vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


Luận văn về Đốt (tiếp theo) - Đỗ Hoàng

Giết hết bất cứ đàn ông, đàn bà, trẻ con có huyết thống Ba Lan hoặc nói tiếng Ba Lan; chỉ có thế chúng ta mới giành được không gian sinh tồn ta cần”, nhằm lập một đế chế Nazi ở Đông Âu, xây dựng tại đây một xã hội “tuyệt đối nông thôn hoá, thuần khiết về đặc tính sinh học, không cho phép tồn tại dân bản địa hạ đẳng.” Himmler nói: “Chúng ta phải bảo đảm chỉ người Đức thuần chủng mới được sống ở miền Đông.” Để đàn áp phong trào kháng chiến, chúng quy định: cứ 1 lính Đức bị giết thì chúng sẽ giết 50-100 người Ba Lan.
họ. Sự gặp lại người hầu của mình ngày xưa là Afnaxi gây xúc động lớn trong lòng cha Zôxima và cả nhiều thế hệ sau này. Chính cha Zôxima cũng nói lên cảm tưởng của mình lúc đó. Chính cha đã tự bạch: " Tôi gặp lại người lính hầu của tôi Afanaxi. Từ hồi chia tay với anh đến nay đã tám năm, tình cờ anh nhận ra tôi và chạy lại với tôi, và trời ơi! Anh ta mừng quá  và đâm bổ đến tôi: " Cha ơi! Đại nhân ơi! Đại nhân đấy ư? Có phải cha đấy không?". Chúng ta xúc động với cha Trưởng lão. Nếu không có phút cải hối, không có điều ăn năn, cam tâm làm điều thiện ngay khi mình đang còn làm điều ác trên cõi đời này, không có tấm lòng vị tha bao dung, không có tình thương độ lượng lớn lao, làm sao một kẻ tôi tớ của mình vốn đối kháng với mình từ trong máu thịt lại có thể thành tâm đến như là thánh thần ban bảo, tự nguyện, tự giác chạy lại với tấm lòng thanh sạch như nước cam lồ vậy. Phút giấy gặp gỡ ấy cảm động nhường bao, tri ân nhừng bao. Người sĩ quan, người từ quyền lực vinh hoa phú quý, đường binh nghiệp thăng quan tiến chức dễ dàng, tiền của như nước đã từ giã hết thảy và chấp nhận đồng năm mươi cô pếc , và một đồng ăn đường của người lính hầu của mình đã có hảo tâm rất mực. Cái gì có được ở tấm lòng chân thành của ngưười lính hầu cũ, người hầu cũ của cha Zô xi ma? Cái đó không ngoài tấm lòng nhân ái, đại từ bi, bác ái của Zôxima cái phút đầu tiên đến với Chúa! Chính việc đến với Chúa, con người mới có lòng thanh sạch, có tâm hồn quảng đại , có tình bằng hữu bao la. Phút giây cha Zôxima cảm động lúc ấy cũng là nguồn khơi gợi cảm hứng cho tấm lòng tốt của người tu hành và giúp cho họ có niềm tin làm việc nghĩa, việc thiện suốt đời mà không hề đắn đo cân nhắc hoặc là nuối tiếc. Cha Zôxima sung sướng nói: "Tôi nhận tiền anh ta, cúi chào hai vợ chồng và ra đi, lòng vui sướng. Trên đường đi, tôi nghĩ: -Trước kia tôi là chủ anh ta, anh ta là tôi tớ. Còn bây giờ giữa chúng tôi là sự hòa hợp vĩ đại của con người với nhau!".
  Lòng nhân ái của cha Zôxima cũng  như cái chân tiện mỹ ở phương Đông mà cổ nhân có nói: "Thi nhĩ Thành nhân, Thường thiên cứu nhân cố vô khí nhân. Thường thiên cứu vật cố vô khí vật, thi vị tập minh" . Nghĩa là: (Cho nên Thành nhân, thường khéo cứu người, nên không có người bị bỏ. Thường khéo cứu vật nên không có vật nào bị bỏ, ấy là sáng bằng hai) - (4) . Đi hành hương trong cõi đời ô trọc, cõi đời mà kẻ ác nhiều hơn người thiện; cõi đời đầy rẫy những hạng người như Ivan Fiôđôrôvits, Xmerđiakốp, Grusenka, Khôlơ lacôva..., những hạng người kém đức tin  và nhiều hạng người vô thần coi khinh Đấng Cứu thế. Cha Zôxima thấy tận mắt, hiểu thấu chân tơ, kẻ tóc nỗi đau trần thế, nỗi đau của những kẻ lầm lạc, không có đức tin. Cha Zôxima biết và nghĩ rằng: "Những kẻ không có đức tin thì không thể là người làm việc thiện được.Không làm được việc thiện thì làm sao có lòng nhân ái bình thường, chưa nói đến phải có lòng nhân ái minh triết. Không có đức tin, con người sẽ trở nên loài thú ! Cuộc sống trên hành tin này sẽ đẫm máu nhiều hơn nữa".  Chính cha Zôxima bằng việc làm của mình, bằng sự hy sinh vô tư, bằng sự tự cải tà quy chính của mình, cha Zôxima thuyết phục được con người kém đức tin hoặc không có đức tin. Hãy nuôi dưỡng lấy đức tin trong lòng mình. Nếu không thì cuộc sống của mỗi một con người sẽ thác loạn, mà cuộc sống của toàn cộng đồng cũng thác loạn,con người mất phương hướng. Đó cũng chính là một phần tâm linh sâu thẳm của Đôxtôiepxki giải bày cùng hậu thế. Đôxtôiepxki hướng về Chúa Cứu thế và tu viện. Ý thức bệnh hoạn và ý thức tội lỗi dẫn đến Đôxtôiepxki mong muốn một xã  hội minh trị có hai thứ là: " Tôn giáo và Nhà nước Quân chủ". Quay về với Đấng Christ. Đôxtôiepxki tìm được cái thiện, ông quan niệm có đức tin và có cái thiện thì có sức mạnh tạo ra toàn thế giới. Sức mạnh toàn trị ấy chỉ có ở Jesus. Hãy gửi đức tin vào Chúa. " Đức tin đến với chúng ta không còn ở dưới pháp luật nữa. Bởi chừng anh em hết thảy đều là con cái của Đức Chúa Trời do đức tin tìm đến Christ Jesus (5).
   Cha Zôxima là hiện thân cho một con người Ki tô giáo trong sáng có lý tưởng, có công khổ luyện, đức độ hy sinh. Nhiều ý kiến lập luận của các học giả cho rằng Đôxtôiepxki dành cho Zôxima là người thầy cuộc sống là không thành công thì rõ ràng là không thật chính xác và không hiểu hết Đôxtôiepxki. Chính nhân vật cha Zôxima là một phần hình mẫu Đôxtôiepxki lấy mình làm nguyên mẫu là nhân vật đạt ở độ thành công cao nhất , thành công một cách tuyệt hảo theo như ý nguyện của Đôxtôiepxki khi xây dựng nhân vật này. Những lời rao giảng của cha Zôxima không phải những lời nhạt nhẽo của một kẻ không từng trải, không từng khố đau, vinh nhục trong đời trần ai... Chính cha Zôxima là người phát ngôn cho tư tưởng, tình cảm, ý nguyện, hoài bão của Đôxtôiepxki ! 
  Lòng nhân ái của cha Zô xi ma như chúng ta đã phân tích là nó bắt nguồn từ trong cội rễ của cốt nhục. Nó được xây nên từ đời sống thực của hàng nghìn số phận đau khổ khác nhau. Nó có niềm tin, nó không dễ một sớm, một chiều tàn phai được. Việc làm đức, việc làm nhân ái của cha Zôxima ta thấy nó có khắp mọi nơi, khắp mọi người, không phân biệt cội nguồn, cộng đồng dân tộc. Lòng nhân ái, cái việc làm đức ấy ở ta cũng có nhiều vị chân tu thực hành. Không hẳn các vị chân tu xuất gia mà là những người tu tại gia cũng có ý thức khi làm việc thiện:
                "Người trồng cây hạnh người chơi
                 Ta trồng cây đức để đời về sau"   (6)
 Người Việt chúng ta quả là có ý thức trong tu nhân, tích đức. Việc làm của họ không mù quáng. Chính cha Zô xima cũng vậy. Cha làm việc thiện với một ý thức rõ ràng. Cha Zôxima muốn con người phải yêu cái thiện, không sợ cái ác, diệt trừ cái yếu. Muốn làm được điều ấy phải trở về với Chúa, phải làm việc nhân ái, để xóa cái ác và xây dựng một vương quốc của cái thiện. Muốn thành công thì  phải nhờ Chúa hỗ trợ.
  Bằng đời thực của mình đã trải qua trong cuộc đời mà đến với Chúa, cha Zôxima không đời nào mù quáng khi mình làm một việc gì cứu nhân độ thế . Việc cha làm không cầu danh, cầu lợi cho mình mà là một việc làm có ý nghĩa hẳn hoi. Một việc làm xuất phát từ tấm lòng nhân hậu có một không hai xây dựng nên. Chính người chúng sinh yêu mến của cha Zôxima, mặc dầu chưa trải qua trường đời nhưng biết tin theo Trưởng lão, biết Trưởng lão là con người chân tu kiệt xuất đã trả lời thẳng trước mặt anh mình là Ivan Fiôđônôvits là anh ta tin có Chúa. Mặc cho Fiôđônôvits bằng những lý luận vững chắc  của mình, bằng  dẫn chứng hùng hồn, từng cải lại cha Zô xi ma, bác bỏ tất cả mọi niềm tin có Chúa trên đời. Chứng tỏ trưởng lão Zô xi ma uy danh rất lớn. Uy danh và lý luận của Zô xi ma đủ để đánh bại tư tươngr vô thần của  Ivan Fiôđônôvits.
  Không những đánh đổ những thế lực vô thần khác, mà ngay trong những người tu hành đạt đến bậc chân tu như Fêrapôn  vẫn  không thể lấn át uy danh đức độ với cha Zôxima. Ở cha Zôxima, cho ta thấy tư tưởng nhân đạo phương Tây và phương Đông đều gặp nhau tại một điểm. Đó là lòng nhân ái bao dung, tình thương quảng đại, yêu mến hết thảy mọi con người sinh ra trên cõi thế này.
  Cùng thơi điểm này ở phương Đông cụ thể là ở Việt Nam ta, nhà danh y nổi tiếng của dân tộc Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nói:
           "Đứa ăn mày cũng trời sinh
            Bệnh còn cứu đặng, thuốc dành cho không"
   Về lòng nhân ái (Y đức) Hải Thượng Lãn Ông  thường nói: “Thầy thuốc nắm tính mạng của người bệnh, người ta gửi tính mạng cho mình, phải hết sức cẩn trọng, phải nghiên cứu sách vở kỹ càng, khi chữa bệnh phải cẩn thận, phải nhận rõ được bệnh chứng rồi mới lập phương, tuyệt đối không được sơ suất, xem thường. Nghề thuốc không phải là nghề cầu danh trục lợi, không phải thấy người giàu sang mà xu phụ để kiếm tiền, thấy người nghèo khổ, cô đơn mà khinh miệt. Người giàu sang không thiếu gì thầy, thiếu gì thuốc”.  (7). Khi chữa bệnh cho người nghèo khổ, chữa được bệnh rồi, cụ còn giúp tiền để bồi bổ. Cụ thường nói: “Làm nghề thầy thuốc không nên vụ lợi. Không nên cầu báo ơn. Không nên khinh người nghèo. Đối với đồng nghiệp phải khiêm nhường. Phải học tập những người hơn mình. Giúp đỡ người kém mình. Không được khinh rẻ lẫn nhau” (8). Đây là yếu tố nhân cách của người làm thuốc và đạo lý làm thầy của cụ. Cụ đã viết ra 9 điều Y huấn cách ngôn để dạy các thế hệ thầy thuốc đời sau mà ngày nay, Bộ Y tế đã lấy làm y đức cho các thầy thuốc đông y". 
  Phật dạy: Yêu thương phải từ bi, hỷ, xả -
Đó là lòng nhân ái, yêu thương hết thảy mọi chúng sinh, giúp nhau qua hoạn nạn, cùng chung khi có niềm vui, bỏ qua mọi thù hận không đáng có, cùng nhau tiến đến đại đồng.
 Lòng nhân ái ở đạo Giáo, đạo Phật đều cùng gặp nhau tại một điểm. Cũng như cha Frôlô (Nhà thơ Đức Bà Paris) , cha Zôxima là người thông suốt giáo lý Kitô giáo, người hiểu được cội nguồn chân dung thiện mỹ của Đạo. Sự tu hành, việc ham đọc sách, lòng ham học, ham hiểu biết cõi dương thế giúp cho các nhà tu hành hiểu biết rộng rãi  ở nhiều phương diện tri thức. Cha Ralphơ (t rong tiểu thuyết  - Những con chim ẩn mình chờ chết) cũng vậy.  Cha là một trí thức lớn. Nhưng cuối cùng cha Frôlô, cha Ralphơ đều bị lột mặt nạ, họ đều là một mớ bòng bong không có một ý nghĩa nào thuyết phục con người trên đời. Còn lại chỉ có cha Zôxima. Cha Zôxima thể hiện một tấm thịnh tình nhân ái bao la. Nói theo ngôn ngữ hiện đại là lòng nhân áu có mắt, hay là lòng nhân ái hiển minh, xuất phát từ một tri thức rộng lớn minh triết! Lòng nhân ái có từ trái tim yêu nhân loại của mình.
     Như đã phân tích phần trước, cuộc đời trai trẻ của cha Zôxima là một phần đời trai trẻ của Đôxtôiepxki. Quảng đời quân ngũ của cha là quảng đời quân ngũ của Đôxtôiepxki. Phần đời binh nghiệp ấy đã cho Đôxtôiepxki thấy được rõ cái thiện, cái ác trên đời này... Trong những ngày hoạt động ở nhóm chống đối, Đôxtôiepxki càng thấy rõ hơn cái ác tồn tại ở thế gian. Chính nhờ vốn sống trong phần đời thực này mà Đôx tôiepxki hiểu thêm nhân thế.Trên cõi đời này, cái thiện và cái ác đều song song tồn tại. Nó cùng đi đến cõi bất tử. Không có cái này tiêu diệt được cái kia. Đấy là một sự thật.  Nhưng chúng ta cũng biết rằng bao giờ cái thiện cũng nhiều hơn cái ác và chiến thắng cái ác. Đó là cách nhìn biện chứng. Cách nhìn đúng. Tất nhiên trong cuộc đời, thì lúc này, lúc khác, chỗ này, chỗ khác ,có lúc cái ác thắng cái thiện, cái thiện thua cái ác. Vấn đề là con người hay các bậc minh triết biết huy động con người trở về cái thiện để cho cái thiện thắng thế.. Chính lúc này vai trò của các tôn giáo chân chính có một vị trí lớn lao trong việc tập hợp loài người đi theo cái thiện.
  Cha Zôxima hiểu rõ điều này. Bằng lý lẽ của mình, bằng cái nhìn thấu thị, cha biết rằng: "Kẻ nào không tin Chúa thì cũng không tin con dân của Chúa. Người nào tin con dân của Chúa thì cũng sẽ thấy Thánh diện của Chúa. Chỉ có nhân dân và sức mạnh tinh thần sau này của nhân dân mới làm cho kẻ vô thần đã mất gốc trở lại đạo... Không có Chúa thì dân chúng diệt vong.  Bởi vì nhân dân khao khát lời của Chúa".
  Việc đi tìm cái thiện của cha Zôxima thật đúng với việc đi tìm cái thiện của những bậc tu hành phương Đông. Muốn trị được cái ác, không gì hơn phải trở về với cái thiện. Vương Duy là bậc thi Phật đời Đường ở Trung Quốc đã từng nói:
     "An thiền chế độc long" (9)
 Nghĩa là : " Muốn trị được con rồng dữ phải trở về đạo Phật và thấu hiểu nó". Ta hiểu con rồng dữ ở đây là cái ác. Chế ngự được cái ác thì thế giới muôn loài yên bình.
  Theo Tạng thư:
    "Phật thứ nhất: Xích Ái Phật Phật thứ nhất tên là Xích Ái Phật, giáng sinh tại phương Nam, vị này là linh minh nhất trong chúng sanh, giáo hóa người đời, khai phát núi đảo, thời ấy là thời kỳ hồng hoang, nhân hợp với Thiên, vô tri vô thức, tính bổn chí thiện, người và thú ở chung, người thú không phân ra, nhưng không xâm phạm nhau, không giết chóc lẫn nhau, hòa bình sống chung, không giành ăn với nhau. Trong Kinh Thánh “Cựu Ước” trang thứ nhất có ghi: “Thần nói: Xem đấy! Ta đã đem rau cải, hạt giống đủ loại khắp nơi và trái trên cây đủ loại mang theo hạt giống, ban cho các ngươi làm thực phẩm, còn con thú đi trên mặt đất, con chim bay trên không trung, cùng các loài vật có mạng sống bò trên mặt đất, Ta đem cỏ xanh ban cho chúng làm thức ăn, việc như vậy là hoàn thành, cho nên người và thú đều có miếng ăn của mình, không xâm phạm lẫn nhau”.
     Trong “Tam Tự Kinh” có nói: “Đạo, lương, túc, mạch, thử, tắc, thử lục cốc nhân sở thực. Mã, ngưu, dương, kê, khuyển, thỉ, thực lục súc nhân sở tự”, con chó giữ nhà trông đêm, con gà báo thức sáng sớm, mọi thứ đều có cái cho sử dụng, thật là thế giới an hòa lạc lợi ". 
      Hai luồng tư tưởng của cái thiện ở hai phương Đông, Tây lại cùng gặp nhau ở một điểm.
    Lòng nhân ái của cha Zô \xima là lòng nhân ái được Chúa ban cho. Không phải ai cũng có vinh hạnh này. Cha Zôxima đã có Kinh Thánh trong đời của mình. Lòng nhân ái của cha cũng bắt đầu từ tấm lòng vị tha có cội nguồn từ thuở còn thơ. Chính người có tuổi thơ là người giàu lòng nhân ái hơn ai cả. Bởi vì nhờ những điều này  mà khi trở thành vị chân tu, cha Zôxima mới thấu triệt thêm chân lý :" Không thể nói về đức hạnh được khi chính chúng ta đi làm đổ máu người". Cha coi tội làm đổ máu người là tội lớn nhất trên tất cả các tội có ở trần thế. Không có cái sám hối nào lớn hơn cái sám hối làm đổ máu người. Cái sám hối ấy nghìn năm đè nặng lên trái tim người hối lỗi. Không ai có thể chia sẻ số phận ấy. Cha mẹ cũng không, anh em bầu bạn cũng không, chồng vợ cũng không. Cuối cùng chỉ có bản thân mình, chính mình biết hối cải , biết tự mình tỉnh ngộ chuộc lại lỗi lầm. Chỉ có điều đó mới tìm về được cái thiện, chính điều đó mới mong xóa dần đi cái ác.
  Những bậc chân tu vỹ đại ngày trước, những vị thánh ngày trước đã làm được điều này. Đó là những tấm gương cho đời sau noi theo.
   Phao lô là một vị Thánh thứ nhất , thứ hai trong các hàng vị Thánh sau Đức Chúa Jesus cũng đã đi từ con đường lầm lạc trở về con đường lương thiện.Trước mắt vua Ápripba, Phao lô nói: "Chính tôi từng thầm nghĩ làm nhiều điều để chống nghịch danh Chúa Người Xanaret. Tôi cũng đã làm như vậy trại Gieusalem, đã nhân quyền bính của các thầy tế lễ và bỏ tù nhiều thánh đồ và lúc họ bị giết, tôi cũng bỏ thăm ưng thuận."
Nhưng Phao lô đã gặp Chúa. Chúa đã xưng danh: "Ta là Jesus mà ngươi bắt bớ đây, song hãy đứng lên. Ta sẽ giải cứu người khỏi dân. để hướng về Đức Chúa Trời hầu cho họ nhận được sự tha tội được nên Thánh bởi có đức tin với ta."(10)
  Tìm về cái thiện, tìm về Chúa, được Chúa cảm hóa, được cái thiện dẫn dắt, Phao lô đã đi đến con đường chân tu và cuối cùng đắc đạo.
  Thánh Miguel de Manata cũng vậy. Từ một kẻ Don Juande trác táng làm thui hại bao nhiều đời con gái vô tội, Miguel de Manata đã sám hối ,  từ bỏ tất cả để trở về cái thiện . Công đức hổi lỗi ấy đã được hậu thế soi xét. Hai trăm năm sau khi chết, Miguel de Manata được hiển Thánh.
   Cha Zôxima đi theo các vị thánh này, noi gương họ và như đã phân tích là cha cũng đắc đạo.
  Cha Zôxima khi ném khẩu súng của mình, không muốn làm đổ máu đồng loại, bằng cái cảm quan thấu thị. Cha biết "dùng súng để đẻ ra chính quyền" (11) là tự sát mình và tự sát nhân loại. Kẻ nhân danh tự do sẽ giết chết tự do! Cái nhu cầu thỏa mãn bản thân của họ nảy sinh trong lòng họ nhiều ham muốn, nhiều thói quen vô nghĩa và ngu xuẩn, lắm giả tưởng vô lý. Người ta sống đố kỵ và hiềm khích lẫn nhau. Ngựa xe, chức tước, kẻ hầu người hạ, danh dự lòng tham giết chết con người ham quyền lực. Rồi thay cho rượu, họ uống máu người. Những kẻ đấu tranh cho nhân loại, giành lấy tự do ấy lại rơi vào vòng nô lệ của những thói quan, ham mốn. Ý tưởng thống nhất toàn nhân loại của kẻ ác, ý tưởng phục vụ nhân loại của họ ngày càng lụi tắt trên thế gian. Cuối cùng tất cả lý tưởng giả vờ phục vụ nhân loại ấy chi đi phục vụ cho một nhúm ngưới sống biệt lập với cộng động.
   Cha Zôxima hiểu con đương tu hành của minh   khi mình tự chọn là con đường dẫn đến tự do thật sự, dẫn đến cái thiện. Có như thế mới có lòng nhân ái. Lòng nhân ái phải sinh ra ở trái tim giàu lòng nhân hậu và ở bộ óc trác việt của bậc chân tu hay người làm việc thiện. Cha Zôxima biết rằng ngay từ thời cổ xưa, những nhà hoạt động của nhân dân cũng từ những bậc tu hành mà ra. Hiện tại cũng thế mà sau này cũng thế. Cha Zôxima khi trở về cái thiện , cha hiểu công việc của mình, công việc chân chính của vị chân tu Nga. Những người ăn chay và những người khiêm nhường và hiền lành ấy sẽ đứng ra phục vụ sự nghiệp vỹ đại. Nhân dân sẽ cứu nước Nga. Từ muôn đời tu viện Nga đi với nhân dân. Cha Zôxima bằng khả năng thấu thị của mình hay chính Đôxtôiepxki bằng thiên tài trực báo cảnh tỉnh cho nhân loại biết nguy cơ của kẻ làm điều ác. Cha Zôxima thấy được ở nước Nga của Cha: "Những nhà hoạt động không tính ngưỡng, không làm nên trò trống gì cho dù người đó có tấm lòng chân thành và trí tuệ thiên tài. Hãy nhớ lấy điều đó. Nhân dân sẽ đương đầu với người vô thần và quật đổ kẻ đó. Nước Nga chính giáo thống nhất sẽ xuất hiện. Hãy bảo vệ nhân dân và chăm sóc trái tim nhân dân bằng ân nghĩa. Hãy vì nhân dân mang Chúa trong mình."
  Đôxtôiepxki quả có cái nhìn thấu thị.  Bằng giác vô thức, ông biết đến cái đổ vỡ tất yếu của những kẻ vô thần (hay đúng hơn những kẻ làm điều ác). Sau một trăm năm thời gian đã là người thầy công minh kiểm nghiệm cái nhìn thiên tài của Đôxtôiepxki. Đúng là Đôxtôiepxki là một thiên tài - thiên tài nhân ái. Ông đã cảm nhận trước tất cả nhân loại. Thế kỷ sau thế kỷ 19, thế kỷ XX, cái ác thắng thế hoành hành lấn át cái thiện. Điển hình là chủ nghĩa Phát xít và chủ nghĩa Cộng sản.
   Cái ác của Chủ nghĩa Phát xít là : Chủ nghĩa phát xít là một hệ tư tưởng chính trị và phong trào số đông mà muốn đặt quốc gia trong những thuật ngữ về lịch sử, văn hóa, sinh học độc nhất, trên tất cả là các động lực của lòng trung thành, và muốn tạo nên 1 cộng đồng quốc gia được huy động..[1] Rất nhiều đặc điểm được quy cho chủ nghĩa phát xít bởi nhiều học giả khác nhau, nhưng những yếu tố sau thường được xem như cấu thành: chủ nghĩa dân tộc hẹp hòichủ nghĩa tư bảnchủ nghĩa độc tài quân sựchủ nghĩa quân phiệtchủ nghĩa chống cộngchủ nghĩa hợp tácchủ nghĩa toàn trịchủ nghĩa chuyên chế[2], chống lại chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cộng sản. Có rất nhiều tranh cãi giữa các học giả về bản chất của chủ nghĩa phát xít và những loại phong trào chính trị và những chính phủ mà có thể bị gọi là phát xít. Trên thực tế chủ nghĩa phát xít ở Ý, nơi khởi đầu của nó, khác với ở Đức, hay "chủ nghĩa phát xít" ở Nhật, ở Tây Ban Nha, và một số nơi khác, và cũng như các phong trào phát xít mới phát triển ở châu Âu hiện nay, xem xét các khía cạnh kinh tế, thủ thuật giành chính quyền, cương lĩnh, tư tưởng, mô hình nhà nước,... nhưng có điểm chung là gắn với tinh thần dân tộc.

Ngoài các đặc điểm chung của chủ nghĩa phát xít như độc tài, chuyên chế, phản dân chủ, xâm lược, dã man tàn bạo, phát xít Đức có một điểm độc đáo là tàn sát nhằm tiêu diệt những người chúng cho là “hạ đẳng” dù họ không phải là đối tượng chiến tranh. Hành vi nói trên xuất phát từ quan điểm chủng tộc bệnh hoạn cực đoan ích kỷ của Hitler: coi chủng tộc German là thượng đẳng (chúng tự lấy tên là người Aryan), các dân tộc Do Thái, Gypsy, Slavơ là hạ đẳng, cần giết hết để lấy không gian cho chúng sinh tồn. Phát xít Nhật cũng có quan điểm cho dân tộc Nhật là dòng dõi thần thánh, cần thống trị toàn châu Á để xây dựng “Đại Đông Á” ngang ngửa với Âu, Mỹ; nhưng chưa tới mức bệnh hoạn như Hitler.
Năm 1933, Hitler chỉ thị phải thủ tiêu những người bẩm sinh tàn tật hoặc đần độn (không phải Do Thái). Khoảng 5000 trẻ em loại này đã bị tiêm thuốc độc chết. Năm 1939, hắn lập 6 “Trung tâm T-4”, dùng khí CO (carbon monoxide) giết mỗi đợt 20-30 người thiểu năng trí tuệ hoặc tâm thần, rồi đốt xác phi tang. Gia đình họ nhận được bình tro hài cốt và thư chia buồn nói chết là do viêm phổi, phải đốt xác để tránh truyền nhiễm. Về sau, do bị lộ, các đại diện tôn giáo lên tiếng phản đối. Hitler phải ngừng việc này (8/1941) khi hơn 70 nghìn nạn nhân đã chết, nhưng vẫn thủ tiêu tiếp vài nghìn tù chính trị, tù hình sự và người Do Thái theo cách cố ý kết luận họ bị tâm thần.
Người Do Thái di cư đến Đức từ thế kỷ I; đầu thế kỷ XX họ có hơn nửa triệu người ở Đức, chiếm 1% số dân. Thủa xưa, tín đồ đạo Ki Tô ở châu Âu ghét người Do Thái vì cho rằng họ gây ra cái chết của Jesus. Cuối thế kỷ XIX, xuất hiện một “lý thuyết sinh học” nhận định Do Thái là một chủng người khác thường, có bản tính độc ác di truyền. Nước Nga Sa Hoàng giết hại hàng nghìn người Do Thái với lý do ấy. Nhiều người Do Thái chạy sang Đức, nơi họ coi là quốc gia văn minh nhất. Nhưng họ đã nhầm, vì sau này nơi đây xuất hiện Hitler.
Hitler cho người Do Thái là loại quái vật bí hiểm quỷ quyệt, chuyên đứng sau giật dây, gây ra tất cả các tội ác, từ chủ nghĩa tư bản cho đến nạn mại dâm. Hắn dùng luật pháp định tội họ và đánh họ về kinh tế. Từ năm 1931, các đội Xung kích Nazi đã đập phá khu người Do Thái và các ngôi mộ của họ, cũng như ngăn người Đức tới mua hàng ở các cửa hiệu Do Thái. Năm 1933, Hitler ký các đạo luật cấm người Do Thái làm công việc văn thư, luật pháp, y tế, nông nghiệp, âm nhạc, kịch nói, điện ảnh, cấm phục vụ trong quân đội v.v.. Giai đoạn 1933-1939 đã ban hành hơn 400 đạo luật chống Do Thái. Năm 1935, Quốc Hội thông qua Luật Chủng tộc Nuremberg, hoàn toàn loại trừ người Do Thái ra khỏi đời sống xã hội. Năm 1937, Goering thực thi “Aryan hoá nền kinh tế”, nghĩa là tịch thu các xí nghiệp của người Do Thái. Khoảng 80% các xí nghiệp này đã chuyển vào tay người Đức.
Từ 1934, Đức bắt đầu xua đuổi người Do Thái. Hàng năm có 8000 người Do Thái bị đưa đến Palestine thuộc Anh – nơi được Anh hứa lập riêng một nhà nước Do Thái. Về sau các nước khác không nhận nữa, vì họ cũng bài Do Thái và vì đã nhận quá nhiều; như Ba Lan chỉ trong 20 năm đã có 400 nghìn người Do Thái đến. Mỹ, Anh, Pháp có truyền thống nhận người tỵ nạn, nay cũng hạn chế nhận. Việc xua đuổi giết hại người Do Thái chỉ chậm lại trong thời gian Đức tổ chức Thế vận hội Olympic 1936; sau đó lại đẩy mạnh. Trong “Đêm Kinh hoàng” 9/11/1938, các đội Xung kích đánh giết, cướp bóc, đập phá, đốt cháy nhiều cửa hiệu, đền thờ, nhà ở của người Do Thái ở Munich. Đầu năm 1939, Hitler tuyên bố: “Chủng tộc Do Thái ở châu Âu sẽ bị huỷ diệt.” Lực lượng SS bắt người Do Thái đưa về trại tập trung Dachau gần Munich để giết dần họ. Sau khi chiếm Ba Lan, nơi có 3,3 triệu người Do Thái, phát xít Đức bắt đầu tăng tốc độ tàn sát. Để giấu dân Đức biết việc này, từ cuối 1939, phát xít Đức chở người Do Thái và người Gypsy (ở Việt Nam quen gọi là người Di-gan, một chủng tộc gốc Indo-Aryan, năm 1979 được Liên Hợp Quốc công nhận là một dân tộc) ở châu Âu vào các trại tập trung ở Ba Lan.
Cuộc tấn công vào Liên Xô – nơi có 5 triệu người Do Thái – đánh dấu bước ngoặt trong chính sách chống Do Thái. Hitler huấn thị cho các chỉ huy quân đội: Do Thái và Bôn-sê-vich, giới trí thức và Hồng quân Nga đều là kẻ địch phải tiêu diệt. Lực lượng SS trở thành đội quân hành quyết chuyên nghiệp. Khi tiến vào Liên Xô, chúng cứ thấy người Do Thái là bắn ngay. Tại 3 nước vùng Ban-tích, chúng phối hợp với cảnh sát địa phương (vốn ghét Do Thái) làm việc này. Trong 5 tuần đầu vào đất Liên Xô, số người Do Thái bị chúng giết nhiều hơn tổng số đã giết từ trước đến lúc đó. Ngày 1/8/1941, Heydrich báo cáo Himmler: “Có thể tin chắc là trên mảnh đất miền Đông này sẽ không còn người Do Thái nữa.” Sau đó Himmler đến tận Minsk để xem “biểu diễn” cảnh hành quyết: hàng trăm người Do Thái nằm úp mặt dưới rãnh đào, lính SS bắn vào từng người. Himmler sợ tái mặt suýt ngã, thế nhưng sau đó hắn huấn thị: mọi người cần thi hành chức trách luật pháp của mình; để tự bảo vệ, loài người cần xác định kẻ nào là có hại, và đã có hại thì phải tiêu diệt sạch. Khi chiếm Kiev (9/1941), lính SS gọi toàn bộ người Do Thái tập trung vào nghĩa trang rồi xả súng bắn; trong 2 ngày, chúng giết chết 33.771 người. Về sau, Himmler ra lệnh phải tìm cách giết sao để “đỡ hành hạ họ về tinh thần”. “Sáng kiến” đầu tiên là dùng các xe tải bọc kín, mỗi xe chứa khoảng 50 người rồi bơm khí CO vào cho họ chết ngạt.       Đầu 1942, khi đã giết hơn 1 triệu người “hạ đẳng”, Goering ra lệnh tăng tốc độ giết họ với mục đích diệt chủng. Chúng xây dựng ở Đông Âu 3 trung tâm giết người là các trại tập trung Belzec, Treblinka, Sobibor. “Dây chuyền công nghệ” mới là: dùng xe lửa chở người đến trại, lột hết quần áo, đưa vào phòng kín mỗi phòng 400 người rồi bơm khí CO vào, xác đem đốt hoặc chôn. Trung bình nạn nhân đến trại không quá 3 giờ là bị giết! Hàng ngày có 100 toa xe lửa chở người đến, mỗi ngày 3 trại này “sản xuất” được 25 nghìn xác chết! Tổng giá trị số tiền cướp từ nạn nhân lên tới 70 triệu USD. Tóc của họ được chở về Đức để chế tạo loại vải đặc biệt. Ba trại tập trung trên về sau bị Đức san bằng để phi tang tội ác; xác chết được đào lên rồi đốt. Tiếp đó, chúng xây dựng trại tập trung Auschwitz I, II và III, vừa là trại lao động vừa là các nhà máy giết người. Tháng 3/1944, Đức chiếm Hungary; lúc này Liên Xô đang đánh đuổi quân Đức ở Đông Âu, nhưng chúng vẫn kịp chở 280 nghìn người Do Thái ở Hungary đến Auschwitz. Khi quân đội Liên Xô giải phóng trại này (27/1/1945), chỉ còn 2800 người sống sót, trong kho còn hơn 836 nghìn áo khoác và váy phụ nữ, 370 nghìn áo khoác nam và 7 tấn tóc của người đã chết.  
     Hitler cũng tàn sát hàng loạt người Gypsy – buộc tội họ phá hoại huyết thống người German. Chủ nhiệm “Viện nghiên cứu Vệ sinh chủng tộc và sinh vật học quần thể” là bác sĩ Robert Rits được giao nhiệm vụ nghiên cứu tìm “chứng cớ khoa học”. Tất cả người Gypsy đều phải đăng ký với chính quyền, rồi được phân loại theo mức độ lai với người Đức. Cuối cùng Rits kết luận: người Gypsy có dòng máu người nguyên thuỷ, làm thành một giai cấp “á vô sản” tự khép kín, có khuynh hướng phạm tội, nên đưa vào các trại tập trung để lao động, hoặc tốt nhất thủ tiêu họ. Khoảng 250-500 nghìn người Gypsy đã chết trong các trại tập trung.
Tháng 8/1939, trước khi xâm lược Ba Lan, Hitler ra lệnh cho quân đội Đức: “Giết hết bất cứ đàn ông, đàn bà, trẻ con có huyết thống Ba Lan hoặc nói tiếng Ba Lan; chỉ có thế chúng ta mới giành được không gian sinh tồn ta cần”, nhằm lập một đế chế Nazi ở Đông Âu, xây dựng tại đây một xã hội “tuyệt đối nông thôn hoá, thuần khiết về đặc tính sinh học, không cho phép tồn tại dân bản địa hạ đẳng.” Himmler nói: “Chúng ta phải bảo đảm chỉ người Đức thuần chủng mới được sống ở miền Đông.” Để đàn áp phong trào kháng chiến, chúng quy định: cứ 1 lính Đức bị giết thì chúng sẽ giết 50-100 người Ba Lan.
Lực lượng SS thành lập “Uỷ ban Tăng cường Đức hoá” (RKFDV) để quy hoạch đất đai Đông Âu, thủ tiêu người Slavơ ở đó và bố trí người Đức đến ở. Quân Đức đến đâu cũng ra lệnh cho mọi người dọn nhà sạch
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây