5, 8 11, có hiệu lực lần lượt vào ngày21.9.1970, 20.12.1971, 1.1.1990, và 1.11.1998.
[21] American Convention on Human Rights, Nov. 22, 1969, O.A.S. Treaty Series No. 36, 1144 U.N.T.S. 123, in lại trongBasic Documents Pertaining to Human Rights in the Inter-American System, OEA/Ser.L.V/JI.82 doc.6 rev. 1 at 25 (1992).  Xem thêm African (Banjul) Charter on Human and Peoples’ Rights, June 27, 1981, OAU Doc. CAB/LEG/67/3 rev. 5, 21 I.L.M. 58 (1982) (quy định rằng mỗi người đều có quyền khiếu nại lên các cơ quan quốc gia có thẩm quyền chống lại các hành động xâm hại đến các quyền cơ bản của họ được thừa nhận trong các công ước, luật, các quy định và tập quán có hiệu lực).
[22] Điều ngạc nhiên với nhiều người bên ngoài là Campuchia là thành viên của nhiều điều ước quốc tế chủ chốt về nhân quyền, trong đó có ICCPR; Công ước Quốc tế về quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa; Công ước về Ngăn ngừa và Trừng phạt Tội ác Diệt chủng, Công ước Quốc tế về Xóa bỏ mọi Hình thức Phân biệt Chủng tộc; Công ước chống Tra tấn và các Hình thức Đối xử hoặc Trừng phạt Tàn bạo, Vô nhân đạo hoặc Hạ nhục con người; Công ước về Quyền Trẻ em; Công ước về Loại trừ mọi Hình thức Phân biệt chống lại Phụ nữ; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về Loại trừ mọi Hình thức Phân biệt chống lại Phụ nữ; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước chống Tra tấn và các Hình thức Đối xử hoặc Trừng phạt Tàn bạo, Vô nhân đạo hoặc Hạ nhục con người; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về Quyền Trẻ em về sự tham gia của trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về Quyền Trẻ em về buôn bán trẻ em, mại dâm và khiêu dâm trẻ em. Để biết thêm về tình trạng tham gia các điều ước quốc tế chủ chốt về nhân quyền của Campuchia hiện nay, xem danh sách các điều ước của Dữ liệu Điều ước Liên Hiệp Quốc, website: http://treaties.un.org/pages/Treaties.aspx?id=4&subid=A&lang=cn(truy cập ngày 28.10.2009)
[23] ICCPR, chú thích 16 ở trên, điều 2(3).
[24] Xem Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền, Ủy ban Nhân quyền – Các thành viên, http://www2.ohchr.org/english/bodies/hrc/members.htm (truy cập lần cuối ngày 28.10.2009) (“Ủy ban Nhân quyền gồm 18 chuyên gia độc lập, họ là những người có phẩm chất đạo đức cao và có năng lực được thừa nhận trong lĩnh vực nhân quyền.”). Ủy ban mỗi năm họp 3 lần, mỗi lần kéo dài 3 tuần tại Giơ-ne-vơ hoặc New York. Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền, Ủy ban Nhân quyền, http://www2.ohchr.org/english/bodies/hrc (truy cập lần cuối ngày 28.10.2009)
[25] Ủy ban Nhân quyền, General Comment No. 31: The Nature of the General Legal Obligation Imposed on States Parties to the Covenant, ¶ 16, U.N. Doc. CCPR/C/21/Rev.1/Add. 13 (29.3.2004).
[26]Như trên, ¶ 15.
[27] Như trên.
[28] Như trên, ¶ 14.
[29] Xem, ví dụ như, Công ước Quốc tế về Xóa bỏ mọi Hình thức Phân biệt Chủng tộc, điều 6, ngày 21.12.1965, 660 U.N.T.S. 195, 199 (yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo các biện pháp phòng chống hiệu quả sự phân biệt chủng tộc đối với mỗi công dân trong quyền tài phán của nhà nước).
[30] Công ước chống Tra tấn và các Hình thức Đối xử hoặc Trừng phạt Tàn bạo, Vô nhân đạo hoặc Hạ nhục con người, chú thích 17 ở trên, điều 14 (1).
[31] Công ước về Quyền Trẻ em, Điều 39, ngày 20.11.1989, 1557 U.N.T.S. 3, 56.
[32] Xem Max du Plessis, Historical Injustice and International Law: An Exploratory Discussion of Reparation for Slavery, 25 HUM. RTS. Q. 624, 639 (2003) (đề cập đến việc Áo chi trả 25 triệu đô la Mỹ để bồi thường cho các nạn nhân Holocaust sống sót vào năm 1990).
[33] Xem Ariel Colonomos & Andrea Armstrong, German Reparations to the Jews After World War II: A Turning Point in the History of Reparations (ước tính Đức đã bồi thường tổng cộng 61,5 tỉ đô la Mỹ cho các nạn nhân dưới chế độ Đức Quốc xã trong giai đoạn 1965-2001); trong THE HANDBOOK OF REPARATIONS, chú thích 5 ở trên, trang 390, 408.
[34]  Xem Joseph P. Nearey, Seeking Reparations in the New Millennium: Will Japan Compensate the “Comfort Women” of World War II?, 15 TEMP. INT’L L.J. 121, 140 (2001) (nói đến quỹ tư nhân do chính phủ khởi tạo gồm 10 triệu đô la Mỹ để khắc phục các sai trái đối với các phụ nữ giải khuây trước đây.)
[35] Xem Situation of Human Rights in Cambodia, G.A. Res. 52/135, ¶ 2, U.N. Doc. A/Res/52/135 (1998) (yêu cầu Tổng thư ký xem xét hỗ trợ Chính phủ Campuchia bằng việc bổ nhiệm một nhóm chuyên gia). Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đã bổ nhiệm một nhóm 3 chuyên gia theo Nghị quyết 52/135 để đánh giá các bằng chứng hiện có và xác định bản chất tội ác của các thủ lĩnh Khmer đó; và tìm hiểu các lựa chọn pháp lý để đưa họ ra trước công lý.  Báo cáo của Nhóm các chuyên gia, chú thích 1 ở trên.
[36] Như trên, ¶ số 211.
[37] Như trên, ¶ 212 (“Khả năng yêu cầu các bị cáo bồi thường cho nạn nhân được quy định trong quy chế của tòa án đặc biệt, mới đây được thừa nhận trong Định ước Tòa án Hình sự Quốc tế.”). Bản báo cáo cũng kiến nghị rằng “bất cứ tòa án nào đều quy định khả năng bị cáo phải bồi thường cho nạn nhân… [và] các nhà nước nơi có tài sản mà các thủ lĩnh Khmer đỏ đã có được một cách bất hợp pháp nên xem xét khả năng bồi thường cho các nạn nhân từ các tài sản này.” Như trên.
[38] Xem Klein, chú thích 1 ở trên, trang 549.
[39] Gregory H. Stanton, Perfection Is the Enemy of Justice, BANGKOK POST, June 1, 2003  (đáp lại sự chỉ trích của Tổ chức Ân xá Quốc tế về dự thảo thỏa thuận giữa Campuchia và Liên Hiệp Quốc).
[40] Như trên.
[41] Luật thành lập ECCC, điều 38, website: http://www.eccc.gov.kh/english/cabinet/law/4/KR_law_as_amended_27_Oct_2004_Eng.pdf (truy cập 28.10.2009)
[42] Như trên, điều 39.
[43] Như trên.
[44] Quy định nội bộ của ECCC, quy định số 23 (sửa đổi ngày 11.9.2009), đăng trên website: http://www.eccc.gov.kh/english/cabine/fileUpload/121/IRv4-EN.pdf(truy cập ngày 28.10.2009)
[45] Richard Falk, Reparations, International Law, and Global Justice: A New Frontier, trong THE HANDBOOK OF REPARATIONS, chú thích 5 ở trên, trang 478-479.
[46] Xem Stef Vandeginste, A Truth and Reconciliation Approach to the Genocide and Crimes Against Humanity in Rwanda 9 (May 1998) (Inst. of Dev. Policy & Mgmt., Univ. of Antwerp Working Paper).
[47] Đọc Scott Luftglass, Crossroads in Cambodia: The United Nation’s Responsibility to Withdraw Involvement from the Establishment of a Cambodian Tribunal to Prosecute the Khmer Rouge, 90 VA. L. REV. 893, 903 (2004)  (giải thích việc cộng đồng thế giới chủ yếu chú ý đến việc đảm bảo ổn định của Campuchia sau khi chấm dứt chế độ Khmer đỏ).
[48] Đọc Vannath Chea, Reconciliation in Cambodia: Politics, Culture and Religion (kể lại tiến trình hòa bình với rất nhiều thế lực chính trị tranh giành quyền lực với nhau) trong RECONCILIATION AFTER VIOLENT CONFLICT: A HANDBOOK, chú thích 4 ở trên, trang 49, 50.
[49] Đọc DAVID W. ROBERTS, POLITICAL TRANSITION IN CAMBODIA, 1991-99: POWER, ELITISM, AND DEMOCRACY 168-69 (2001) (thảo luận vấn đề ổn định được phục hồi như thế nào sau những sự kiện năm 1997). Xem thêm Seth Mydans, Fragile Stability Slowly Emerges in Cambodia, N.Y. TIMEs, ngày 25.6. 2000, trang 1 (miêu tả những diễn biến ở Campuchia cho thấy nó đang chứng kiến “một kỷ nguyên mới của hòa bình và ổn định chính trị”.)
[50] Lufglass, chú thích 47 ở trên, trang 906 và Klein, chú thích 1 ở trên, trang 554, 555.
[51] Sau 5 năm đàm phán kéo dài và khó khăn, trong đó có 6 tháng bế tắc vì Liên Hiệp Quốc rút khỏi bàn đàm phán, cuối cùng một thỏa thuận cũng được đưa ra vào năm 2003, chú trọng đến việc xét xử nhóm thủ lĩnh Khmer đỏ, không nhắc gì đến vấn đề bồi thường. Đọc thêm Lufglass, chú thích 47 ở trên, trang 906-917 (nói về nỗ lực của Liên Hiệp Quốc và Campuchia trong việc thành lập một tòa án).
[52] Xem Klein, chú thích 1 ở trên, trang 554. (lấy ví dụ về việc Hun Sen, một cựu Ngoại trưởng của Khmer đỏ, hiện nay là Thủ tưởng Campuchia, chính ông đã bất hợp tác trong quá trình thương lượng thành lập tòa án chung).
[53] Trong một cuộc khảo sát về thái độ của người dân Campuchia do Trung tâm Nhân quyền, ĐH California, Berkeley thực hiện, dù 9/10 số người nói rằng các nạn nhân phải được bồi thường nhưng 39% số người lại muốn dùng phương pháp trừng phạt mà chỉ có 5% số người cho rằng nên tha thứ bằng việc bồi thường thiệt hại. PHUONG PHAM ET AL., So WE WILL NEVER FORGET: A POPULATION-BASED SURVEY ON ATTITUDES ABOUT SOCIAL RECONSTRUCTION AND THE EXTRAORDINARY CHAMBERS IN THE COURTS OF CAMBODIA 29-30 (2009). Những phản hồi này cho thấy những người tham gia khảo sát không ưu tiên hay quan tâm đến quyền được bồi thường.
[54] J. ANGELO CORLETT, RESPONSIBILITY AND PUNISHMENT 190 (3d ed. 2006).
[55] Như trên.
[56] Falk, chú thích 45 ở trên, trang 495.
[57] Corlett, chú thích 543, trang 190-191.
[58] Xem SECRETARIAT OF THE ROYAL GOV’T TASK FORCE, OFFICE OF THE COUNCIL OF MINISTERS, AN INTRODUCTION TO THE KHMER ROUGE TRIALS 15 (2004), trên website: http://www.cambodia.gov.kh/krt/english/introduction_eng/index.htm (truy cập ngày 28.10.2009) (nói rằng tội giết người, tra tấn, và ngược đãi vì lý do tôn giáo đều được coi là tội phạm trong luật pháp Campuchia.)
[59] Xem chú thích 44 ở trên và diễn giải đính kèm.
[60] Công ước chống Tra tấn và các Hình thức Đối xử hoặc Trừng phạt Tàn bạo, Vô nhân đạo hoặc Hạ nhục con người, chú thích 17 ở trên, điều 14 (1).
[61] X v. Federal Republic of Germany, App. No. 4185/69, 35 Eur. Comm’n H.R. Dec. & Rep. 142 (1970).
[62] Shelton, chú thích 7 ở trên, trang 142.
[63] Douglass Cassel, The Expanding Scope and Impact of Reparations Awarded by the Inter-American Court of Human Rights(K. De Feyter et al. eds., 2005)  (nói rằng Tòa án Liên Mỹ đã mở rộng các phương án bồi thường); trong OUT OF THE ASHES: REPARATION FOR VICTIMS OF GROSS AND SYSTEMATIC HUMAN RIGHTS VIOLATIONS 191, 199-200.
[64] Xem Loayza Tamayo Case, 1998 Inter-Am. Ct. H.R. (ser. C) No. 42 ¶ 90 (Nov. 27, 1998) (chỉ rõ người thân của nạn nhân, theo nghĩa nhân chủng học, không chỉ là gia đình hạt nhân, mà là gia đình mở rộng).
[65] Xem Blake Case, 1999 Inter-Am. Ct. H.R. (ser. C) No. 48 57 (Jan. 22, 1999) (cha mẹ và anh em đều được bồi thường thiệt hại).
[66] Surez Rosero Case, 1999 Inter-Am. Ct. H.R. (ser. C) No. 44 113 (Jan. 20, 1999); Bámaca Veldsquez Case, 2002 Inter-Am. Ct. H.R. (ser. C) No. 91 106 (Feb. 22, 2002).
[67] David Bederman,  The United Nations Compensation Commission and the Tradition of International Claims Settlement, 27 N.Y.U. J. INT’L L. & POL. 1, 22 n. 102 (1994).
#193 – Yêu sách đường chữ U của TQ có phù hợp với luật quốc tế không?


Nguồn: Masahiro Miyoshi (2012). “China’s “U-Shaped Line” Claim in the South China Sea: Any Validity Under International Law?”, Ocean Development & International Law, Vol. 43, No. 1, pp. 1-17.>>PDF
Biên dịch: Nguyễn Thùy Anh, Phan Thị Phương Thảo | Hiệu đính: Võ Ngọc Diệp
Bài liên quan: Hội chứng “thêu dệt ký ức” của Trung Quốc
Yêu sách gần đây của Trung Quốc về khu vực“đường chữ U” rộng lớn trên biển Đông, liên quan đến các quần đảo đang tranh chấp là Trường Sa và Hoàng Sa, đã làm dấy lên những chỉ trích nghiêm trọng không chỉ từ các quốc gia láng giềng, mà còn từ một số quốc gia ngoài khu vực. Yêu sách này cũng đã đưa đến hàng loạt các câu hỏi mang tính lý thuyết, bao gồm liệu các yêu sách danh nghĩa lịch sử (historic title claims) mà không có bằng chứng cụ thể có giá trị theo luật quốc tế hay không. Bài viết đi sâu nghiên cứu vấn đề này và các vấn đề khác xoay quanh tuyên bố “đường chữ U” của Trung Quốc.
Giới thiệu
Yêu sách gần đây của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sau đây viết tắt là PRC hoặc Trung Quốc) về “đường chữ U” tại biển Đông (xem hình 1), bao trùm các đảo và vùng nước xung quanh đã làm dấy lên sự phản đối tại một số các quốc gia láng giềng trên Biển Đông. Nói chính xác thì đây không phải là một đường, mà là một chuỗi 9 đường đứt đoạn vạch ra một khu vực biển rộng lớn liên quan đến các thực thể lớn nhỏ mà Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ. Yêu sách bất thường này, được cho là dựa trên danh nghĩa lịch sử, đang làm dấy lên sự lo ngại cho các luật sư quốc tế.

Hình 1. Bản đồ đính kèm Công hàm ngày 7 tháng 5 năm 2009 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lên Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Ranh giới ngoài thêm lục địa, đáp lại đệ trình chung giữa Malaysia và Việt Nam lên Ủy ban này vào ngày 6 tháng 5 năm 2009.
Một câu hỏi đặt ra là liệu việc yêu sách một vùng biển bằng một loạt các đường đứt đoạn thay vì một đường liền liên tục là có khả thi hoặc được phép hay không. Các đường đứt đoạn tạo ra những khoảng trống, điều này tạo nên một câu hỏi nghiêm túc về việc làm thế nào những vùng biển trong khoảng trống này có thể được phân định một cách hợp lệ, giả sử những đường đứt đoạn đã được phân định rõ ràng. Dường như Trung Quốc muốn nói rằng các vùng biển kín và các thực thể này trong lịch sử đã thuộc sở hữu của Trung Quốc mà không gặp phải sự phản đối từ các quốc gia khác qua thời gian.
Bài viết ngắn gọn này là một nỗ lực nhằm cung cấp một đánh giá pháp lý quốc tế mang tính phản biện về yêu sách của Trung Quốc. Trong các phần tiếp theo, các vấn đề có liên quan  sẽ được xem xét: thời điểm yêu sách đường chữ U lần đầu tiên được nêu ra là khi nào và các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia láng giềng đã phản ứng như thế nào; nếu như yêu sách đưa ra là một yêu sách quyền lịch sử, như thực sự Trung Quốc đã làm, thì bài viết sẽ kiểm chứng để xem liệu đó có phải là một thực tiễn quốc gia (state practice) hợp pháp trong luật pháp quốc tế hay không, và nếu yêu sách được đưa ra vì lợi ích quốc gia của bên yêu sách  thì có thể bình luận gì về vài trò của lợi ích quốc gia trong sự hình thành luật pháp quốc tế.
Yêu sách đường chữ U của Trung Quốc là gì?
Yêu sách đường chữ U của Trung Quốc bắt nguồn từ yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc (sau đây gọi là ROC hoặc Đài Loan) đối với quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, bãi Macclesfield (bãi Trung Sa), và quần đảo Trường Sa như là lãnh thổ của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông, và được thể hiện trên “Bản đồ các quần đảo của Trung Quốc ở Biển Đông” do Ủy ban Trắc địa bản đồ Đất và Biển xuất bản vào tháng 4/1935.[1] Trên Bản đồ Trung Quốc và bản đồ đính kèm của nó – “Bản đồ vị trí của các quần đảo trên Biển Đông” – các đảo được nhắc đến ở trên đã được chỉ ra là một phần của lãnh thổ Trung Hoa Dân Quốc và một đường 11 đoạn đã được vẽ ra xung quanh các đảo đó.[2] Bản đồ được đánh dấu bằng các đường đứt đoạn trên Biển Đông đã chính thức phát hành lần đầu tiên dưới thời Quốc Dân đảng cầm quyền.[3]
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đã sử dụng đường đứt đoạn này làm yêu sách biên giới biển trên Biển Đông.[4] Li và Li đã chỉ ra sự chấp thuận của một số nước liền kề với Trung Quốc đối với yêu sách này[5] và kết luận rằng “[ nó ] có thể được gọi là đường biên giới trên biển truyền thống của Trung Quốc trong khu vực Biển Đông.”[6] Sự thừa nhận (của các quốc gia liền kề) là một điểm quan trọng, và sẽ được thảo luận sâu hơn dưới đây, nhưng điều mà tác giả bài viết này coi trọng hơn trong vấn đề này là liệu đường (được cho là) đứt đoạn này có thể được coi là một đường biên giới hợp pháp trên biển hay không.
Một đường biên giới, hoặc bất kỳ đường nào thuộc dạng này, phải là một đường liên tục. Nếu có những khoảng trống giữa các phân đoạn thì không thể được định nghĩa là một đường. Rõ ràng, kể cả khi đường biên giới đã được phân định thì những khoảng trống giữa các phân đoạn này sẽ để lại những khu vực không được phân định.  Đối với  yêu sách đường đứt đoạn tại Biển Đông của Trung Quốc (hoặc của Đài Loan), vấn đề đặt ra là liệu các đoạn này có phải là  đường biên giới đã  được phân định hay không. Yêu sách  đường đứt đoạn chỉ dựa trên danh nghĩa lịch sử, được cho là được chấp nhận hoặc được mặc nhận bởi các nước láng giềng và các nước khác.[7] Phải chăng sự thiếu phản đối từ các nước khác là đủ để xác nhận chủ quyền lãnh thổ trên các vùng biển bao quanh bởi những đường biên giới đứt đoạn và các đảo nằm trong vùng biển đó? Nếu như vậy là đủ, thì bất cứ yêu sách lãnh thổ nào dù có bất hợp lý hoặc thái quá đến đâu cũng đều có thể được xác lập theo luật pháp quốc tế trừ khi bị phản đối.
Đạo luật về vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa năm 1998 của Trung Quốc dường như cho thấy Trung Quốc đã kế thừa tuyên bố của Đài Loan đối với đường đứt đoạn tại biển Đông, vì Trung Quốc đã nêu trong Điều 14 rằng “các quy định của luật này không ảnh hưởng đến các quyền lịch sử mà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được hưởng.”[8] Dù các “quyền lịch sử của Trung Quốc” trong điều khoản này không được giải thích rõ ràng, có thể giả định rằng những quyền này được dựa trên đường biên giới truyền thống trên biển đã được vẽ trong các bản đồ Trung Quốc từ năm 1947.[9] Dù vậy, Đài Loan chưa bao giờ từ bỏ yêu sách của mình đối với đường biên giới đứt đoạn. Thật vậy, trong đoạn đầu của Hướng dẫn Chính sách đối với biển Đông, được Chính phủ Đài Loan phê duyệt vào tháng 4/1993, có tuyên bố rằng:
[k]hu vực biển Đông nằm trong giới hạn vùng nước lịch sử là vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Hoa Dân Quốc, trong khu vực đó Trung Hoa Dân Quốc có mọi quyền và lợi ích.[10]
Song và Zou đã truy nguyên quan điểm của Đài Loan trong đó bao gồm việc cả Bộ trưởng Nội vụ và Thủ tướng trong tháng 9/1993 đã nhắc lại rằng các vùng nước thuộc biển Đông từ lâu đã vùng nước lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc.[11] Vào tháng 3/1995, quân đội Đài Loan đã bắn vào một tàu chở hàng Việt Nam đi lạc vào khu vực cấm xung quanh đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa.[12] Cũng trong cùng năm đó, đáp lại các  tuyên bố của Mỹ về quần đảo Trường Sa và biển Đông, Bộ trưởng Ngoại giao Đài Loan đã ban hành một tuyên bố năm điểm về vấn đề Biển Đông, trong đó Đài Bắc tái khẳng định yêu sách đối với các vùng nước trong Biển Đông được bao quanh bởi đường chín đoạn là các vùng nước lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc.[13] Việt Nam phản ứng bằng cách phản đối rằng yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc là vô căn cứ.[14] Năm 1996, Bộ Ngoại giao Đài Loan nhắc lại rằng yêu sách vùng nước lịch sử tại Biển Đông sẽ được duy trì một cách kiên định.[15] Đây là trường hợp mà cả đường chữ U và các vùng biển và các đảo bao quanh bởi đường này được yêu sách  bởi cả chính phủ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và chính phủ của Trung Hoa Dân Quốc.
Bản đồ trong vai trò bằng chứng về giới hạn của chủ quyền quốc gia
Đường 9 đoạn, như được thể hiện trong Hình 1, được coi là bằng chứng cho yêu sách vùng nước lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc hoặc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bản đồ được coi là bằng chứng cho các yêu sách chủ quyền quốc gia và, trong một vài tình huống, bản đồ được chấp nhận là có những giá trị hiệu lực nhất định. Tuy nhiên  trong hàng loạt các vụ viêc về tranh chấp lãnh thổ và đường biên giới đưa ra trước tòa trọng tài quốc tế, giá trị hiệu lực của bản đồ bị coi nhẹ, trừ khi những bản đồ đấy có hiệu lực pháp lý nội tại, ví dụ như các bản đổ gắn liền với một điều ước. Tòa Công lý Quốc tế đã nêu ra trong vụ Tranh chấp biên giới giữa Burkina Faso và Cộng hòa Mali năm 1986:
Dù là trong các vụ việc phân định biên giới hay trong các xung đột quốc tế về lãnh thổ, bản đồ chỉ đơn thuần cung cấp thông tin với độ chính xác khác nhau trong từng vụ việc, bản thân các bản đồ và sự tồn tại của chúng không thể cấu thành một danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ, tức không phải là một văn bản được quy định bởi luật quốc tế là có giá trị pháp lý nội tại phục vụ mục đích hình thành các quyền đối với lãnh thổ. Tất nhiên, trong một vài trường hợp bản đồ có thể có những giá trị pháp lý trên, nhưng đấy là khi các giá trị pháp lý này không thuần dựa trên các đặc tính nội tại của nó, mà vì những bản đồ này thuộc nhóm các biểu hiện về mặt vật chất cho ý chí của quốc gia hoặc các quốc gia liên quan. Đây là trường hợp, ví dụ, các bản đồ là phần phụ lục không thể tách rời của một văn bản chính thức. Ngoại trừ trường hợp được xác định rõ ràng nói trên, bản đồ chỉ là bằng chứng bên ngoài có mức độ đáng tin cậy hoặc không đánh tin cậy khác nhau, cùng với các bằng chứng khác có cùng dạng bản chất dựa trên hoàn cảnh, dùng để thiết lập hoặc tái lập các thực tế.[16]
Đoạn bình luận về bản đồ này đã được trích dẫn lại trong các vụ việc về tranh chấp phân định lãnh thổ và đường biên giới khác, bao gồm: Vụ Đảo Kasikili/Sedudu giữa Bostwana và Namibia năm 1999;[17] Vụ Chủ quyền đối với Pulau Ligitan và Pulau Sipadan giữa Indonesia và Malaysia năm 2002,[18]Vụ Tranh chấp biên giới giữa Benin và Niger năm 2005,[19] và vụ Tranh chấp Lãnh thổ và trên biển tại Biển Caribe giữa Nicaragua và Honduras năm 2007.[20] Một điểm đáng chú ý được một chuyên gia địa lý đưa ra khi bình luận về giá trị bằng chứng của bản đồ:
Văn bản [của một điều ước phân định biên giới] luôn luôn có các bản phác thảo và bản đồ đính kèm làm văn bản phụ bổ trợ, những các văn bản này chỉ có giá trị pháp lý khi nó được hợp nhất vào điều ước. Đáng ngạc nhiên là, một số điều ước không đính kèm bất cứ bản đồ nào, có nghĩa là chỉ dựa trên sự miêu tả pháp lý mang tính toàn diện về đường biên giới đã được các bên chấp nhận.[21]
Những đánh giá trên về giá trị của bản đồ khi làm bằng chứng cho các yêu sách lãnh thổ hoặc đường biên giới đủ để chúng ta chuyển sang thảo luận các vấn đề thực chất khác, vì các bản đồ đưa ra bởi Trung Quốc và Đài Loan không đủ rõ ràng đề có thể phân tích thêm điều gì. Sẽ hữu ích hơn khi thảo luận về mục đích của các nước liên quan và các hệ quả pháp lý trong luật quốc tế.
Thực tiễn quốc gia và tính nhất quán với luật pháp quốc tế
Đường lưỡi bò lại nổi lên như là một tuyên bố chủ quyền bất bình thường của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nhằm phản ứng lại Đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam lên Ủy ban Liên Hợp Quốc về thềm lục địa (CLCS) vào tháng 5/2009[22] cũng như việc Việt Nam đơn phương đệ trình lên CLCS vào tháng 4/2009.[23] Sự phản đối của Trung Quốc đối với các động thái trên của Việt Nam và Malaysia đã khơi dậy “chủ quyền không thể chối cãi” của nước này đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng nước xung quanh và tuyên bố “quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như vùng đáy biển và vùng đất dưới đáy biển.”[24] Đài Loan cũng công khai phản đối đệ trình của Việt Nam lên CLCS vào ngày 12/5/2009.[25] Philippines phản đối mạnh mẽ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông trong công hàm trình lên Liên Hợp Quốc vào tháng 4/2011.[26]
Nếu các yêu sách của chính quyền Trung Quốc và Đài Loan ở biển Đông là  thực tiễn quốc gia và không gặp bất cứ phản đối nào từ phía các quốc gia khác, đặc biệt là từ các nước láng giềng, trong một thời gian dài, các yêu sách này có thể được coi hợp pháp theo luật quốc tế. Nhưng như đã chỉ ra phía trên, điều này không hoàn toàn có nghĩa là sự chấm hết của vấn đề. Như Hersch Lauterpacht đã chỉ ra một cách thẳng thắn, một tuyên bố đơn phương đối với các danh nghĩa, dù là lãnh thổ hay gì khác , hiển nhiên không được trái với luật quốc tế:
Việc thiếu sự phản đối có thể được xem là không liên quan trong tình huống hành vi yêu sách danh nghĩa của một quốc gia…hiển nhiên trái ngược với luật quốc tế nói chung đến mức không thể cấu thành một quyền pháp lý…Trong trường hợp đấy, phản đối là việc nên làm, nhưng không phải là thiết yếu… Có những hành động ngay từ đầu (ab initio) đã bị vô hiệu triệt để tới mức một hành vi bất cẩn của quốc gia có lợi ích liên quan cũng không thể thay đổi được tính chất vô hiệu của nó.[27]
Trong Vụ Ngư trường Anh – Na Uy 1951, Tòa án Công lý Quốc tế đã ra phán quyết rằng việc phân định bờ biển của các quốc gia ven biển không thể vượt quá giới hạn của luật quốc tế. Phần có liên quan trong quyết định của Toà là:
Sự phân định các vùng biển luôn có khía cạnh quốc tế; nó không thể chỉ đơn thuần dựa vào ý chí của các quốc gia ven biển như được thể hiện trong luật quốc gia. Mặc dù đúng là việc phân định chỉ là một hành động đơn phương, vì chỉ có quốc gia ven biển có thẩm quyền để tiến hành nó, giá trị của việc phân định đối với các quốc gia khác lại phụ thuộc vào luật quốc tế.[28]
Đây là một điều dễ hiểu. Nếu điều này cũng được áp dụng cho các vùng biển hẹp gần bờ, thì càng có lý do để cho rằng các khu vực giữa biển khơi, thường được gọi là biển cả (high seas), ví dụ như khu vực Biển Đông, việc phân định hay khoanh vùng các vùng biển này lại càng phải chịu sự giới hạn mạnh hơn của luật quốc tế. Theo cách hiểu này, các yêu sách  của Trung Quốc và Đài Loan đối với đường  9 đoạn khoanh vùng một khu vực biển rộng lớn ở Biển Đông không thể dễ dàng được công nhận là hợp pháp theo luật quốc tế.
Các quốc gia đưa ra yêu sách dựa trên cơ sở các tính toán của họ về lợi ích quốc gia và các yêu sách này là ví dụ của thực tiễn quốc gia. Nhưng để một thực tiễn như vậy có thể được công nhận trong luật quốc tế, thực tiễn này cần được chứng thực bởi luật quốc tế (ví dụ, bằng việc đáp ứng các yêu cầu để nó có thể trở thành một quy định của luật quốc tế). Nghiên cứu của Ban thư ký Liên Hợp Quốc, “Thể chế pháp lý của Vùng nước lịch sử, bao gồm cả Vịnh lịch sử,”[29] là cơ sở để thảo luận các tuyên bố đơn phương dựa trên căn cứ lịch sử về đặc quyền tài phán đối với một vùng biển. Nghiên cứu này chỉ thẳng ra rằng có ba nhân tố cần được đưa vào xem xét trong việc xác định sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử đối với một vùng biển: “(1) việc thi hành quyền lực đối với một khu vực bởi quốc gia yêu sách danh nghĩa lịch sử; (2) tính liên tục của việc thi hành quyền lực này; và (3) thái độ các quốc gia khác.”[30] Có thể ngầm hiểu là một yêu sách danh nghĩa lịch sử trên một vùng biển cụ thể không thể có hiệu lực theo luật quốc tế nếu không đáp ứng đồng thời cả ba yêu cầu trên.
Việc thi hành quyền lực
Nếu Đài Loan hoặc Trung Quốc khẳng định rằng nước mình thực thi quyền lực đối với vùng biển được khoanh vùng bởi  đường chín đoạn ở Biển Đông trong một thời gian dài, họ  phải chứng minh được họ đã thực sự làm như thế. Đài Loan và Trung Quốc tuyên bố thi hành quyền lực đối vùng biển Đông từ thời cổ đại, nhưng điều này vẫn còn bị hoài nghi; khi đó mức độ hay tần suất của việc thi hành quyền lực có thể rất khó để chứng minh trừ khi có bằng chứng bằng văn bản về tính hiệu quả của việc thực thi quyền lực. Có thể là quá khó để mong đợi các nước yêu sách chứng minh đươc là vào thời đó đã đáp ứng được yêu cầu khắt khe của khái niệm “thực thi quyền lực hữu hiệu” nêu ra trong vụ phân xử trọng tài liên quan đến đảo Palmas năm 1928 (1928 Island of Palmas Arbitration).[31] Nhưng nếu Đài Loan hoặc Trung Quốc yêu sách danh nghĩa lịch sử ngày nay, hoặc từ năm 1947 khi mà bản đồ có đường 9 đoạn lần đầu được xuất bản, họ buộc phải chứng minh sự thực thi quyền lực hữu hiệu (có nghĩa là chủ quyền).[32] Điều này đặc biệt cần thiết khi có một yêu sách cạnh tranh bởi thậm chí chỉ một quốc gia láng giềng đối với chủ quyền của các đảo và đá trong đường 9 đoạn ở Biển Đông. Hiển nhiên, cả yêu sách của Trung Quốc và Đài Loan đều không thể chiếm ưu thế tuyệt đối so với yêu sách của các nước khác trừ khi họ đưa ra được nhiều luận điểm mạnh hơn các nước khác.
Thực thi quyền lực một cách liên tục
Việc thực thi quyền lực cần được diễn ra trong một thời gian dài, việc thực thi quyền lực rời rạc là không đủ. Sự thiết lập của danh nghĩa lịch sử đòi hỏi việc thực thi, mà đến lượt nó lại cần một khoảng thời gian cụ thể không bị gián đoạn. Do danh nghĩa lịch sử mang tính nguyên tắc nên nhất thiết phải có một khoảng thời gian dài cho sự hình thành của nó.
Tuy nhiên, không có tiêu chuẩn chính xác cho độ dài của thời gian trong luật quốc tế. Li và Li đã đề cập đến một khoảng thời gian “nửa thế kỷ” mà qua đó đường chín đoạn dường như đã được thừa nhận trong cộng đồng quốc tế.[33] Nửa thế kỷ có vẻ là một khoảng thời gian dài hợp lý để một danh nghĩa có thể được hiểu như đã được hình thành, nếu không có quốc gia nào khác tranh chấp về yêu sách danh nghĩa này trong suốt thời gian đó. Thực vậy, tiêu chuẩn nửa thế kỷ được đề cập đến tại Điều 4 của Hiệp định Trọng tài giữa Anh – Guiana và Venezuela ngày 2/2/1897 làm một trong ba “Nguyên tắc có thể được áp dụng  trong vụ việc”:
(a)    Việc chiếm hữu trong khoảng thời gian 50 năm sẽ cấu thành một danh nghĩa. Tòa Trọng tài nhận thấy sự kiểm soát độc quyền về chính trị trên một khu vực, cũng như sự dàn xếp trên thực tế, là đủ để cấu thành sự chiếm giữ theo thời hiệu.[34]
Điều này có vẻ là quy định tập tục duy nhất đang tồn tại và 50 năm được coi là khoảng thời gian cần thiết để việc chiếm hữu một lãnh thổ đủ đem lại một danh nghĩa cho nó. Nhưng điều này cũng không hoàn toàn là một quy định. Nếu khoảng thời gian áp dụng cho lãnh thổ trên đất liền này được cho là có thể áp dụng muntatis mutadis (với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) cho các vùng biển nói chung, thì nó phải được đảm bảo bằng “sự kiểm soát độc quyền về chính trị” và “sự dàn xếp trên thực tế”. Điều này có nghĩa là quốc gia yêu sách phải có sự kiểm soát độc quyền về chính trị lên vùng biển và có kiểm soát trên thực tế loại trừ được các nước khác. Liệu Trung Quốc hay Đài Loan có thi hành việc kiểm soát độc quyền và không thể chối cãi đối với những vùng biển nói trên ở Biển Đông trong vòng nửa thế kỷ qua hay không? Nếu Đài Loan hay Trung Quốc không thể chứng minh sự kiểm soát độc quyền và hiệu quả của họ đối với các vùng biển yêu sách trong khoảng thời gian nói trên, hai nước này sẽ thất bại trong việc yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với vùng biển được khoanh vùng bởi đường 9 đoạn.
Thái độ của các nước khác
Lợi ích quốc gia và Luật quốc tế
Cơ chế nào để giải quyết tranh chấp?
Một vài điểm kết luận
Download phần còn lại của văn bản tại đây: Duong chu U co phu hop voi luat quoc te hay khong.pdf
———–
Lưu ý: Các chú thích đã được giản lược. Vui lòng xem bản gốc tiếng Anh để biết các chú thích đầy đủ – NBT.
[1]Jinming Li and Dexia Li, “The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note,” Ocean Development and International Law 34 (2003): 289.
[2] Như trên., at 290.
[3] Như trên
[4] Như trên, at  294, tác giả nói: Trên bản đồ Trung Quốc đưa ra sau khi nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời 1949, đường 11 đoạn ở biển Đông xuất hiện theo những bản đồ cũ. Không phải mãi đến 1953, sau khi có sự phê chuẩn của thủ tướng Chu Ân Lai, thì 2 điểm ở vịnh Bắc Bộ được xóa đi. Bản đồ Trung Quốc xuất bản năm 1953 đã thể hiện đường 9 đoạn tại biển Đông.
[5] Như trên, at 290
[6] Như trên, at 294
[7] Như trên, at 290, tác giả viết: Dựa trên tuyên bố đường 9 đoạn, cộng đồng quốc tế ko bao giờ thể hiện sự bất đồng. Không có một quốc gia gần kề nào thể hiện sự phản đối về mặt ngoại giao. Sự thể hiện im lặng đối với một tuyên bố công khai có thể được xem là sự mặc nhận và nó có thể được khẳng định rằng đường 9 đoạn này được công nhận trong nửa thế kỉ.
[8] Exclusive Economic Zone and Continental Shelf Act, 1998, available at the Web site of the UN Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea (DOALOS) at www.un.org/Depts/los/index.htm.  “Vietnam: Disputes Regarding the Law on the Exclusive Economic Zone and the Continental Shelf of the People’s Republic of China Which Was Passed on 26 June 1998,” para. 2, Law of the Sea Bulletin 38 (1998):55.
[9] Yan-Huei Song and Keyuan Zou, “Maritime Legislation of Mainland China and Taiwan: Developments, Comparison, Implications, and Potential Challenges for the United States,” Ocean Development and International Law 31 (2000): 318.
[10] Republic of China, “The South China Sea Policy Guidelines,” reproduced in Sun Kuan-Ming, “Policy of the Republic of China Towards the South China Sea,”Marine Policy 19 (1995): 408, as quoted by Song and Zou, supra note 9, at 328
[11] Song and Zou, supra note 9, at 328.
[12] Như trên.
[13] Như trên. 328.
[14] Như trên.
[15] Như trên.
[16] FrontierDispute,[1986]I.C.J.Reports,at582,para.54
[17] Kasikili/Sedudu Island Case, [1999] I.C.J. Reports, at 1098, para. 84.
[18] SovereigntyoverPulauLigitanandPulauSipadan,[2002]I.C.J.Reports,at667,para.88.
[19] Frontier Dispute, [2005] I.C.J. Reports, at 119–120, para. 44.
[20] Territorial and Maritime Disputes in the Caribbean Sea, [2007] I.C.J Reports, at 58, para.215.
[21] Gerald Blake, :The Depiction of International Boundaries on Topographic Maps”, Boundary and Security Bulletin 3, no.1 (1995): 46.
[22] Joint Submission of Malaysia and Vietnam to the Commission on the Limits of the Continental Shelf, Executive Summary, 6 May 2009, available at the Commission Web site at www.un.org/Depts/los/clcs new/clcs home.htm.
[23] Submission of Vietnam to the Commission on the Limits of the Continental Shelf, (Partial Submission), Executive Summary, 7 May 2009, available at the Commission Web site, supra note 22.
[24] People’s Republic of China, Letter to the Secretary-General, New York, 7 May 2009, CML/17/2009, para. 2.
[25] Republic of China (Taiwan) Ministry of Foreign Affairs, Declaration of the Republic of China on the Outer Limits of Its Continental Shelf, No. 003, 12 May 2009.
[26] Philippines, Letter, No. 11-0094, 000228, 5 April 2011, available at the Commission Web site, supra note 22.
[27] Hersch Lauterpacht, “Sovereignty over Submarine Areas,” British Year Book of Interna- tional Law 27 (1950): 397–398.
[28] Fisheries Case, [1951] I.C.J. Reports, at 132.
[29] “Juridical Regime of Historic Waters,” UN Doc. A/CN.4/143, in Yearbook of the Interna- tional Law Commission, vol. II (1962), 1–26. This is a critical study of the subject, rather than a memorandum of facts.
[30] Như trên., at 13, para. 80.
[31] Island of Palmas, 1928, 2 U.N. Reports of International Arbitral Awards, 869, 870.
[32] Juridical Regime of Historic Waters,” supra note 29, at 15, para. 100;  Masahiro Miyoshi, Considerations of Equityinthe Settlement of Territorial and Boundary Disputes (Dordrecht:MartinusNijhoff,1993),103–104.
[33] Li and Li, supra note 1, at 290.
[34] British-Guiana/Venezuela Arbitration Treaty, 2 February 1897, 89 British and Foreign State Papers 89(1897): 60.
Nhật có thực sự muốn sở hữu vũ khí hạt nhân?


Nguồn: Richard A. Bitzinger, “Does Japan really want to go nuclear?”, RSIS Commentary, 17/10/2017.
Biên dịch: Nguyễn Thị Hồng Thư| Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Đã từng có một loạt những bài viết suy đoán rằng nếu Nhật Bản trở thành một cường quốc sở hữu vũ khí hạt nhân thì đó có thể là một điều tốt cho an ninh khu vực. Học giả nổi tiếng Walter Russell Mead đã có một bài viết trên tờ Wall Street Journal nêu quan điểm rằng một “nước Mĩ rút khỏi Thái Bình Dương” – xuất phát từ sự dao động của chính quyền Trump với những cam kết suy yếu ở châu Á – có thể dẫn đến việc Nhật Bản kết luận rằng “sở hữu vũ khí hạt nhân” có lẽ là lựa chọn tốt nhất cho nước này. Gần đây hơn, trên tờ Washington Post Bilahari Kausikan viết rằng cả Nhật Bản và Hàn Quốc nên phát triển vũ khí hạt nhân, và điều đó chỉ còn là vấn đề thời gian, chứ không phải là có xảy ra hay không.
Thực vậy, cả Mead lẫn Bilahari đều tin rằng chính quyền Trump nên hoan nghênh ý tưởng về một châu Á hạt nhân hóa. Theo Bilahri, điều đó sẽ tạo ra một “sự đối trọng 6 hướng của tình trạng hủy diệt lẫn nhau chắc chắn”. Và quả thật, nếu Hoa Kỳ không còn đảm bảo an ninh cho Nhật Bản nữa, tức bảo vệ nước này bằng ô hạt nhân Hoa Kỳ, thì có lẽ Tokyo cần nghiêm túc cân nhắc trở thành quốc gia hạt nhân. Hơn nữa, nhìn chung phải thừa nhận rằng Nhật Bản có năng lực công nghệ để chế tạo bom nguyên tử trong một khoảng thời gian tương đối ngắn – có lẽ là vài tháng, nhiều nhất là vài năm. Tuy nhiên, câu hỏi thiết thực lại là: Nhật Bản có thực sự muốn trở thành quốc gia hạt nhân không?
Thách thức
Trước hết, Nhật Bản có thể sẽ nhận thấy trở thành một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân là một việc khó khăn hơn rất nhiều so với những gì nước này hay nhiều người nghĩ. Nó không đơn giản là chế tạo một quả bom nguyên tử. Phải, nếu Nhật Bản chế tạo và thử nghiệm bom hạt nhân, điều đó sẽ tạo ra tác động khắp châu Á và cả thế giới. Nhưng sẽ cần rất, rất nhiều thứ để Tokyo có thể tạo ra được một sự răn đe hạt nhân đáng tin cậy.
Trước hết, Nhật Bản sẽ cần thử nghiệm và kiểm tra lại năng lực hạt nhân của chính nước này. Phải, những siêu máy tính có thể mô phỏng vài đặc tính của một vụ nổ hạt nhân, nhưng cuối cùng rõ ràng Nhật Bản sẽ phải thực hiện nhiều thử nghiệm hạt nhân trong nhiều năm để tạo ra một lực lượng hạt nhân đáng tin cậy.
Nhưng nước này sẽ triển khai vũ khí này như thế nào đây? Trên máy bay ư? Nhật Bản không có một máy bay nào đủ khả năng chuyên chở bom hạt nhân, cũng không có máy bay ném bom hay máy bay cường kích chuyên dụng. Đúng là Lực lượng Phòng vệ Trên không của nước này sử dụng nhiều máy bay chiến đấu phản lực của Hoa Kỳ, đặc biệt là F-15, và quả thật loại máy bay này có thể được cải tiến để chuyên chở vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, điều đó cần có sự cho phép của Hoa Kỳ để mở “hộp đen” của F-15 – nơi chứa các cấu phần điện tử và mã nguồn – nhằm hạt nhân hóa những máy bay này. Và điều này khó mà được Hoa Kỳ cho phép.
Nhật Bản cũng có thể lắp đặt vũ khí hạt nhân trên tên lửa. Và như thế thì cần phải thu nhỏ vũ khí hạt nhân lại sao cho vừa với tên lửa và rồi cần phải cải tiến tên lửa. Nhật Bản có một nền công nghiệp phóng tàu vũ trụ phát triển, nhưng những tên lửa này lại không thể dùng cho lực lượng hạt nhân. Gần như sẽ phải chế tạo một loại tên lửa dùng nhiên liệu rắn chuyên dụng từ con số không.
Ở đâu?
Kể cả khi đáp ứng được các tiêu chí đó, thì Nhật Bản sẽ đặt những tên lửa này ở đâu, trong hầm chứa tên lửa (vốn sẽ dễ bị nguy hiểm trong các trận động đất) hay trên giàn phóng di động? Nhật Bản là một quốc gia nhỏ và đông dân, và vùng nào của Nhật sẽ muốn chấp nhận cho đặt những vũ khí này, nhất là khi nếu bị kẻ thù tấn công chúng sẽ biến địa điểm này thành đích ngắm đầu tiên? Có khả năng nhiều cộng đồng địa phương sẽ bắt chước Okinawa phản đối kịch liệt việc quân sự hóa địa phương của họ.
Nhật Bản có thể lắp đặt những tên lửa này lên tàu ngầm, và cần phải chế tạo một loại tên lửa phóng từ tàu ngầm chuyên dụng, được bọc kín phù hợp với việc phóng dưới nước. Nước này cũng sẽ phải phát triển một tàu ngầm mới hoàn toàn (tức loại SSBN) mà rất có thể phải dùng năng lượng nguyên tử. Điều đó cũng có nghĩa là cần phải vượt qua một chướng ngại công nghệ nữa (một lò phản ứng hạt nhân nhỏ và thật an toàn).
Và tất cả những thứ này sẽ không hề rẻ. Anh phải chi 15 tỉ bảng để chế tạo một hạm đội 4 tàu SSBN lớp Vanguard– và London đơn giản là chỉ mua tên lửa Trident II phóng từ tàu ngầm do Hoa Kỳ sản xuất (một việc mà có thể Washington sẽ không làm đối với Tokyo).
Các vấn đề khác
Cùng lúc đó, Nhật Bản sẽ phải xây dựng cả một cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho vũ khí hạt nhân. Những nhà kho chuyên dụng cực kì kiên cố sẽ phải được xây ở các căn cứ không quân và hải quân để bảo vệ vũ khí hạt nhân. Các kĩ sư hạt nhân sẽ phải được đào tạo để có đủ khả năng bảo trì và quản lí các quả bom và đầu đạn.
Hơn nữa, Nhật Bản sẽ phải sớm có một hệ thống cảnh báo sớm (vệ tinh và ra đa) để kịp thời phát hiện những đòn tấn công hạt nhân của kẻ thù, cũng như hệ thống chỉ huy và kiểm soát chuyên dụng và an ninh cao cho việc sử dụng lực lượng hạt nhân. Thêm nữa, những thiết bị an ninh, được gọi là thiết bị Kiểm soát cho phép hành động (PAL), sẽ phải được lắp đặt lên từng vũ khí nhằm ngăn chặn việc lắp đặt hay kích nổ thiết bị hạt nhân trái phép, các thiết bị PAL này sẽ phải được mã hóa hết sức an toàn để tránh bị bên ngoài xâm nhập.
Sau đó Tokyo sẽ phải đặt ra các quy trình cho việc phát nổ và sử dụng lực lượng hạt nhân. Hầu như chắc chắn thủ tướng sẽ kiểm soát va li hạt nhân chứa các mã kích hoạt, và vị thủ tướng đó sẽ là người có thẩm quyền cuối cùng trong việc kích hoạt vũ khí hạt nhân trên thực tế. Nhưng còn lực lượng hạt nhân phóng từ tàu ngầm thì sao? Ngay cả với cơ cấu kiểm soát hai người, thì về mặt lý thuyết những người chỉ huy tàu ngầm trên các SSBN cũng có sự tự chủ đáng kể trong việc cho phép phóng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân. Những chi tiết này sẽ cần phải được làm rõ.
Tự thân vận động
Quan trọng hơn cả, Nhật Bản sẽ cần phải tự mình giải quyết tất cả các vấn đề về mặt công nghệ và cơ sở hạt tầng. Chắc chắn Hoa Kỳ sẽ không giúp đỡ. Sẽ cần chi hàng nghìn tỉ yên để tạo ra được một lực lượng hạt nhân khả tín và mất nhiều thập niên để hoàn thành nó.
Trong lúc đó, liệu công luận Nhật Bản có ủng hộ một chương trình vũ khí hạt nhân khổng lồ và đắt đỏ không? Các nhà chính trị cực hữu của Nhật Bản sẽ yêu thích ý tưởng này. Những người theo chủ nghĩa dân tộc đã mong chờ cái ngày giành lại di sản đế quốc từ lâu, đó là sở hữu sức mạnh quân sự to lớn, bao gồm vũ khí hạt, nhằm có thể tự mình bảo vệ quốc gia.
Nhưng còn phần lớn người dân Nhật Bản thì sao, những người vẫn không chấp nhận ý tưởng Nhật Bản sở hữu vũ khí hạt nhân? Người dân Nhật đã khắc sâu niềm tin chống chủ nghĩa quân phiệt, chống chiến tranh và chống hạt nhân, những điều đã khắc sâu trong tâm trí  họ suốt 70 năm qua.
Những niềm tin này được ghi rõ trong Điều 9 của Hiến pháp Nhật Bản, trong đó ghi rằng Nhật Bản từ bỏ việc dùng chiến tranh làm công cụ giải quyết tranh chấp quốc tế. Vâng, điều khoản này đã liên tục được tái diễn dịch trong nhiều thập niên qua nhằm cho phép Nhật Bản tái vũ trang, đưa quân đội Nhật ra nước ngoài và tham gia an ninh tập thể với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Điều 9 vẫn được hiểu là cấm sở hữu các loại vũ khí tấn công, đặc biệt là lực lượng hạt nhân.
Hơn nữa, khi nói về vũ khí hạt nhân, Nhật Bản là nạn nhân đặc biệt, là quốc gia duy nhất từng bị bom nguyên tử tấn công. Đây là những điều thuộc về tình cảm vô cùng khó khăn cần phải vượt qua để có thể “sở hữu vũ khí hạt nhân”. Một Nhật Bản sở hữu vũ khí hạt nhân không phải là không thể hình dung được. Nhưng đây cũng không phải là chuyện có thể làm mà không tốn quá nhiều chi phí, nhanh chóng, hay không tạo ra một cơn bão chính trị lớn nào.
Richard A. Bitzinger là Nghiên cứu viên cao cấp và Điều phối viên Chương trình Biến đổi Quân sự tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS), Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore.

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây