vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


Việt Nam kiện Trung Quốc

Từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2019, với một sự leo thang lấn lướt kép, Trung Quốc vừa điều tàu cảnh sát biển Hải Cảnh 35111 uy hiếp các tàu tiếp tế giàn khoan hoạt động tại mỏ Lan Đỏ trong Lô 06-01, vừa điều tàu Hải Dương Địa Chất 8, với một đội tàu hộ tống hùng hậu đến khảo sát các lô 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156 và 157 trên một diện tích 31.000 km² trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.
Việt Nam kiện Trung Quốc

11 câu hỏi quanh khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc về Bãi Tư Chính

Print Friendly, PDF & Email
Trung Quốc khảo sát và uy hiếp bên trong EEZ 200 hải lý của Việt Nam – Bản đồ Phan Van Song

Tác giả: Dương Danh Huy

“Tránh sao khỏi tai họa về sau”

Từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2019, với một sự leo thang lấn lướt kép, Trung Quốc vừa điều tàu cảnh sát biển Hải Cảnh 35111 uy hiếp các tàu tiếp tế giàn khoan hoạt động tại mỏ Lan Đỏ trong Lô 06-01, vừa điều tàu Hải Dương Địa Chất 8, với một đội tàu hộ tống hùng hậu đến khảo sát các lô 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156 và 157 trên một diện tích 31.000 km² trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) không cho phép đơn phương khảo sát tài nguyên hay nghiên cứu khoa học biển trong EEZ của nước khác.

Năm 2017 và 2018 Trung Quốc đã gây áp lực khiến Việt Nam phải ngưng Repsol hoạt động trong các lô 07-03 và 136-03 gần đó, và năm 2012, để trả đũa việc Việt Nam ban hành luật biển, Trung Quốc đã rao thầu cho 160.000 km² trong EEZ của Việt Nam, trong đó có các lô 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156 và 157, mà họ gọi là RJ03 và RJ27. Dĩ nhiên động thái mới của Trung Quốc là những bước tiến trong một quá trình có chủ đích và sẽ không phải là những bước cuối cùng.

Các lô 05-2, 05-3, 06-1, 07-3, 136-3, công ty dầu khí từng và đang bị đe dọa – Bản đồ MM Marine

Ngày xưa, Trần Hưng Đạo thấy “sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ; ỷmệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau“, làm ông “thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Ngày nay, Việt Nam lại đứng trước tình trạng “hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau” và Bắc Kinh lại uốn tấc lưỡi bảo Việt Nam phải “ứng xử cho đúng”, “tôn trọng chủ quyền Trung Quốc” và “đừng làm phức tạp tình hình”.

Chúng ta không sánh được với người hùng anh xưa, nhưng may mắn được sống trong một thế giới có những biện pháp hòa bình để bảo vệ quyền lợi của đất nước. Nếu bỏ phí cả những biện pháp đó thì “chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc… há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

Cơ chế giải quyết tranh chấp UNCLOS

Bài viết này sẽ cố gắng, qua các câu hỏi và trả lời, cung cấp thông tin về một trong những biện pháp văn minh nhất, bình đẳng nhất, với nó chí nhân có thể thay cường bạo như Nguyễn Trãi đã viết. Đó là kiện Trung Quốc.

1. Kiện Trung Quốc về điều gì?

Việt Nam cần kiện Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

2. Nếu Trung Quốc không chấp nhận ra tòa?

UNCLOS, trong Phần XV và các Phụ lục liên quan, quy định về một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc cho các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Cơ chế này cho phép các thành viên kiện nhau về các tranh chấp liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Công Ước, trong đó có tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Với cơ chế này, dù Trung Quốc không chấp nhận ra tòa cũng không ngăn cản được vụ kiện. Trung Quốc cố ý không giải quyết tranh chấp một cách công bằng, và mục đích của cơ chế này chính là để cho các thành viên UNCLOS có thể thoát khỏi những sự cố ý tồi tệ như thế.

Tuy cơ chế này cần hội tụ đủ một số điều kiện và có một số hạn chế, thí dụ như trong Điều 297 và 298, việc vụ kiện Phi-Trung 2013-2016 được thụ lý cho thấy khả năng là nếu Việt Nam kiện và Trung Quốc không chấp nhận ra tòa thì tòa cũng sẽ thụ lý.

3. Sao không kiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa?

Bản chất của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp chủ quyền, không phải là diễn giải và áp dụng UNCLOS.

Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS không bao gồm những tranh chấp mà bản chất là tranh chấp chủ quyền. Tòa án Công lý Quốc tế cũng không có thẩm quyền để xử tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa cho đến khi mọi bên trong tranh chấp đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa bằng một trong những hình thức trong Điều 36 và 37 của Quy chế của Tòa, và hiện nay điều kiện đó chưa được đáp ứng.

4. Tòa nào sẽ xử?

Điều 287 của UNCLOS cho phép các bên trong tranh chấp tuyên bố chọn phương tiện phân xử, thí dụ như Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), nhưng phương cách mặc định là một Hội đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS.

Hội đồng bao gồm năm trọng tài: mỗi bên được chọn một và các bên cùng nhau chọn số còn lại. Nếu không đủ năm trọng tài vì các bên không đồng ý với nhau, hay có bên không chọn, thì Chủ tịch Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển sẽ chọn. Chính một HĐTT như thế đã phân xử vụ kiện Phi-Trung Philippines chọn một trọng tài, nhưng Trung Quốc không tham gia, và Chủ tịch ITLOS Shunji Yanai chọn bốn trọng tài còn lại.

5. Hội đồng Trọng tài không phải là Tòa án Công lý Quốc tế, phán quyết của họ có ý nghĩa gì không?

Phán quyết của HĐTT được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS hoàn toàn có tính ràng buộc giữa các quốc gia trong vụ kiện, đối với các quốc gia này thì không khác gì Tòa án Công lý Quốc tế đã xử. Thí dụ, phán quyết 2016 có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc, dù Trung Quốc không công nhận.

Tuy nhiên, phán quyết đó không có tính ràng buộc giữa các quốc gia đó và các bên thứ ba.

6. Phán quyết 2016 đã bác bỏ Đường Chữ U rồi, kiện nữa làm gì?

Phán quyết đó chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc. Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc.

Lợi ích và khả năng thắng

7. Kiện có ích gì khi Trung Quốc sẽ không tuân thủ?

Chắc chắn Trung Quốc sẽ không tự nguyện tuân thủ phán quyết, cũng như họ đã không tuân thủ phán quyết 2016 về vụ kiện Phi-Trung.

Nhưng một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, sẽ vô cùng hữu ích trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Các nước khác, đặc biệt là Mỹ, có thể ủng hộ Việt Nam một cách danh chính ngôn thuận, không thể bị cho là thiên vị một bên trong tranh chấp và sự ủng hộ của họ sẽ có nhiều trọng lượng hơn.

Trung Quốc sẽ không thể ngụy biện rằng họ đang giải quyết và quản lý tranh chấp với các nước nhỏ một cách tốt đẹp, các nước ngoài khu vực không nên xen vào. Các nước khác có thể lên tiếng bảo vệ các công ty dầu khí của họ khi các công ty này làm việc với Việt Nam, Trung Quốc không thể yêu cầu họ rút ra khỏi “vùng tranh chấp”.

Nếu trong tương lai Việt Nam phải đưa tranh chấp ra LHQ, vì chắc chắn là Trung Quốc sẽ leo thang lấn lướt, nếu có trong tay một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, Việt Nam sẽ được nhiều phiếu ủng hộ hơn.

Ngoài ra, phán quyết của HĐTT UNCLOS sẽ xứng đáng với chính nghĩa của Việt Nam hơn là cử người phát ngôn BNG, thậm chí cử ngoại trưởng, ra lặn ngụp trong cù nhầy với các tương nhiệm Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh càng ngày càng lấn tới.

8. Lập luận của Việt Nam sẽ là gì?

Lập luận của Việt Nam có thể là:

  1. Các lô 05, 06, 07, 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156, 157 và một phần của bãi Tư Chính nằm trong EEZ tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
  2. Phần còn lại của bãi Tư Chính nằm trong thềm lục địa tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
  3. Các khu vực này nằm dưới mặt nước, do đó không nước nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Bất cứ nước nào, tối đa cũng chỉ có các loại quyền chủ quyền và quyền tài phán (khác với chủ quyền) dựa trên nguyên tắc đất thống trị biển và UNCLOS.
  4. Các khu vực này không thể nằm trong EEZ hay thềm lục địa của bất cứ đảo nào đang bị tranh chấp (tức là các đảo thuộc quần đảo Trường Sa). (Lý do là theo Điều 121(3) UNCLOS không đảo nào được hưởng quy chế vùng EEZ hay thềm lục địa, như HĐTT 2016 đã khẳng định).
  5. Trung Quốc không thể có quyền lịch sử đối với vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam. (Lưu ý HĐTT 2016 đã khẳng định rằngTrung Quốc vừa không hề có quyền lịch sử đối với vùng biển và đáy biển bên ngoài lãnh hải 12 hải lý, vừa không thể bắt cá hai tay, một mặt thì đòi tự do tiền-UNCLOS trong việc họ khai thác bên trong EEZ của các nước khác, một mặt thì không chấp nhận tự do tự do tiền-UNCLOS của các nước khác khai thác bên trong EEZ của họ. Việc phê chuẩn UNCLOS có nghĩa phải bỏ cả hai sự tự do này).
  6. Vì vậy các khu vực này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. (Lưu ý đây là những quyền có hạn chế được UNCLOS quy định, khác với chủ quyền mà không nước nào có thể có).
  7. Trung Quốc đã vi phạm các quyền này của Việt Nam và phải ngưng vi phạm.
9. Khả năng Việt Nam thắng là bao nhiêu?

Để thắng, Việt Nam phải vượt qua ba thử thách: Hội đồng Trọng tài có thẩm quyền hay không (vấn đề jurisdiction), vụ kiện có thể được chấp nhận hay không (vấn đề admissibility), và các lập luận của Việt Nam có đúng hay không (vấn đề merit). Ba thử thách này dựa trên cùng các nguyên tắc trong vụ kiện Trung-Phi.

Tuy HĐTT mới không bị phán quyết 2016 bắt buộc phải xử Việt Nam thắng, khả năng là Việt Nam cũng sẽ thắng.

Thử thách thứ nhất tương đương với trong vụ kiện Trung-Phi, và khả năng là HĐTT mới cũng sẽ kết luận rằng họ có thẩm quyền.

Các luật gia ủng hộ Trung Quốc có thể cho rằng cả hai nước đều đòi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa như một đơn vị bao gồm các thực thể và các vùng nước, do đó tranh chấp là tranh chấp chủ quyền và nằm ngoài thẩm quyền của HĐTT. Nhưng yêu sách của bất cứ nước nào cũng phải dựa trên nguyên tắc đất thống trị biển, và thêm vào đó các vùng biển trong vụ kiện nằm quá xa quần đảo để bất cứ nước nào có thể đòi chủ quyền với chúng như một đơn vị với quần đảo, cho nên lập luận đó sẽ bị bác bỏ.

Trong thử thách thứ nhì, Việt Nam có một điểm mà Philippines không có, đó là bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa” ngày 11/10/2011, trong đó có câu “Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”.

Các luật gia ủng hộ Trung Quốc có thể khai thác câu này, diễn giải rằng nó đã loại cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS. Tuy nhiên, lập luận của HĐTT của vụ kiện Phi-Trung trong phán quyết về thẩm quyền, đoạn 222-225, tuy là về DOC, cho thấy khả năng là diễn giải đó cũng sẽ bị HĐTT mới bác bỏ.

Thử thách thứ ba có hai phần: bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử đối với EEZ và thềm lục địa”, và chứng minh “không có EEZ có thể thuộc Trường Sa phủ trùm lên các khu vực trong vụ kiện.”

HĐTT 2016 đã bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử đối với EEZ và thềm lục địa” một cách vững chắc, và khả năng là HĐTT mới sẽ công nhận lập luận đó.

Điểm “không đảo nào trong quần đảo Trường Sa có EEZ” là điểm có thể bị tranh cãi nhiều nhất, và khó có thể chắc chắn 100% rằng HĐTT mới cũng sẽ công nhận điểm đó.

May mắn cho Việt Nam, giả sử như HĐTT mới không công nhận điểm đó đi nữa, ba đảo lớn nhất, Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc đều nằm xa các khu vực trong vụ kiện.

Giả sử các đảo này được cho là có EEZ đi nữa, EEZ tối đa của chúng chỉ trùm phủ lên một diện tích nhỏ của các khu vực trong vụ kiện. Nếu các luật gia ủng hộ Trung Quốc đưa ra lập luận kiểu quần đảo Trường Sa và vùng nước lân cận là một đơn vị chủ quyền thì cũng vô ích, vì nếu đã là “vùng nước lân cận” thì không thể lan ra đến các khu vực trong vụ kiện. Do đó, khả năng Việt Nam thắng kiện còn lớn hơn khả năng Philippines thắng khi họ đưa Trung Quốc ra tòa.

Rụt rè và lỡ cơ hội

10. Nếu Trung Quốc rút ra khỏi UNCLOS thì sao?

Đây là một câu hỏi quan trọng cho Việt Nam. Nếu Trung Quốc rút ra khỏi UNCLOS trước khi Việt Nam nộp đơn kiện, HĐTT sẽ không còn thẩm quyền để xử, Việt Nam sẽ không còn cơ chế để đưa Trung Quốc ra Tòa.

Năm 2006 Trung Quốc đã vận dụng Điều 298 cho phép họ tuyên bố rút ra khỏi một phần của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS, phần liên quan đến phân định ranh giới biển. Với tuyên bố đó, Trung Quốc đã đi trước một bước và làm cho Việt Nam mất đi cửa ngõ rộng nhất để kiện những bước kế tới của họ: đuổi BP năm 2007, đuổi Exxon Mobil năm 2008, phản đối đệ trình của Việt Nam về thềm lục địa năm 2009, và hàng loạt những hành động lấn lướt khác.

Nếu Việt Nam để cho Trung Quốc đi bước trước lần nữa, Việt Nam sẽ mất đi cửa ngõ duy nhất còn lại để kiện họ. Có thể Trung Quốc sẽ đi bước này trước khi họ bắt đầu một giai đoạn mới để tước đoạt từ Việt Nam.

11. Vậy tại sao Việt Nam không kiện?

Đây cũng là câu hỏi quan trọng cho Việt Nam. Có thể là Việt Nam quá rụt rè, không làm điều tối ưu, không tận dụng các phương tiện hòa bình để tự vệ, không có một chiến lược tổng thể và lâu dài, có thể sẽ lỡ cơ hội.

Có điều đáng lưu ý là khi Philippines còn bị lấn lướt ít hơn Việt Nam thì họ đã khởi kiện Trung Quốc rồi (năm 2013), và khi đó họ không thể biết nhiều về thắng-thua như ta biết hiện nay.

Điều thứ nhì là khi họ kiện thì Bắc Kinh đã nổi giận nhưng không trả đũa.

Điều thứ ba là mặc dù Tổng thống Duterte có chính sách thân-sợ-thua Trung Quốc, gác phán quyết sang một bên, họ có sự lựa chọn gác hay không – Việt Nam không có sự lựa chọn đó.

Điều thứ tư đáng lưu ý là khi tàu Trung Quốc đâm chìm một tàu cá Philippines thì người dân Philippines phản ứng mạnh mẽ, và Trung Quốc chỉ lấp liếm đó là tai nạn, tàu của họ định cứu các ngư dân Philippines bị nạn, nhưng do bị tám tàu cá Philippines bao vây nên phải bỏ đi – khác hẳn khi tàu Trung Quốc đâm chìm rất nhiều tàu cá Việt Nam và không mảy may đếm xỉa đến các phản ứng ngoại giao của chính phủ Việt Nam.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, một nhà nghiên cứu hiện đang sống và làm việc tại Anh Quốc.

Tác giả cảm ơn Thái Văn Cầu, Nguyễn Lương Hải Khôi, Phan Văn Song, Dự Văn Toán và Lê Vĩnh Trương đã góp ý cho nội dung bài viết.

Nguồn: BBC
 

Căn bệnh của giới lãnh đạo nước Anh

Print Friendly, PDF & Email

johnsoncam

Nguồn: Lucy P. Marcus, “The British Leadership Disease”, Project Syndicate, 22/07/2016

Biên dịch: Hoàng Thu Trang | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Trên khắp thế giới đều thiếu các lãnh đạo chính trị có đạo đức, từ Hoa Kỳ đến Thổ Nhĩ Kỳ, đến Philippines. Nhưng có lẽ ví dụ nổi bật nhất về sự lãnh đạo thiếu trung thực được tìm thấy tại Anh, nơi mà cuộc trưng cầu dân ý Brexit và hệ quả của nó gây ra nhiều bất ổn hơn những gì mà nước Anh phải trải qua trong cả một thập niên thông thường.

Chỉ trong vài tuần đầu sau cuộc trưng cầu, thủ tướng Anh David Cameron, người đã tạo ra cuộc bỏ phiếu này, đã từ chức và người kế nhiệm của Đảng Bảo Thủ, Therasa May, đã bổ nhiệm một nội các mới. Dù một số người ủng hộ Brexit, đáng lưu ý nhất là cựu thị trưởng thành phố London Boris Johnson – hiện tại đang là thành viên chính phủ mới, nhưng không một ai trong số những người đã  ủng hộ chiến dịch rời bỏ Liên minh Châu Âu chịu trách nhiệm sau cùng cho việc thực hiện điều đó. Bản thân bà May cũng từng ủng hộ chiến dịch “Ở lại”.

Trong khi đó, Công Đảng đối lập rơi vào tình trạng hỗn loạn. Hầu hết toàn thể nội các bóng (shadow cabinet)[1] đã từ chức, mất lòng tin vào người lãnh đạo Đảng Jeremy Corbyn, và những nỗ lực phản đối ông trở nên cực kỳ gay gắt, với việc những người ủng hộ Corbyn thậm chí còn ném gạch vào cửa sổ văn phòng tiếp dân của một trong những đối thủ của ông.

Và sự hỗn loạn sau cuộc trưng cầu còn lan sâu hơn nữa. Số các vụ tội phạm xuất phát từ lòng căm ghét các nạn nhân từ sau cuộc trưng cầu được báo cáo tăng đến 500%, trong bối cảnh sự bất định về xã hội, chính trị và kinh tế cùng với sự bất mãn đang càng ngày lan rộng. Hơn 100 tỉ bảng Anh (tương đương 131 tỉ đô la) đã bị xóa sạch khỏi FTSE 100 chỉ trong mười phút giao dịch đầu tiên ngay sau khi kết quả cuộc trưng cầu được thông báo, trong khi đó giá trị đồng bảng Anh so với đô la Mỹ xuống thấp nhất trong 35 năm trở lại đây.

Một trong những bài học nổi bật trong trường hợp của nước Anh – và nhiều nước khác – là những nỗ lực đầy hứa hẹn để đảm bảo trách nhiệm giải trình của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong việc đảm bảo các công ty cư xử có đạo đức đã không được áp dụng vào hệ thống chính trị của chúng ta. Những nhà lãnh đạo dân cử, thường là những người đầu tiên yêu cầu các doanh nghiệp tư nhân có một chiến lược tốt, kế hoạch chuyển tiếp lãnh đạo, và trách nhiệm giải trình, lại đáng ngạc nhiên là không thực hiện chính những gì họ rao giảng.

Chúng ta trông đợi các lãnh đạo doanh nghiệp lập kế hoạch đảm bảo sự chắc chắn của những vấn đề bất ổn và kiểm soát rủi ro một cách hợp lý. Năm ngoái, các công ty lớn và nhỏ ở Anh, ở bất kỳ nơi nào ở EU và trên thế giới đã tổ chức vô số các cuộc họp và các phiên lập kế hoạch cấp cao để chuẩn bị cho cuộc trưng cầu Brexit. Khi kết quả được đưa ra, dường như những người không lập kế hoạch cho chiến thắng của chiến dịch “Rời đi’ lại chính là những người đã dẫn dắt chiến dịch đó. Thực vậy, theo một báo cáo gần đây của Ủy ban Đối ngoại đặc biệt của Nghị viện, ông Cameron “đã cẩu thả khi cân nhắc quan điểm không hướng dẫn cho các ban ngành quan trọng, bao gồm Bộ Ngoại giao, lập kế hoạch cho khả năng rằng các cử tri sẽ bầu cho việc rời EU”.

Nhà lãnh đạo chính trị Anh duy nhất đã nhanh chóng đề ra một chiến lược rõ ràng và đầy quả quyết là Thủ hiến Scotland, Nicola Sturgeon. Kế hoạch của bà là tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý khác về nền độc lập của Scotland và tái gia nhập EU.

Và chính một người người Canada không phải do dân cử, Mark Carney, thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh (Bank of England), người mà sự bảo đảm đầy uy tín của ông đã giúp bình ổn thị trường tài chính. Vào năm 2015, Carney đã bị chỉ trích vì thành lập một ủy ban để thực hiện việc lập kế hoạch cho khả năng xảy ra Brexit. Và vào đầu tháng 7, ông đã được gọi đến để điều trần trước Ủy ban Tài chính Hạ viện, và đã bị lên án là ủng hộ phe “Ở lại” trước khi cuộc trưng cầu dân ý diễn ra chỉ bởi vì ông đã đưa ra một đánh giá ảm đảm (và chính xác) về hậu quả kinh tế mà chiến thắng của phe Rời đi mang lại.

Khi Nigel Farage, một trong những nhà lãnh đạo cực đoan và ồn ào nhất trong chiến dịch Rời khỏi EU, quyết định từ chức lãnh đạo Đảng Anh quốc Độc lập vào ngày 4/7, ông đã nói rằng “Tôi muốn sống lại cuộc sống bình thường của tôi”. Nếu lời này nghe có vẻ quen thuộc, thì đó là bởi vì Tony Hayward, lúc đó là CEO của BP, đã sử dụng chính cụm từ này khi nói về những tác động của sự cố tràn dầu năm 2010 tại Vịnh Mexico lên bản thân ông.

Khi Hayward nói điều này, ông đã nhanh chóng bị lên án. Những lời của ông cho thấy một sự thiếu cảm thông hoàn toàn đối với những người thực sự bị ảnh hưởng bởi vụ tràn dầu. Tương tự như vậy, vừa mới “giúp” đưa nước Anh đến thảm họa, Farage đã bỏ đi một cách vô tình ngay khi chạm tới đích. Cũng đáng xấu hổ không kém là việc Johnson được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng nếu xét đến lịch sử dối trá của ông ta cùng những lời phát ngôn bài ngoại và đưa ra những chỉ trích thiếu tôn trọng đối với các lãnh đạo khác trên thế giới. Nhưng ít nhất ông ta sẽ chịu đựng vết nhơ từ thảm họa của nước Anh một cách công khai.

Vấn đề sâu xa hơn tại nước Anh chính là không có một sự lựa chọn khác. Công Đảng chỉ đơn giản là quá bị chia rẽ nên không thể nắm quyền. Nếu Corbyn là một CEO không giành được niềm tin của ban điều hành và hội đồng quản trị, ông ta sẽ bị ép từ chức hoặc bị sa thải. Nếu một CEO không thể giành được sự tôn trọng của ban lãnh đạo, ông ta không thể dẫn dắt công ty đến thành công cho dù hầu hết nhân viên có nghĩ rằng ông ta là người tuyệt vời. Điều tương tự cũng đúng với các đảng phái chính trị, mặc dù họ thường mất nhiều thời gian hơn mới hành động, do đó khiến cho doanh nghiệp, mà trong trường hợp này là nước Anh, phải vùng vẫy trong đống bùn.

Với rất ít ngoại lệ, cuộc bỏ phiếu Brexit đã phơi bày những điều tồi tệ nhất trong giới lãnh đạo của nước Anh. Nếu một CEO nói dối các nhà đầu tư và người tiêu dùng nhiều như Farage, Johnson và Michael Gove đã làm với cử tri Anh, hậu quả sẽ nặng nề và nhanh chóng, đến từ thị trường và những nhà điều tiết của chính phủ. Không chỉ đơn giản là từ chức và sống yên ổn, chứ chưa nói nhận được một chức vụ trong tương lai ở tổ chức (và tất nhiên không thể là chức vụ cao cấp). Mà họ sẽ bị phạt (hoặc tệ hơn), bị tẩy chay về mặt chuyên môn và bị sa thải.

Khi chúng ta có thể khiến cho các lãnh đạo doanh nghiệp chịu trách nhiệm giải trình hiệu quả hơn so với các nhà lãnh đạo chính trị do chính chúng ta bầu lên, chúng ta nên lo lắng cho tương lai của mình – và không chỉ ở nước Anh. Nếu điều đó có thể xảy ra ngay tại đây, tại quê nhà của Edmund Burke và Tony Benn, điều đó có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào khác.

Lucy P. Marcus, nhà sáng lập và tổng giám đốc của Marcus Venture Consulting Ltd., là giáo sư ngành lãnh đạo và quản lý tại Trường Kinh doanh IE và là thành viên không điều hành của hội đồng quản trị công ty Atlantia SpA.

Copyright: Project Syndicate 2016 – The British Leadership Disease

————

[1] Nội các bóng là nội các của phe đối lập, với các vị trí bộ trưởng tương ứng với phe cầm quyền, nhằm giám sát, phản biện và đưa ra các chương trình hành động thay thế khác với các chương trình của chính phủ cầm quyền. Thông thường khi phe đối lập thắng cử, các vị trí trong nội các bóng sẽ được giao nắm các  vị trí chính thức trong nội các cầm quyền mới (NHĐ)
 

#27 – Nguồn gốc hành vi của Liên Xô

Print Friendly, PDF & Email

Stalin poses ad demagod WW2 Propaganda Poster

Nguồn: X (George F. Kennan) (1947), “The Sources of Soviet Conduct”, Foreign Affairs, No. 25 (July), pp. 566-582. >>PDF

Biên dịch: Nguyễn Thị Hạnh | Hiệu đính: Bùi Hải Thiêm

Lời giới thiệu: Năm 1947, một bài viết có tựa đề “Nguồn gốc hành vi của Liên Xô” được đăng trên tạp chí Foreign Affairs dưới bút danh X đã trở thành tâm điểm của dư luận nước Mỹ. Bài viết đề cập những yếu tố như cách thức vận hành, nền tảng quyền lực và thế giới quan của chính quyền Liên Xô, phân tích những thách thức mà nước này đặt ra cho Mỹ và các nước phương Tây, đồng thời đề xuất các giải pháp ứng phó. Bài viết thực tế bắt nguồn từ một bức điện mà George F. Kennan, Phó Đại sứ Mỹ tại Matx-cơ-va, gửi về cho Bộ Quốc phòng Mỹ vào năm 1946. Bức điện và bài viết của Kennan được coi là một trong những nền tảng quan trọng dẫn tới chính sách ngăn chặn của Mỹ đối với Liên Xô, thúc đẩy sự ra đời của cuộc Chiến tranh Lạnh chia rẽ hai nước này cũng như nền chính trị thế giới trong suốt hơn 40 năm. Đây cũng là một bài đọc kinh điển thường được đưa vào tập bài đọc nhập môn chuyên ngành Quan hệ quốc tế của các trường đại học trên thế giới. Ban Biên tập Nghiencuuquocte.net xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết quan trọng này.

Phẩm chất chính trị của chính quyền Liên Xô mà chúng ta biết ngày nay là sản phẩm kết hợp của tư tưởng và hoàn cảnh thực tiễn: hệ tư tưởng được các nhà lãnh đạo Xô Viết hiện tại kế thừa từ chuyển biến lịch sử với nguồn gốc tư tưởng chính trị, và từ hoàn cảnh thực tiễn của chính quyền được rèn dũa trong gần ba thập kỉ qua ở Nga. Rất khó để tiến hành các bước phân tích tâm lí học nhằm tìm ra mối tương tác giữa hai nhân tố trên cũng như vai trò tương đối của mỗi yếu tố trong việc quyết định đường lối chỉ đạo chính thức của chính quyền Xô Viết. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn phải cố gắng để hiểu và ngăn chặn một cách hiệu quả đường lối đó.

Việc tổng hợp lại hệ thống các nội dung tư tưởng mà các nhà lãnh đạo Nga đã vận dụng khi nắm chính quyền là vô cùng khó khăn. Thể hiện trong sự hình thành của chủ nghĩa cộng sản ở Nga, hệ tư tưởng Mác vẫn đang phát triển theo hướng tinh vi. Các tài liệu dựa trên nền tảng hệ tư tưởng này rất đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, những đặc điểm nổi bật của  tư tưởng cộng sản được cho là hình thành năm 1916 có thể được tóm gọn trong các nội dung sau: (a) yếu tố trung tâm trong cuộc sống của nhân loại, nhân tố quyết định đặc điểm của cuộc sống cộng đồng và “hình thái xã hội” là hệ thống nơi hàng hóa vật chất được sản xuất và trao đổi; (b) Hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa là tàn ác, vô nhân đạo và tất yếu sẽ dẫn đến việc giai cấp tư sản bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân và hệ thống này không đủ khả năng phát triển đầy đủ các nguồn lực của xã hội hay phân phối công bằng hàng hóa vật chất do sức lao động của con người tạo ra; (c) ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản đã chứa đựng mầm mống của sự tự sụp đổ, giai cấp tư sản không thể tự điều chỉnh để phù hợp với chuyển đổi kinh tế, chắc chắn cuối cùng sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng đưa giai cấp công nhân lên nắm quyền; và (d) chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản sẽ trực tiếp gây ra chiến tranh và cách mạng.

Những điểm còn lại có thể được nêu trong trước tác của Lê-nin: “Sự phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị chính là quy luật bất biến của chủ nghĩa tư bản. Hệ quả theo sau đó chính là chiến thắng của chủ nghĩa xã hội ban đầu diễn ra tại chính một vài nước tư bản hoặc tại riêng một nước tư bản nào đó. Những người vô sản chiến thắng tại quốc gia đó khi loại bỏ những nhà tư sản và tổ chức nền sản xuất xã hội chủ nghĩa tại chính quê nhà có thể đứng lên chống lại thế giới tư bản còn lại và thu hút các các giai tầng bị đàn áp ở những nước khác cùng tham gia” [xem chú thích 1]. Cần phải chú ý rằng chỉ có cách mạng vô sản mới đủ sức hạ gục chủ nghĩa tư bản. Cần phải có cuộc tấn công cuối cùng của phong trào cách mạng vô sản để lật đổ hệ thống tư bản đang lung lay. Chắc chắn rằng cuộc tấn công đó sẽ nổ ra, vấn đề chỉ là sớm hay muộn.

Kể từ 50 năm trước cho tới khi Cách mạng (tháng Mười Nga) nổ ra, quan điểm tư tưởng này đã thực sự lôi cuốn các thành viên của phong trào cách mạng Nga. Bị trói buộc trong các giới hạn của chế độ Nga Sa Hoàng nhưng lại thiếu sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng đối với lựa chọn một cuộc cách mạng có đổ máu làm phương tiện đạt tiến bộ xã hội, những người ủng hộ cách mạng cảm thấy nản chí, bất mãn, tuyệt vọng hay không có đủ kiên nhẫn để để tìm kiếm một cuộc cách mạng thì họ tìm thấy trong học thuyết Mác-xít sự hợp lý hóa đầy thuận lợi cho những khát vọng tự nhiên của họ. Chính học thuyết Mác đã giúp họ có những lý giải mang tính khoa học giả hiệu về sự thiếu kiên định của họ, về sự phủ định tuyệt đối tất cả các giá trị trong chế độ Nga Hoàng, về sự khắc khoải với quyền lực và trả thù và về xu hướng muốn đi tắt đón đầu của họ. Chính vì học thuyết đáp ứng được nguyện vọng và thôi thúc tình cảm của họ nên họ đã đi đến chỗ ngầm tin tưởng vào chân lý và tính đúng đắn trong các giáo huấn của Mác- Lê-nin. Không có gì phải nghi ngờ về lòng trung thành của họ. Đây là lẽ tất yếu như bản chất của con người. Hiện tượng này đã được Edward Gibbon miêu tả sắc nét trong cuốn Sự suy vong và sụp đổ của Đế chế La Mã [The Decline and Fall of the Roman Empire]: “Rất dễ trượt bước nguy hiểm từ sự nhiệt thành sang sự lừa gạt; sự say mê hắc ám của Socrates đã tạo ra một ví dụ đáng nhớ về cách một người đàn ông khôn ngoan tự lừa gạt bản thân mình, cách một người tốt có thể đi lừa gạt người khác và cách lương tâm có thể bị ngủ vùi trong trạng thái tâm lý hỗn loạn, nửa tự ảo tưởng nửa muốn dối trá.” Chính những nhận thức đó đã đi cùng các thành viên của Đảng Bôn-sê-vic khi họ lên nắm quyền.

Nhưng giờ cũng là lúc nhận ra rằng trong suốt những năm chuẩn bị cho cách mạng, những con người đó, thực sự là ngay cả chính Mác, đã chú ý vào việc cần thiết lật đổ chính quyền của kẻ thù, việc phải tiến hành trước khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, hơn là quan tâm đến hình thái tương lai của chủ nghĩa xã hội [xem chú thích 2]. Vì vậy, khi cương lĩnh đặt ra được thi hành, khi giành được chính quyền, quan điểm của họ về cương lĩnh cần triển khai trên thực tế sau khi đã giành được chính quyền còn mơ hồ, xa vời và không thực tế. Ngoài việc quốc hữu hóa nền công nghiệp và sung công các cổ phần tư hữu lớn, không có sự nhất trí nào nữa. Cách đối xử với giai cấp nông dân, mà theo trình bày của chủ nghĩa Mác không phải là giai cấp vô sản vẫn luôn là một điểm gây tranh cãi và dao động trong suy nghĩ trong mười năm đầu của chính quyền cộng sản.

Hoàn cảnh của nước Nga ngay sau cách mạng, khi nổ ra cuộc nội chiến và can thiệp của nước ngoài, cùng với thực tế những người cộng sản chỉ đại diện cho một phần rất nhỏ nhân dân Nga đã khiến chính quyền độc tài[1] ra đời như một nhu cầu thiết yếu. Việc thử nghiệm “Chủ nghĩa Cộng sản thời chiến” cũng như vội vã cố gắng xóa bỏ sản xuất và kinh doanh tư nhân đã không may gây ra những hậu quả kinh tế và những khó khăn sau đó chống lại chính quyền cách mạng mới. Trong khi tạm thời giảm nhẹ nỗ lực cộng sản hóa nước Nga với chính sách kinh tế mới (NEP) đã giảm bớt một số khó khăn kinh tế và phục vụ phần nào mục đích trên, rõ ràng là “thành phần tư bản trong xã hội” cũng đã chuẩn bị để trục lợi ngay từ những biện pháp giảm nhẹ áp lực của của chính quyền, và do đó nếu được phép tiếp tục tồn tại, nó sẽ luôn là nhân tố đối đầu mạnh mẽ với chính quyền Xô Viết cũng như cạnh tranh ảnh hưởng nghiêm trọng trên toàn nước Nga. Ở một khía cạnh nào đó thì tình trạng tương tự cũng xảy ra với từng người nông dân, họ làm ăn nhỏ lẻ và cũng bị coi là nhà sản xuất tư nhân.

Nếu còn sống Lê-nin có thể đã là một con người vĩ đại đủ sức điều hòa các lực lượng mâu thuẫn trên để mang lại lợi ích cuối cùng cho xã hội Nga, điều này tất nhiên chưa thể khẳng định. Nhưng ngay cả nếu điều đó có thể xảy ra, Xta-lin và những người mà ông lãnh đạo trong cuộc chiến để nắm quyền kế tục vị trí của Lê-nin không khoan nhượng trước các thế lực chính trị cạnh tranh trong phạm vi quyền lực mà họ muốn nắm giữ. Họ luôn cảm thấy bất an. Bản ngã cuồng tín của họ quá khốc liệt và ích kỷ, không thể bị lung lạc bởi bất cứ truyền thống thỏa hiệp nào của người Anglo-Saxon nên không thể nghĩ đến chuyện phân chia quyền lực lâu dài. Xuất phát từ thế giới quan người Nga mang đậm chất Á Đông, họ mang theo hoài nghi về khả năng chung sống hòa bình và lâu dài giữa các lực lượng cạnh tranh. Do bị thuyết phục dễ dàng bởi giáo điều “lẽ phải” nên họ kiên quyết đòi khuất phục hoặc triệt tiêu tất cả các lực lượng đối lập. Ngoài Đảng cộng sản ra, xã hội Nga không được phép có tổ chức chặt chẽ nào khác nữa. Không được phép có những hình thức hành động tập thể hay lập hội vượt ra ngoài khuôn khổ chi phối của Đảng. Không một lực lượng nào khác trong xã hội Nga được phép có sức sống hay có tổ chức toàn vẹn. Chỉ duy nhất Đảng là có tổ chức, còn lại là khối quần chúng nhân dân vô tổ chức.

Và trong nội bộ của Đảng quy tắc tương tự cũng được áp dụng. Đa số các Đảng viên phải thực hiện các hình thức như kiểm tra, đánh giá, thảo luận, bầu cử và và hành động nhưng các hoạt động đó đó không phải do ý chí cá nhân mỗi Đảng viên thúc đẩy mà do hơi thở kinh ngạc của lãnh đạo Đảng và sự hiện diện đầy hăm dọa của “nghị quyết.”

Cần phải nhấn mạnh một lần nữa rằng về mặt chủ quan, những con người này của Đảng không vì lợi ích cá nhân mà đến với thể chế chuyên chế tuyệt đối. Họ tin tưởng hoàn toàn, và thấy rất dễ dàng tin rằng họ biết cái gì là tốt cho xã hội và họ có thể làm được điều tốt đó một khi quyền lực của họ đã được bảo đảm và không bị thách thức. Nhưng khi đi tìm điểm tựa an toàn cho sự cai trị của mình, họ đã không sẵn sàng chấp nhận bất cứ hạn chế nào đối với phương pháp của họ, dù là từ Chúa trời hay con người. Và cho đến khi có thể đạt được điểm tựa an toàn đó, họ đã đặt hạnh phúc và tự do của những ai đã tin tưởng giao phó cho họ ở phía rất xa trên cán cân ưu tiên của mình.

Hiện tại, hoàn cảnh nổi bật của chính quyền Xô Viết là cho đến tận ngày hôm nay họ vẫn chưa thể hoàn tất công cuộc củng cố chính trị và những con người trong điện Kremlin vẫn đang miệt mài chiến đấu để bảo vệ an ninh và tuyệt đối hóa chính quyền mà họ giành được tháng 11 năm 1917. Họ đã rất cố gắng để bảo vệ chính quyền chống lại những thế lực trong nước, trong chính xã hội Liên Xô. Ngoài ra họ cũng phải chiến đấu để chống lại những thế lực từ nước ngoài. Như chúng ta đã thấy, hệ tư tưởng Mác- Lê-nin đã dạy họ rằng thế giới bên ngoài kia là kẻ thù và trọng trách cuối cùng của họ chính là lật đổ các thế lực chính trị bên ngoài biên giới nước Nga. Lịch sử và truyền thống hùng mạnh của người Nga đã vươn lên giữ họ trong cảm giác đó. Nhưng cuối cùng sự không khoan nhượng đối với thế giới bên ngoài bắt đầu gặp phải phản ứng. Họ buộc phải sớm dùng đến một cụm từ khác của Gibbon, đó là “trừng phạt sự bất tuân” mà chính họ đã gây ra. Mỗi con người đều có đặc quyền không thể bác bỏ để chứng minh rằng mình đúng bằng luận điểm rằng thế giới ngoài kia là kẻ thù của anh ta (nên nó luôn nói ta sai). Vì nếu anh ta cứ lặp đi lặp lại nó thường xuyên và biến nó thành nền tảng cho hành vi của mình thì rốt cuộc niềm tin đó cũng trở thành đúng.

Một điều hiển nhiên là trong suy nghĩ của các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng như hệ tư tưởng của họ, họ không hề nhận thấy những lực lượng đối lập có chút gì tốt đẹp hay đúng đắn. Theo lý thuyết thì sự đối lập chỉ có thể xuất phát từ các lực lượng thù địch và suy đồi không thể cải tạo của chủ nghĩa tư bản đang giãy chết. Chừng nào các tàn dư của chủ nghĩa tư bản còn được thừa nhận chính thức là còn tồn tại ở nước Nga, thì còn có thể đổ cho nhân tố nội tại đó là cái cớ để duy trì thể chế độc tài đối với xã hội. Nhưng vì những tàn dư đó đã bị loại trừ, từng chút một, lý lẽ biện minh trên phải lùi dần; và khi những tàn dư đó được tuyên bố chính thức là đã bị bị diệt trừ triệt để, thì lý lẽ trên cũng phải biến mất cùng. Và thực tế này đã tạo ra một trong những thúc bách căn bản nhất đối với chế độ Xô Viết: kể từ khi chủ nghĩa tư bản không còn tồn tại ở Nga và kể từ khi không thể không thừa nhận sự chống đối gay gắt và lan rộng bộc phát từ quần chúng tự do đối với điện Kremlin, chính quyền Liên Xô đành phải thanh minh cho việc duy trì chế độ độc tài bằng cách nhấn mạnh vào hiểm họa của thế lực thù địch từ chủ nghĩa tư bản ở nước ngoài.

Việc này xảy ra từ sớm. Năm 1924, Xta-lin đã nêu cụ thể việc bảo vệ duy trì “các cơ quan đàn áp” – tức là quân đội và cảnh sát mật trên phương châm là “ở đâu có vòng vây của tư bản, nơi đó có nguy cơ can thiệp gây hậu quả xấu”. Cùng với lý luận trên, từ đó trở đi mọi thế lực chống đối ở trong nước Nga đều bị coi như là tay sai của các thế lực ngoại bang thù địch với chính quyền Xô Viết.

Biểu hiện tương tự đó là luận đề gốc rễ của chủ nghĩa cộng sản nhấn mạnh đến sự đối kháng căn bản giữa thế giới tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Nhưng rõ ràng qua các biểu hiện thì điểm nhấn này không có thực. Những dữ kiện thực tế liên quan đã bị làm rối tung lên bởi sự tồn tại của những oán hận thực sự từ bên ngoài do chính tư tưởng và thủ đoạn của chính quyền Liên Xô gây ra và sự tồn tại của các trung tâm sức mạnh quân sự khổng lồ của chế độ Phát xít ở Đức và Chính phủ Nhật Bản cuối những năm 1930 khi mà cả hai trên thực tế đã có ý đồ gây hấn chống lại Liên Xô. Nhưng có nhiều chứng cứ cho thấy điểm nhấn của Mát-xcơ-va về mối đe dọa từ bên ngoài đối với xã hội của Liên Xô không xuất phát từ thực tế thù địch của nước ngoài mà từ nhu cầu cần thiết phải biện minh cho việc duy trì nền độc tài ở trong nước.

Hiện tại sự duy trì của nền độc tài trong chính quyền Xô Viết cụ thể chính là việc tiếp tục theo đuổi quyền lực vô hạn trong nước song hành cùng sự tuyên truyền huyễn hoặc về thái độ thù địch ghê gớm của nước ngoài đã đi quá xa và tạo nên bộ máy chính quyền Xô Viết mà chúng ta hiện thấy. Các cơ quan quản lí trong nước vì không phục vụ mục đích đó đã dần tàn lụi. Trong khi đó cơ quan nào theo đuổi mục đích này lại phình ra mạnh mẽ. An ninh của chính quyền Xô Viết đi đến phải dựa trên nguyên tắc sắt đá của Đảng, trên sự khắc nghiệt và có mặt khắp mọi nơi của cảnh sát mật, và trên sự độc quyền kinh tế không thỏa hiệp của nhà nước. Các “cơ quan đàn áp”, công cụ để lãnh đạo Liên Xô đảm bảo an ninh trước các thế lực cạnh tranh, lại trở thành ông chủ của những người dân mà vốn dĩ chúng được thiết kế ra để phục vụ. Hiện nay bộ phận chính trong bộ máy chính quyền Xô Viết vẫn tận tâm để hoàn thiện nền chuyên chính và giữ vững nhận thức rằng nước Nga vẫn đang bị vây hãm và bị kẻ thù đe dọa. Và hàng triệu con người trong bộ máy đó phải dùng bất cứ giá nào để bảo vệ cho nhận thức trên, vì nếu không họ sẽ trở nên vô dụng.

Như những gì hiện nay cho thấy, những người cầm quyền không còn nghĩ về việc từ bỏ những cơ quan đàn áp đó. Nhu cầu về một chính quyền chuyên chính, cái mà nước Nga đã theo đuổi gần ba thập kỉ liên tiếp với mức độ tàn bạo vô song (ít nhất là về quy mô) trong thời hiện đại đã tỏ ra phản tác dụng ngay trong lòng nước Nga như nó đã xảy ra ở nước ngoài. Hệ thống cảnh sát dư thừa quá mức đã thổi bùng sự đối lập tiềm tàng đối với chế độ thành một thứ gì đó to lớn và nguy hiểm hơn trước đây.

Nhưng nhất là những người cầm quyền không thể từ bỏ viễn tưởng rằng việc duy trì nền chuyên chính của mình đã được bảo vệ vững chắc. Bởi lẽ viễn tưởng đó đã được đưa lên đài vinh quang trong tư duy của Liên Xô bởi những điều thái quá được thực hiện với danh nghĩa của nó; và hiện tại thì nó đã được neo vào suy nghĩ của bộ máy Xô Viết bằng những sợi dây ràng buộc chặt chẽ hơn nhiều so với hệ tư tưởng đơn thuần có thể có.

II.

Như vậy là đã đủ để nói về hoàn cảnh lịch sử. Thế còn phẩm chất chính trị của chính quyền Xô Viết mà chúng ta biết hiện nay được thể hiện ra như thế nào?

Không một thứ gì trong hệ tư tưởng nguyên khởi bị chính thức vứt bỏ vào sọt rác cả. Người ta duy trì niềm tin rằng chủ nghĩa tư bản về cơ bản là xấu xa, sự tiêu vong của nó là không thể tránh khỏi và giai cấp vô sản có nhiệm vụ hỗ trợ sự tiêu vong đó và đứng lên nắm quyền. Tuy nhiên, người ta lại nhấn mạnh chủ yếu vào những nội dung liên quan cụ thể nhất đến chính quyền Xô Viết: về vị trí của nó là chính quyền xã hội chủ nghĩa chân chính duy nhất trong thế giới tăm tối, lạc hướng và về các mối liên hệ quyền lực trong nó.

Nội dung đầu tiên trong đó là sự đối đầu đương nhiên giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Thực tế chúng ta thấy nội dung này đã được lập trình sẵn trong nền tảng của chính quyền Xô Viết. Nó có ảnh hưởng sâu rộng đến hành vi của Nga trong giao thiệp quốc tế. Điều đó có nghĩa là về phía Mát-xcơ-va không bao giờ có việc thành thực chấp nhận mục tiêu chung giữa Liên Xô và các chính quyền được coi là tư bản. Có một nhận định bất biến ở Mát-xcơ-va là mục tiêu của chủ nghĩa tư bản luôn đi ngược lại chính quyền Xô Viết, vì vậy nó đi ngược lại lợi ích của quần chúng nhân dân. Nếu chính phủ Liên Xô có đôi khi ký kết các văn kiện trái ngược với nhận thức này thì điều đó được xem như một bước đi chiến thuật để thương lượng với kẻ thù (kẻ không có danh dự) và nên được xem xét một cách thận trọng. Về cơ bản, sự đối kháng vẫn còn đó. Người ta cho là như vậy. Việc này kéo theo rất nhiều hiện tượng mà chúng ta thấy phiền phức trong việc tiến hành chính sách đối ngoại của điện Kremlin: sự bưng bít, thiếu thẳng thắn, hai mặt khó đoán, sự nghi ngờ cảnh giác và mục đích không thiện chí chút nào. Những hiện tượng đó vẫn tồn tại, trong tương lai gần. Những hiện tượng đó biến hóa ở rất nhiều mức độ và cường độ. Khi người Nga muốn một thứ gì đó từ chúng ta, họ sẽ tạm giấu đi một hay các đặc trưng đó ra sau lưng, và lúc đó sẽ có những người Mỹ đưa ra lời phát biểu đầy vui sướng rằng: “người Nga đã thay đổi”, và một số người thậm chí cố gắng nhận vơ lấy thành tích đã đem lại “những thay đổi” đó. Nhưng chúng ta không nên bị đánh lạc hướng bởi chiêu trò đó. Những đặc tính đó của chính sách Xô Viết, giống như định đề mà họ xuất phát, phù hợp với bản chất bên trong của chính quyền Xô Viết và chúng sẽ luôn ở quanh chúng ta, dù là trước mặt hay sau lưng cho đến khi bản chất nội tại của chính quyền Xô Viết bị thay đổi.

Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ tiếp tục khó thương lượng với Nga trong một thời gian dài nữa. Điều này không có nghĩa rằng chúng ta coi họ đang tiến hành một đường lối sống mái để lật đổ xã hội của chúng ta vào một ngày đã định. May mắn thay, lý thuyết về việc chủ nghĩa tư bản cuối cùng sẽ chắc chắn sụp đổ có nghĩa là không phải vội vàng về việc đó. Các lực lượng tiến bộ có đủ thời gian để chuẩn bị cho pha kết liễu cuối cùng. Trong lúc đó, điều hệ trọng là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”- nơi ốc đảo quyền lực mà chủ nghĩa xã hội đã giành được dưới hình hài của Liên Xô – cần được nâng niu và bảo vệ bởi tất cả những người cộng sản chân chính ở trong và ngoài nước, vận may (của Liên Xô) lại gia tăng, kẻ thù bị dồn vào thế khó và bị đánh bại. Việc thúc đẩy vội vàng các dự án cách mạng mang tính “phiêu lưu”, chưa chín muồi ở nước ngoài có thể làm cho chính quyền Xô Viết lúng túng và bất kể thế nào cũng là hành động không thể tha thứ, thậm chí phản cách mạng. Sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội là sự ủng hộ và thúc đẩy quyền lực của Liên Xô, theo cách hiểu của Mát-xcơ-va.

Điều này mang tới cho chúng ta nội dung quan trọng thứ hai trong quan điểm đương thời của Xô Viết. Đó là điện Kremlin không bao giờ sai lầm. Quan điểm của chính quyền Xô Viết về quyền lực là không cho phép tâm điểm của tổ chức nào hoạt động ngoài phạm vi của Đảng và yêu cầu tin tưởng rằng sự lãnh đạo của Đảng là nơi duy nhất mang lại chân lý, về lý thuyết là vậy. Bởi vì nếu sự thật còn được tìm thấy ở nơi nào khác nữa thì có nghĩa là nó sẽ thể hiện ra bằng hoạt động có tổ chức. Nhưng hoạt động có tổ chức chính là cái mà Kremlin không thể và sẽ không cho phép.

Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là luôn luôn đúng, và đã luôn đúng kể từ năm 1929 khi mà Xta-lin chính thức hóa quyền lực cá nhân bằng tuyên bố rằng các quyết định của bộ chính trị đều được đồng thuận.

Nguyên tắc không bao giờ sai lầm là nền tảng của kỷ luật sắt đá của Đảng cộng sản. Thực tế thì hai nội dung này hỗ trợ cho nhau. Kỷ luật hoàn hảo đòi hỏi sự thừa nhận của nguyên tắc không bao giờ sai lầm. Không bao giờ sai lầm đòi hỏi tuân thủ kỷ luận tuyệt đối. Và cả hai cùng nhau quyết định đến hành vi của cả bộ máy chính quyền Xô Viết. Nhưng chúng ta sẽ không thể hiểu được hệ quả của hai điều này nếu không xét đến nhân tố thứ ba: cụ thể là, giới lãnh đạo tự do đặt ra bất kỳ một luận điểm nào cho các mục đích chiến thuật mà họ thấy hữu dụng cho sự nghiệp cách mạng, tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào và đòi hỏi sự chấp nhận một cách trung thành và không được phép nghi ngờ của các thành viên trong toàn thể phong trào. Điều này có nghĩa là sự thật không phải là cái gì bất biến mà thực sự là được chính các nhà lãnh đạo Xô Viết tạo ra vì tất cả các ý định và mục đích kể trên. Sự thật đó có thể thay đổi từ tuần này sang tuần khác, từ tháng này sang tháng khác. Không có gì là tuyệt đối và bất biến – không có gì xuất phát từ thực tế khách quan. Chân lý chỉ có thể phát ra từ biểu hiện gần nhất của minh triết ở những người được cho là có trí tuệ tột đỉnh, vì họ thể hiện quy luật logic của lịch sử. Tác động tích tụ của các nhân tố này là nhằm mang lại niềm tin kiên định, không thể lay chuyển được cho tất cả các cơ quan, bộ máy bên dưới chính quyền Xô Viết vào phương hướng của chính quyền. Phương hướng này có thể thay đổi bởi ý muốn của điện Kremlin chứ không phải ai khác. Một khi đã có đường lối của Đảng đối với một vấn đề cụ thể của chính sách hiện tại, tất cả bộ máy chính quyền Xô Viết, gồm cả cơ chế ngoại giao phải chuyển động theo con đường bắt buộc giống như một món ô tô đồ chơi được lập trình và chạy theo hướng được cài sẵn, chỉ dừng khi gặp lực cản không thể chống lại được. Các cá nhân là bộ phận trong bộ máy đó không được cãi lý hay tranh luận dựa trên các nguồn thông tin từ bên ngoài. Quá trình tôi luyện đã dạy họ phải nghi ngờ và coi thường những lí lẽ thuyết phục trơn tru từ thế giới bên ngoài. Giống như con chó trắng trong trò quay đĩa, nó chỉ nghe “tiếng nói của chủ nhân”. Và nếu phải yêu cầu họ dừng tiến hành mệnh lệnh nào trước đó thì chỉ có chủ nhân mới làm được. Vì vậy, đại diện ngoại quốc không thể hy vọng rằng anh ta có thể gây ấn tượng với họ bằng lời nói. Điều tốt nhất anh ta có thể hy vọng là những lời lẽ đó có thể được truyền đến tai của những nhà lãnh đạo cao nhất, những người có thể thay đổi đường lối của đảng. Nhưng ngay cả thế thì họ cũng không dễ bị thuyết phục bởi bất cứ lý lẽ logic nào của đại diện giai cấp tư sản. Bởi lẽ chẳng có điểm gì chung về mục đích thì cũng chẳng thể có điểm gì chung về cách tiếp cận được. Vì lý do này, thực tế luôn có trọng lượng hơn lời nói khi đi đến tai của lãnh đạo Kremlin, và lời nói có trọng lượng nhất khi chúng có âm thanh phản ánh hoặc được hỗ trợ bởi những thực tế không thể chối cãi.

Nhưng chúng ta cũng phải thấy rằng điện Kremlin không bị thúc ép nào về tư tưởng để phải vội vã hoàn thành các mục tiêu. Giống như Giáo hội, Kremlin phải xử lý các nội dung tư tưởng mang giá trị lâu dài và nó có thể có đủ kiên nhẫn. Kremlin không có quyền gây nguy hiểm đến các thành quả cách mạng hiện có vì các thứ hão huyền của tương lai. Lời dạy của chính Lê-nin đòi hỏi phải thận trọng và linh hoạt khi theo đuổi các mục tiêu cộng sản. Một lần nữa, những lời giáo huấn này được khẳng định vững chắc bởi bài học lịch sử của nước Nga: của hàng thế kỉ chiến tranh mờ mịt giữa các lực lượng du cư trên những dải đồng bằng rộng lớn không phòng ngự. Ở đây, sự phòng ngừa, lường trước, linh động và mưu mẹo là những phẩm chất quý giá, tâm lý của người Nga hay người phương Đông tự nhiên đã coi trọng những giá trị đó. Vì thế điện Kremlin không lấy gì làm tội lỗi khi phải lùi bước trước thế lực mạnh hơn. Và do không phải chịu áp lực về thời gian, Kremlin không hoang mang sợ hãi khi thấy cần phải rút lui. Động thái chính trị của nó như một dòng chảy di động, có thể chuyển động liên tục ngay khi có sự cho phép, và luôn hướng về một mục tiêu đã định. Mối lo ngại chính của nó là làm sao để chắc chắn lấp đầy mọi ngõ ngách, vết nứt đang có trong lòng chảo quyền lực của thế giới. Nhưng nếu gặp phải rào cản không thể đánh bại trên đường đi, nó sẽ bình thản chấp nhận và tự điều chỉnh bản thân cho phù hợp. Vấn đề chính là phải luôn có áp lực, áp lực liên tiếp không ngừng trước những mục tiêu mà họ mong muốn. Không tồn tại bất cứ dấu vết cảm giác nào trong tâm lý của Liên Xô rằng họ phải đạt được mục tiêu cụ thể vào một thời điểm nhất định nào đó.

Chính những sự suy xét trên đã khiến việc ứng xử với ngoại giao của Liên Xô vừa dễ dàng hơn lại vừa khó khăn hơn so với ngoại giao của các nhà lãnh đạo hiếu chiến như Napoleon hay Hitler. Một mặt, ngoại giao Liên Xô nhạy cảm hơn với các thế lực đối kháng, sẵn sàng nhượng bộ về các lĩnh vực riêng lẻ trên mặt trận ngoại giao khi nhận thấy thế lực đó quá mạnh, vì vậy mà nó duy lý hơn về lô-gic và lời lẽ của chính quyền. Mặt khác, không dễ gì đánh bại hay làm nhụt chí được Liên Xô chỉ bởi một chiến thắng đơn lẻ của đối thủ. Sức sống kiên trì, bền bỉ của nó chứng tỏ nó không thể bị đánh bại chỉ bởi các hành động rời rạc đại diện cho quan điểm dân chủ nhất thời mà chỉ có thể bởi chính sách khôn ngoan dài hạn của các kẻ thù với nước Nga – những chính sách đó phải kiên định không kém trong mục đích, đa dạng và khôn ngoan không kém trong áp dụng so với các chính sách của Liên Xô.

Trong các tình huống trên, rõ ràng thành tố chính trong chính sách của Mỹ với Liên Xô phải là dài hạn, kiên trì nhưng chắc chắn và cảnh giác trong ngăn chặn khuynh hướng bành trướng của Nga. Mặc dù vậy, chúng ta cần lưu ý rằng chính sách này không liên quan gì đến những hành vi diễn kịch phóng đại bề ngoài, với những đe dọa hoặc lớn tiếng suông hoặc những cử chỉ hời hợt để thể hiện “cứng rắn” bề ngoài. Trong khi điện Kremlin về cơ bản vẫn linh hoạt trong phản ứng trước các thực tế chính trị, họ không thể bỏ qua những cân nhắc về uy tín. Giống như hầu hết các chính phủ khác, các cử chỉ đó có thể trở thành không lịch thiệp và đầy đe dọa khi họ không thể nhân nhượng dù lúc đó lý trí về hiện thực vẫn đang điều khiển. Các nhà lãnh đạo Nga luôn am hiểu tâm lý con người, và vì vậy họ nhận thức cao độ rằng mất bình tĩnh và mất kiểm soát bản thân không bao giờ có lợi khi trong lĩnh vực chính trị. Họ nhanh nhạy trong việc lợi dụng những điểm yếu. Vì những nguyên nhân trên, điều kiện cần để bang giao thành công với Nga là chính phủ nước ngoài phải luôn tỉnh táo và tập trung, và những yêu cầu đối với chính sách của Nga phải được đưa ra theo cách để ngỏ cho sự tuân thủ không quá gây hại đến uy tín của Nga.

III.
IV.

Xem toàn bộ nội dung văn bản tại đây: Nguon goc hanh vi cua Lien Xo.pdf


[1] Trong ngôn ngữ của các nước xã hội chủ nghĩa, đây là nền chuyên chính vô sản (Chú thích của người hiệu đính).

 

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây