vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


Lận văn về Đốt (**) - Đỗ Hoàng

Stalin nói rõ nguyên lý cơ bản về ý thức hệ của ông: “Chúng ta có thể phát triển nông nghiệp theo kiểu kulak, kiểu nông trại cá nhân, bên cạnh trang trại quy mô lớn” giống như ở “Mỹ và các nước khác” hay không? Ông hỏi. “Không, chúng ta không thể. Chúng ta là đất nước Xô-viết. Chúng ta muốn xây dựng một nền kinh tế tập thể, không chỉ trong công nghiệp mà cả trong nông nghiệp”.
Và ông đã không bao giờ thoái lui, ngay cả khi, do hậu quả các chính sách của ông mà đất nước Nga rơi vào một nạn đói nữa vào các năm 1931-1933. Tập thể hóa cưỡng bức trong mấy năm ngắn ngủi đó đã cướp đi sinh mạng của khoảng từ 5 đến 7 triệu người.
Stalin nói rõ nguyên lý cơ bản về ý thức hệ của ông: “Chúng ta có thể phát triển nông nghiệp theo kiểu kulak, kiểu nông trại cá nhân, bên cạnh trang trại quy mô lớn” giống như ở “Mỹ và các nước khác” hay không? Ông hỏi. “Không, chúng ta không thể. Chúng ta là đất nước Xô-viết. Chúng ta muốn xây dựng một nền kinh tế tập thể, không chỉ trong công nghiệp mà cả trong nông nghiệp”.
Và ông đã không bao giờ thoái lui, ngay cả khi, do hậu quả các chính sách của ông mà đất nước Nga rơi vào một nạn đói nữa vào các năm 1931-1933. Tập thể hóa cưỡng bức trong mấy năm ngắn ngủi đó đã cướp đi sinh mạng của khoảng từ 5 đến 7 triệu người.
Tiền lệ khủng khiếp của Liên Xô đã không ngăn cản được các nhà cách mạng cộng sản khác. Mao Trạch Đông, một người cứng rắn như Stalin, đã vươn lên vị trí cao nhất của phong trào cộng sản Trung Hoa và vào năm 1949, ông và các đồng chí của ông trở thành người chiến thắng trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc. Mao đã thấy cái giá nhân mạng khổng lồ trong cuộc thử nghiệm của Liên Xô như là yếu tố nội tại của thành công!
Chính sách Đại Nhảy Vọt của Mao, một chiến dịch bạo lực diễn ra từ 1958 tới 1962, là nỗ lực tập thể hóa khoảng 700 triệu nông dân Trung Quốc và mở rộng công nghiệp về nông thôn. “Ba năm lao động cần cù và chịu đựng [để có] ngàn năm thịnh vượng”, là một trong những câu khẩu hiệu nổi bật thời đó.
Các báo cáo sai lệch về những vụ thu hoạch thắng lợi và nông dân sung sướng vui vẻ tràn ngập các khu nhà ở được cung cấp đầy đủ của giới tinh hoa cộng sản cầm quyền ở Bắc Kinh. Nhưng trong thực tế, chương trình của Mao đã dẫn tới một trong những nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử, làm chết đói khoảng từ 16 đến 32 triệu người. Sau thảm họa, mà những người sống sót nói tới như là “làn gió cộng sản”, Mao dập tắt hết những lời kêu gọi ngừng tập thể hóa nông nghiệp. Như ông từng tuyên bố: “nông dân muốn tự do nhưng chúng ta muốn chủ nghĩa xã hội”.
Những mất mát khủng khiếp này vẫn không ngăn chặn được sự lặp lại tính tàn bạo cộng sản nhân danh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản. Sau khi chinh phục được Campuchia vào năm 1975, Pol Pot và phe Khmer Đỏ của ông ta đã đuổi hàng triệu người ra khỏi các thành phố, đẩy họ về nông thôn làm việctrong các công xã và các dự án cưỡng bức lao động. Họ tìm cách biến Campuchia thành một xã hội thuần nông không có giai cấp.
Khmer Đỏ bãi bỏ đồng tiền, cấm đánh bắt cá để kinh doanh, hành quyết các tu sĩ Phật giáo, Hồi giáo; các cộng đồng thiểu số gốc Việt và gốc Hoa của đất nước bị coi là “kẻ xâm nhập”. Chế độ của Pol Pot cũng tập trung trẻ em để ngăn ngừa việc chúng bị lây nhiễm ý thức hệ từ cha mẹ “tư bản” của chúng.
Được biết đã có khoảng 2 triệu người Campuchia, tương đương một phần tư dân số vào thời ấy, đã chết vì đói rét, bệnh tật, bị hành quyết hàng loạt trong bốn năm ác mộng dưới ách cai trị của Pol Pot. Ở một số khu vực, ao chuôm nào đào lên cũng thấy sọ người.
Phân tích về giai cấp của Marx bác bỏ tính chính danh của mọi phong trào chính trị đối lập, không chỉ từ các phần tử “tư sản” mà từ ngay bên trong các phong trào cộng sản – bởi vì những người đối lập phục vụ “một cách khách quan” cho lợi ích của trật tự tư bản quốc tế. Cái lô-gic về cách mạng không ngừng nghỉ chống chủ nghĩa tư bản sẽ chỉ tới một lãnh tụ duy nhất trên đỉnh một hệ thống độc đảng.
Từ Nga tới Trung Quốc, từ Bắc Hàn tới Cuba, các nhà độc tài cộng sản đều chia sẻ những đặc điểm chung chủ yếu. Tất cả đều ít nhiều tuân theo khuôn mẫu của Lenin: một sự pha trộn hệ tư tưởng đấu tranh với những thủ đoạn vô nguyên tắc. Và tất cả đều có sức mạnh ý chí tuyệt vời – điều kiện tiên quyết để thủ đắc những gì chỉ có sự đổ máu không tính nổi mới có thể mang lại.
Tuy nhiên, trong thế kỷ vừa qua chủ nghĩa cộng sản không phải là tác nhân duy nhất thực hiện các vụ tàn sát. Sự đàn áp của chủ nghĩa quốc xã (Nazi), những cuộc chiến tranh thanh lọc sắc tộc cũng đã giết hại khoảng 40 triệu người. Và trong thời Chiến tranh Lạnh, phong trào chống cộng sản đã kích hoạt những cơn bùng phát bạo động bất ngờ và dữ dội ở Indonesia, châu Mỹ Latinh và nhiều nơi khác.
Nhưng bằng chứng về nỗi kinh hoàng cộng sản nổi lên liên tục trong nhiều thập niên đã gây sốc nặng cho những người cánh tả và theo tư tưởng tự do ở phương Tây, những người cùng chia sẻ nhiều mục tiêu công bằng xã hội của các nhà cách mạng. Nhiều người phản đối Liên Xô đã làm méo mó chủ nghĩa xã hội, và quy những tội ác của chế độ Xô-viết cho tình trạng lạc hậu của nước Nga, cho tính khí của Lenin và Stalin. Dù sao, Marx không bao giờ ủng hộ việc tàn sát hàng loạt hoặc các trại lao động kiểu Gulag. Không tìm đâu thấy ông biện luận rằng công an chìm, trục xuất người trên xe chở súc vật và chết đói hàng loạt là những biện pháp nên dùng để thiết lập các trang trại tập thể.
Nhưng nếu chúng ta phải học có một bài học từ một thế kỷ cộng sản thì đó chính là: để thực thi các lý tưởng của Marx thì cần phải phản bội chúng. Đòi hỏi của Marx “bãi bỏ quyền tư hữu” là tiếng kèn xung trận kêu gọi hành động – nhưng cũng là con đường kiên định dẫn tới sự hình thành nhà nước đàn áp, không bị kiểm soát.
Một số nhà xã hội chủ nghĩa bắt đầu nhận ra rằng, không thể có tự do nếu không có thị trường và sở hữu tư nhân. Khi họ bắt đầu giải hòa với sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, hy vọng sẽ điều tiết thay vìxóa bỏ nó, họ bị cáo buộc là những kẻ phản bội. Theo thời gian, ngày càng có nhiều nhà xã hội chủ nghĩa chấp nhận kiểu nhà nước phúc lợi, hoặc kinh tế thị trường có sự phân phối. Nhưng tiếng còi kêu gọi vượt qua chủ nghĩa tư bản vẫn còn vang vọng trong một số người cánh tả.
Những thành trì cố thủ quan trọng của thế kỷ cộng sản vẫn còn tồn tại, dù không theo kiểu Marxist chính thống, ở Nga và Trung Quốc. Cả hai quốc gia này vẫn tiếp tục hoài nghi những gì có lẽ là quan trọng nhất của thị trường tự do và sở hữu tư nhân: khả năng đem lại cho người dân thường sự độc lập trong suy nghĩ và hành động, cho họ quyền theo đuổi những lợi ích của chính họ mà họ thấy phù hợp, trong đời sống riêng tư, xã hội dân sự và không gian chính trị.
Nhưng chống chủ nghĩa tư bản còn được sử dụng như một chương trình thay thế trật tự thế giới bằng một trật tự mới, trong đó những mục tiêu dân tộc chủ nghĩa từ lâu bị đè nén sẽ được hiện thực hóa. Đối với Stalin và Mao, người thừa kế những nền văn minh cổ đầy tự hào, châu Âu và Hoa Kỳ đại diện cho sức cám dỗ và mối đe dọa của một phương Tây siêu việt. Những người cộng sản tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phải đuổi kịp và vượt qua các đối thủ tư bản chủ nghĩa và giành cho đất nước mình vị thế trung tâm trên sân khấu quốc tế. Cuộc đấu tranh cách mạng cho phép nước Nga thỏa mãn cái ý thức kéo dài nhiều thế kỷ về sứ mệnh đặc biệt của mình trên thế giới, trong khi nó cho Trung Quốc cơ hội để tuyên xưng một lần nữa là Vương quốc Trung tâm.
Sự chống đối phương Tây của Vladimir Putin, cùng với sự pha trộn đặc thù của ông trong đó niềm hoài vọng về thời đại Xô-viết hòa với sự phục hồi Chính thống giáo Nga, được xây dựng trên tiền lệ của Stalin. Về phần mình, tất nhiên Trung Quốc vẫn là cường quốc cộng sản cuối cùng, ngay cả khi Bắc Kinh quảng bá và cố gắng kiểm soát một nền kinh tế phần lớn là thị trường. Giờ đây, dưới quyền ông Tập Cận Bình, đất nước này vừa đi theo hệ tư tưởng cộng sản vừa khai thác văn hóa truyền thống Trung Hoa trong nỗ lực nâng cao vị thế quốc gia như là một sự thay thế phương Tây.
Thế kỷ máu của chủ nghĩa cộng sản đã đi tới lúc kết thúc, và chúng ta có thể bày tỏ niềm vui về sự lụi tàn của nó. Nhưng những khía cạnh đáng lo ngại trong di sản của nó thì vẫn còn dai dẳng!
       Và cuối thập 80, đầu thập kỷ 90 sự tan rã, tan tành của cộng đồng xã hội chủ nghĩa hoang tưởng, nhân loại mới hiểu được cái nhìn thấu thị Đôxtôiepxki qua nhân vật trưởng lão Zôxima đầy lòng nhân ái, hiển minh. Cái nhìn thiên tài của Đôxtôiepxki hay cái nhìn thiên tài của cha Zôxima vượt qua tầm thế kỷ mà không một nhân vật đương thời nào hiểu nổi. Dù cho đó là cha, Phó Giáo chủ Phrôlô,  cha Ralphơ người bao quát trí thức đương thời. Ngay cả Abert  Camus (giải Nobel văn học 1957 - người Pháp) sau gần một thế kỷ lời tiên đoán của Đôxtôiepxki mới nói được: "Sự mâu thuẫn vỹ đại. Vả lại dù sao đi nữa chính ý nghĩa của thực tại, và xã hội chủ nghĩa đã trái nghịch nhau rồi. Vì thật thế, một hiện  thực xã hội chủ nghĩa làm sao có thể thực hiện được khi thực tại không hoàn toàn có tính chất xã hội chủ nghĩa (12) và Camus mới nói tiếp được: "Từ xương máu mồ hôi của nhân loại người sẽ thấy nẩy sinh  ra một thứ văn chương vô nghĩa, những báo chí ngoan ngoãn, những bài tường thuật nghèo nàn như  ảnh chụp và những tác phẩm bị chỉ huy, trong đó lòng hận thù thay cho tín ngưỡng." Với lòng tin bất diệt  vào ý niệm chân tu của mình, cha Zôxima vượt lên trên hiện thực của thời một thời mình sống, một thời của cái xã hội rối ren, một xã hội đổ vỡ từ cội nguồn của một gia đình. Tiêu biểu là gia đình Nga - "Gia đinh anh em nhà Karammazốp".  Một gia đình mà ở đó con người không có lòng tin, những kẻ báng bổ tín ngưỡng từ người cha Pavlovits  đến người con Ivan Fiodorovits đều mất niềm tin, đều báng bổ lại đấng Christ. Một gia đình như một cộng đồng nhân loại thu nhỏ tan nát bởi vì vô luân, vì xâu xé nhau. Một gia đình đang tâm làm mọi cái ác trên đời nếu có thể làm được từ việc chửi rủa cho đến việc giết cha và giết đồng loại.
  Cha Zôxima có cơ sở tin tưởng vào việc thực hiện cái thiện của mình, lòng nhân ái của mình trên chân lý đức tin, trong  sự thánh thiện của nghiệp chân tu, trong quan niệm xây dựng một chính thể có trật tự từ trên xống. Với đức tin mang trong mình như Thánh Kinh, cha Zôxima xây dựng lòng nhân ái đúng đắn khi cha có quan niệm đúng đắn ở một xã hội mà quan hệ chủ và tớ là quan hệ anh em. Đây là cái điều hiện thực hơn, có ý nghĩa thực tế hơn, chứ không phải là điều hảo huyền, điều mơ ước của những  người nhân đạo chung chnung như những người theo chủa nghĩa Mác không tưởng:
"Ta nghĩ ngày mai hết đói nghèo
Hết tù, hết tội, hết gieo neo
Trong ngoài bốn bể anh em cả
Ôi đẹp vườn xuân những sớm chiều"
  (Xuân Thủy - Thơ ca cách mạng Việt Nam)
  Cái xã hội đẹp như pha lê ấy, làm chung ăn chung, cái xã hội ấy nó nằm ngoài cõi trần thế và nó cũng chẳng nằm ở đâu trong vũ trụ này. Con người với thực tế của mình, cứ nhìn vào thực tế của mình trên cái xã hội chuồng gà của mình mà thực thi lòng nhân ái. Lòng nhân ái ấy có thực hơn. Những kẻ yêu nhân loại chung chung hóa ra chẳng bao giơ yêu ai cả. Xây dựng được cái quan hệ chủ tớ tốt thì sẽ có lòng yêu thương thân ái. Cái đó thực ở cõi đời. Đừng nên phụ người "phụ người chẳng bỏ khi người phụ  ta (13). Đừng nên thà ta phụ người, chứ nhất quyết không để người phụ ta (14). Cha Zô xi ma khi nhìn thực trạng xã hội Nga, dân chúng bải hoại vì rượu, họ tàn ác với gia đình, trẻ con ở các xưởng máy còm cõi vì bạo lực và đã trụy lạc... Hãy làm sao đừng có tình trạng ấy. Hãy đứng lên truyền đạo lý, lòng nhân ái. Chúa Trời sẽ cứu nước Nga. Bởi vì nước Nga vỹ đại là ở sự quy thuận của mình. Cha Zôxima nói: "Phải tôn trọng tôi tớ. Đối xử với họ như cùng đồng loại với mình". Cha Zôxima cũng hiểu rằng nếu toan tính tổ chức một hội khước từ Đấng Chrit, tức là lòng nhân ái, thì sẽ làm cho thế gian này ngập máu, bởi vì máu sẽ gọi máu, máu sẽ trả máu, kẻ vung kiếm sẽ chết vì kiếm. Nếu không có lơi hứa của Đấng Chrit thì họ sẽ tiêu diệt nhau cho đến người cuối cùng trên trái đất này và người cuối cùng sẽ tự giết mình. Ở phương Đông cũng vậy. N ếu lấy oán báo oán, oán oán chất chồng; lấy ân báo oán, oán sẽ tiêu tan" (15). Cha Zôxima làm điều từ thiện vì tình yêu những người hiền lành và quy thuận.
  Cha Zôxima cũng đã từng kêu gọi khi yêu thương con người dù là trong quan  hệ chủ tớ, nhưng không nên sợ tội lỗi, phải yêu con người trong tội lỗi của họ, đó chính là tình yêu cực đỉnh. Đó là tình yêu cực đỉnh trên thế gian. Đó là tình yêu có thực để tiếp xúc với một thế giới khác. Cha Zô xi ma nghĩ rằng có tình yêu ấy thì con người mới có tình yêu thế  gian với một tình yêu bao trùm lên tất cả. Cha Zôxima khuyên hãy yêu loài vật, đừng chọc  giận chúng, đừng hành hạ chúng, đừng lên mặt với chúng, chúng không có tội lỗi, chỉ có con người mới có tội lỗi. Hãy yêu loài vật để giảm bớt tội lỗi của mình. Cha Zôxima kêu gọi hãy yêu trẻ em.
   Trẻ em không có tội lỗi , trẻ em là thiên thần, trẻ em làm cho tâm hồn người lớn thêm trong sáng, thêm thanh sạch. Đau đớn thay, nếu ai đó trong chúng ta xúc phạm trẻ em. Tấm lòng nhân ái này của cha Zôxima thấm nhuần lòng nhân ái của Chúa thượng!... Người ta đem trẻ em đến cùng Chúa  để ngài rờ chúng. Môn đồ bèn rầy la họ. Jesus thấy vậy nổi. giận mà phán cùng họ rằng: "Hãy để trẻ con đến cùng ta, đừng cấm chúng nó, vì nước Đức Chúa Trời thuộc về chúng nó. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai chẳng nhận nước Đức Chúa Trời như một con trẻ, thì hẳn chẳng được vào đó".  Ngài bèn ẳm chúng nó đặt lên tay mà chúc phước cho nó. (16)  
 Để có lòng yêu trẻ con, cha Zôxima cũng phải lăn lóc trong bể khổ
Cha đã tự bạch. Chính cha Anfim đã truyền đạt cho cha yêu con trẻ. Những ngày đi hành hương người cha Anfim trầm lặng dễ thương đã ban phát bánh kẹo cho trẻ. Cử chỉ ấy tác động sâu sắc đến Zôxima , mới có lòng yêu thương trẻ em  Sau này cha Zô xi ma mới có lòng yêu thương trẻ em thắm thiết gắn với Chúa như vậy.
  Cha Zôxima yêu thương và có luận thuyết về sự yêu thương. Những luận thuyết yêu thương của lòng nhân ái bắt nguồn từ cuộc sống, từ cuộc đời của cha trải qua cơ sở thực tế. Không có một cơ sở lòng yêu thương nào của cha Zôxima là gượng ép, là đi nói theo giáo lý của kẻ rao giảng nào. Từ cuộc đời cha và cuộc đời của nhiều người mà cha biết và của Chúa, để cha hun đức nên lòng nhân ái của mình. Lòng nhân ái của cha được nuôi dưỡng từ cội nguồn gia đình. Cha lúc nào cũo cha Zôxima nhớ tới người anh yểu mệnh của mình.. Chính nỗi hoài niệm ấy tăng thêm lòng nhân ái cho cha Zôxima. Người anh của cha từ thuở nhỏ lúc nào cũng xin chim chóc, trẻ em tha thứ. Cha biết rằng làm như vậy lòng người nhẹ nhõm hơn, tình yêu sẽ bao trùm hơn, lòng vị tha được nhân lên.
   Có lòng nhân ái hiền minh, cha Zôxima đã kêu gọi con người vượt lên tội lỗi. Hoàn cảnh xấu, sức mạnh tội lỗi không thể lấn át khi con người có gan thực thi đạo tốt lành của mình. Cha kêu gọi chỉ có cách cứu rỗi hãy can đảm coi mình là người chịu trách nhiệm về tất cả các tội lỗi của mọi người thành tâm, bạn sẽ đi đến gần nước Chúa hơn. Cha Zôxima cũng nhắc nhở, nếu trút sự lười nhác và tội lỗi lên người khác thì nhiễm phải thói hung hãn của quỷ Sa tăng, con người lại đi về phía cái ác. Địa ngục tất nhiên không thể tránh khỏi. Cha Zôxima cũng nhắc nhở thêm cho ai, kể cả quan tòa khi chính mình cũng đang là kẻ phạm tội. Hãy tha thứ như Chúa. Một lần Phê rô hỏi Chúa: "Anh em phạm lỗi thì bày lần tha thứ được không?". Chúa mới trả lời: "Nếu anh em phạm lỗi ta không những bảy lần tha thứ mà bày mười lần tha thứ". Ý Chúa cũng như ý cỏ nhân phương Đông: "Dữ thiên nhân" (Đối với người thì thương yêu hết thảy, hay "Điềm đạm vi thương" (Điềm đạm là hơn)) (17). Conngười làm việc lành sẽ được cứu rỗi. Cha Zoxima nhắc nhở điều ấy. Bởi vì cha hiểu cái nghĩa lý của đời. Người công chính qua đời thì ánh sáng còn lại.
  Cha Zôxima thống thiết kêu gọi: "Hãy là người hiền minh và luôn luôn cao quý. Phải biết chừng mực, hãy thương yêu, hãy học biết điều đó, hãy lánh mình đi và cầu nguyện. Hãy yêu mến đất và sập mình xuống hôn đất. Hãy hôn đất, lại hãy yêu thương không ngững (Cha Zôxima luôn luôn kêu gọi như thế). Hãy yêu, hãy yêu không biết chán, yêu tất cả mọi người, yêu tất cả mọi vật, hãy tìm kiếm sự hân hoan và cuồng loạn ấy. Hãy làm cho mặt đất thấm nước mắt vui sướng của các bạn và yêu những giọt lệ ấy của bạn. Đừng hổ thẹn về sự cuồng loạn ấy, hãy yêu quí nó vì đó là ân sủng của Chúa ban cho, một ân sủng cực kỳ lớn lao mà không mấy người hưởng được, chỉ có những người biết yêu thương có tấm lòng nhân ái hiền minh mới có thể có ân sủng ấy".
  Cha Zôxima thể hiện lòng nhân ái hiền minh, lòng nhân ái có con mắt suy xét là như vậy. Lòng nhân ái ấy không bao giờ mù quáng, lòng nhân ái ấy đem lại tình thương thiết thực cứu rỗi loài người giữa cái ác đang ngtrị trêncõi dương thế. Lòng nhân ái hiền minh của cha Zôxima đối lập lại tất cả, cái ác và chính thể cầm quyền thống trị  đương thời và hậu thế. Những kẻ cầm quyền khi đi ngược lại quyền lợi của nhân loại bao giờ cũng thích làm cái ác. Mặc dầu họ che giấu ngụy trang dưới nhiều hình thức lương thiện giả vờ. Nhưng cái ác vẫn lộ ra. Hàn Phi Tử có nói: "Kẻ cầm quyền không cần lương thiện". (18)  Mao Trạch  Đông cũng nói: "Làm cách mạng không cần phải lịch sự, chỉnh chu. Cách mạng tất nhiên có kẻ bất hạnh và có kẻ không bất hạnh. Nó không phải là buổi diễn thuyết có văn vẻ". (19). Hàn Phi Tữ cũng lại nói: " Làm chính trị cũng như kẻ gội đầu, có phải bỏ sợi tóc nào cũng phải làm" (20)
    Những kẻ ác nhất định phải xuống địa ngục. Điều đó đã được chứng minh trong hàng ngìn năm của nhân loại và  trong kiệt tác "Anh em nhà Karammazôps. Những kẻ làm điều ác đều bị cõi linh thiêng trừng phạt. Một Ivan Fiôđôrôvits, kẻ thiết kế tiến trình giết cha, kẻ đang tâm làm điều ác phi luân, đầu óc bất tỉnh. Xmerđiakôp tự mình treo cố kết liễu đời mình. Rồi Fiôdôr Pavlôvits  bôi nhọ các bậc chân tu, đam mê nhục dục, tranh giành tình yêu với con cái, phỉ báng Chúa, không làm điều thiện bị chính đứa con hoang của mình là Xmerđiakốp  giết chết. Một KateriaIvanôvna tới phút cuối cùng, trước một con người bị án oan thế mà vẫn lên tiếng vu oan giáng họa để phải tan nát gia đình và mất cả tình yêu .
  Khác với triết lý kẻ ác, cha Zôxima nghiệm rằng ngoài " tôi tư duy là tôi tồn tại" (21), còn một mệnh đề nữa mà cha Zôxima biết là" tôi tồn tại bởi vì tôi yêu". Tình thường có sứ mệnh vĩnh hằng như vậy.
  Nếu không có tình yêu và tình thương, không có đức tin, không có lòng nhân ái hiền minh những kẻ đó chỉ ở trong địa ngục khổ đau. Vì họ không yêu được nữa. Những kẻ ác kiêu ngạo ấy sẽ tự hút máu mình trong sa mạc cô đơn, những kẻ ấy đời đời không đến được với Chúa Trời hằng sống. Họ đời đời cháy rong ngọn lửa đố kỵ của họ, họ đến với cái chết hư vô.

                                                      *
                                                 *         *
Tiểu thuyết gia vỹ đại Đôxtôiepxki cũng như nhiều tiểu thuyết gia vĩ  đại khác của Nga và của thế gới đều bằng tài năng nghệ thuật của minh tạo nên những nhân vật sống động, có cuộc sống khác thường mà nhiều khi người xây dựng, sáng tạo ra nó cũng không ngờ mình đạt một thành tích kỳ vỹ đến thế.
 Nghệ thuật xây dựng các nhân vật của Đôxtôiepxki đều như vậy. Các nhân vật của ông đều đạt cả chiều cao lẫn chiều sâu, chiều rộng lẫn chiều dài. Nhân vật và tác giả hòa làm một. Hai người như hình với bóng. Ta là người như là một, ta với người như một ma hai (22). Ba khtin đã chỉ rõ tính đa diện, đa thanh, đa chiều của các nhân vật Đôx tôiepxki . Nhân vật của Đôxtôiepxki có tính độc lập, tự chủ, tự động ở bên trong, khi đã thành công nó hầu như sống theo bản năng của nó mà rất ít chịu sự chi phối của tác giả... Tiếng nói, lời phát ngôn của nhân vật có giá trị như lời phát ngôn, tiếng nói của tác giả. Các nhân vật của Đôxtôiepxki bao giờ cũng hiện hữu như chính bản thân mình, với trí não, lương tâm của mình  mà không một ai có thể chi phối được. Vì vậy, tâm tư tình cảm của nhân vật hiện lên một cách đầy đủ như cuộc sống đời thường nhiều dạng, nhiều hình.
  Nhân vật cha Zôxima, Đôxtôixki dành cả tâm huyết, trải nghiệm của đời mình, lấy đời mình làm nguyên mẫu, nhà văn đổ công sức ,tâm huyết của mình vào nhân vật này. Và nó thành công rực rỡ. Nhân vật cha Zôxima hiện lên như là đại biểu cho cái thiện, cho lòng nhân ái, là  ánh sáng công chính xóa tan cái ác đang ngự trị trên thế gian. Điều này chính Đôxtôiepxki cũng không ngờ tới là nó có kết quả như vậy.
     Nhưng sau một thế kỷ, chúng ta thấy rằng những điều lo lắng của Đôxtôiepxki không xảy ra. Ngược lại nhân vật cha Zôxima bất tử. Nó sống thật hơn tất cả những bậc minh triết, nhân ái nào sống thật trên cõi đời này.
    Ta thấy rằng Vichto Huygô xây dựng cũng rất thành công nhân vật cha Phó Giáo chủ Phrôlô. Nhà văn đã thành công xây dựng nên một người coi linh hồn của chúng  sinh, nhưng đã trở thành nạn nhân của chính minh. Đã dễ cho giáo lý bị bẻ cong bởi bản năng tự nhiên của con người. Bởi vì trong ước muốn của đời thực, trong cha Phrôlô vẫn trổi dậy thân xác bị ẩn ức luôn luôn bừng trỗi dậy. Sự giằng xé giữa tâm linh, giữa thiện và ác, giữa thượng giới và trần thế, giữa giả nhân giả nghĩa và chân thực bao trùm lên người thầy tu và biến người thầy tu thành quỷ dữ!
  Cha phơ  trong " Những con chim ẩn mình chờ chết" cũng vậy. Nói chung sự thành của hai tiểu thuyết gia này cũng tầm cỡ thế giới. Nhưng có điều, mô tip phản diện ấy không mới và cũng có nhiều tiểu thuyết gia khác xây dựng và cũng thành công. Đôxtôiepxki xây dựng một con người chân tu đắc đạo về cuối đời đạt được toàn bích mà hợp lý, hợp tình, hướng cho nhân loại có niềm tin vào cái thiện. Điều đó càng có giá trị,  ý nghĩa nghệ thuật nhân lên gấp hai. Quả thật như vậy, những ý kiến của Zôxima, những luận thuyết nhân ái của cha, những việc làm của cha là tấm gương cho hậu thế noi theo sống và làm được như thế. Nếu con người sống và làm được một phần nhỏ như cha Zôxima mong muốn thì thế giới này sẽ bớt đi bao nhiêu là máu đổ vô nghĩa. Nếu con người làm điều thiện và đừng có  "thắng ni bất mỹ" (thắng trận đâu có tốt) thì hàng nghìn năm qua nhân loại sẽ không có cảnh núi xương sông máu 23).
   Cuối cùng điều mà cha Zôxima chỉ ra là làm thức tỉnh nhân loại đừng để cái ác hoành hành. Cái ác hoành hành không nhân danh được ai, không tạo ra một giá trị hữu ích cho nhân loại. Chỉ có cuối cùng nó đưa nhân loại đến con đường tiêu diệt lẫn nhau. Sau một thế kỷ, điều tiên đoán thiên tài cị cái ác chế ngự, nhân loại làm sao hiểu được cái áca cha Zôxima cũng là của Đô xtôiepxki đã thành sự thực làm cho nhân loại bừng tỉnh.
  Nhân vật cha Zôxima là một điển hình. Tác phẩm "Anh em nhà Karammazốp là một kiệt tác. Nó làm bộ mặt nhân loại thêm khả kính, thêm đáng yêu. Đúng như Abert Camuas đã nói : " Bí quyết của một kiệt tác là làm cho bộ mặt nhân loại thêm đáng yêu, khả kính". (24)

                                                     *
                                                  *    *
   Đốt (**) là một trong những thiên tài hiếm hoi, thiên tài của cái thiện, của lòng nhân ái. Qua nhân vật cha Zôxima, ta thấy Đôxtôixki là một nhà nhân ái thiên tài, một tiếng chuông thức tỉnh và cảnh báo cho nhân loại . Nhưng nhân loại bị cái ác chế ngự, nhân loại làm sao hểu được những tiên đoán của Đôxtôiepxki. Chỉ có thời gian mới làm cho nhân loại bừng tỉnh khỏi cái sự u mê, mê muội của mình. Bao nhiêu là máu đổ ra bởi những kẻ ác, bởi những bạo chúa lấy con người ra làm vật thí nghiệm cho những mưu mô, những trò chơi, những đam mê, những dục vọng cá nhân của mình.
  Đôxtôiep xki không chỉ là nghệ sĩ lớn nhất ở thế kỷ XIX mà còn lớn nhất mãi mãi sau này!
  Nhưng ta cũng không nên quên rằng, trong thế giới quan sáng tác của Đôxtôiepxki cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn sâu sắc, những mâu thuẫn này thường bộc lộ trong sáng tác của nhà văn. Đó cũng là hạn chế tất yếu về lịch sử mà Đôxtôiepxki sống trong thời đại của mình.
  Những người Việt Nam chúng ta, tuy được tiếp xúc, được đọc Đôxtôiepxki muộn màng, nhưng chúng ta cũng đủ yêu mến, kính trọng ông với một sự khâm phục bội phần, một sự ngưỡng vọng tài năng vô song của một thiên tài có cái nhìn nghệ thuật thấu thị.
  Chúng ta học tập ở ông rất nhiều trong cách sống, cách viết, thái độ trước cuộc sống, trước cái ác; học tập ở lòng nhân ái hiếm có để làm cho cuộc đời có ý nghĩa hơn. Con người sống xích lại gần với nhau hơn. Và một ngày nào đó, khi cái thiện ngự trị thế gới, đẩy lùi cái ác ra một khoảng xa thì lúc ấy trên hành tinh này sẽ bớt những mặc cảm, bớt những cuộc thác loạn, những cảnh đổ máu, con người thực sự có đức tin, sống với đức tin!
                                          Hà Nội, ngày 5 - 6 - 1992
                                                         Đ - H  
CHÚ THÍCH:
1 -  Ý kiến của Bakhtin - Nhà phê bình lỗi lạc Nga
2 - Ý trong Luận ngữ - Khổng tử
3 - Kinh Phật
4 - Đạo đức kinh
5 - Trích Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước)
6 - Ca dao & Tục ngữ Việt Nam  - 2 tập
7 - Y thuật - Hải thượng Lãn ông , Lê hữu Trác.
8 - Y thuật, Hải thượng Lãn ông - Lê Hữu Trác.
9 - Vương Duy thi tập
10 - Ý Kinh Thánh.
11 - Lời Mao Chủ tịch - Bàn về mâu thuẫn.
12 - Sứ mệnh văn nghệ - Camus
13 - Lời Tào Tháo - Tam Quốc diễn nghĩa.
14 - Lời Tào Tháo - Tam Quốc diễn nghĩa
15 - Kinh Phật
16 - Kinh Thánh
17 - Đạo đức kinh
18 - Hàn Phi Tử
19 - Hàn Phi Tử
20 - Trích lời Mao Trạch Đông - Diên An khởi nghĩa.
21 - Lời nhân vật kích Siếc pia
22 - Thơ Tản Đà - Tản Đà tuyển tập
23 - Ý Đạo đức kinh.
24 - Sw mệnh văn nghệ - Camus
SÁCH THAM KHẢO:
A - Tiếng việt:
1 - Gã khờ - Sài Gòn 1971
2 - Thằng ngốc - NXB Văn học thập kỷ 70 thế kỷ trước.
3 - Đêm trắng -     nt -
4 - Tội ác và Trừng phạt  - nt -
5 - Đạo đức kinh
6 - Nam hoa kinh
7 - Tục ngữ cà ca dao Việt Nam - Tuyển tập Hồ Chí Minh
9 - Thơ ca Cách mạng Việt Nam
10 - Sứ mệnh văn nghệ - Abret Camus
11 - Thơ Đường 2 tập - Nhà xuất bản Văn hoa 1961
12 - Khổng tử
13 - Nho Giáo
14 - Kinh Thánh
15 - Thơ văn chống Pháp
16 - Tiếng chim hót trong bụi mận gai
17 - Nhà thơ Đức Bà Paris
18 - Thơ Tản Đà
19 - Phật học
20 - Tạng thư
21 - Đạo Hồi
22 - Nhà văn Việt Nam hiện đại (ba tập)
23 - Tam Quốc diễn nghĩa
24 - Triết học Mác lênin
25 - Phê bình của Bakhin
26 - Đêm trắng
27 - Lí luận văn học Việt Nam
28 - Lê Hữu Trác - Hải Thượng Lãn Ông - Cuộc đời và sự nghiệp y học.
29 - Hàn Phi tử
30 - Kinh Vĩnh Nghiêm
31 - Bàn về mâu thuẫn.

Tiếng Trung:
 
  1. - Tuyển tập Mao Trạch Đông
  2. - Trích lời Mao Chủ tịch
  3. - Tam Quốc diền nghĩa
  4. - Tiểu sử Mao Trạch Đông
  5. - Binh pháp Tôn tử
  6. - Thơ từ Mao Chủ tịch
  7. - Nhân dân nhật báo (trích) thập kỷ 60 thế ký trước.
  8. - Thông báo khoa học
  9. - Nam Tư có phải nước xã hội chủ nghĩa không?



 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây