vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


Bác bỏ luận điệu Trung Quốc khuyên Việt Nam ‘Lãng tử hồi đầu’

Vào ngày 02/05/2014, Trung Quốc (TQ) đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam và tiến hành khoan thăm dò dầu khí một cách phi pháp. Chính phủ Việt Nam đã mạnh mẽ tố cáo hành động này của Trung Quốc. Hành động ngang ngược của Trung Quốc cũng đã gây ra sự phản đối từ cộng đồng quốc tế. Đến ngày 16/07, Trung Quốc rút giàn khoan 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, sớm 1 tháng so với kế hoạch ban đầu. Sự kiện này để lại cho chúng ta những bài học hữu ích đến nay vẫn cần ôn lại.
Bác bỏ luận điệu Trung Quốc khuyên Việt Nam ‘Lãng tử hồi đầu’

Bác bỏ luận điệu Trung Quốc khuyên Việt Nam ‘Lãng tử hồi đầu’

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Hồ Anh Hải

Vào ngày 02/05/2014, Trung Quốc (TQ) đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam và tiến hành khoan thăm dò dầu khí một cách phi pháp. Chính phủ Việt Nam đã mạnh mẽ tố cáo hành động này của Trung Quốc. Hành động ngang ngược của Trung Quốc cũng đã gây ra sự phản đối từ cộng đồng quốc tế. Đến ngày 16/07, Trung Quốc rút giàn khoan 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, sớm 1 tháng so với kế hoạch ban đầu. Sự kiện này để lại cho chúng ta những bài học hữu ích đến nay vẫn cần ôn lại.

Mặc dù trắng trợn vi phạm chủ quyền của Việt Nam nhưng Trung Quốc luôn tuyên truyền rằng Việt Nam mới là kẻ quấy rối họ thực thi chủ quyền. Ngày 19/06/2014, Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Nhà nước Trung Quốc đăng bài “Trung Quốc khuyên Việt Nam: Kẻ hư hỏng nên tỉnh ngộ trở về” (TQ phụng khuyên Việt Nam “Lãng tử hồi đầu”).[1] Tác giả bài báo lời lẽ xách mé này là bà Tô Hiểu Huy (苏晓晖 Su Xiao Hui), Phó Chủ nhiệm Ban Nghiên cứu Chiến lược quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề Quốc tế của Trung Quốc.

Xin đọc một số câu trong bài báo này (chúng tôi in đậm những chỗ cần chú ý):

Trong tình hình Việt Nam mạnh mẽ quấy nhiễu công việc bình thường của công ty TQ tại quần đảo Tây Sa [Việt Nam gọi là Hoàng Sa], gây nên tình thế căng thẳng liên tục nâng cấp, Ủy viên Quốc vụ TQ Dương Khiết Trì đã đến Việt Nam hội đàm với Trưởng đoàn Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác song phương TQ-VN. Trong hội đàm, hai bên đều tỏ ý coi trọng mối quan hệ song phương và ý muốn quản lý kiểm soát tình hình trên biển; tình thế căng thẳng suýt bùng nổ đã dần dần được hòa hoãn…

Chuyến đi của Dương Khiết Trì cho thấy “TQ một lần nữa tạo cơ hội cho Việt Nam ghìm ngựa trước vực thẳm. Trước đó TQ đã nhiều lần nghiêm chỉnh tuyên bố quần đảo Tây Sa là lãnh thổ vốn có của TQ, không tồn tại bất cứ tranh chấp nào, và yêu cầu Việt Nam ngừng quấy rối tác nghiệp [thăm dò dầu khí, xây đắp đảo…] của phía TQ… Trong hội đàm, Dương Khiết Trì một lần nữa nói rõ giới hạn cuối cùng đối với Việt Nam, TQ mong muốn Việt Nam từ bỏ dã tâm không thiết thực, ngừng tạo ra các tranh chấp mới, quản lý được bất đồng, tránh gây thiệt hại lớn hơn cho mối quan hệ song phương. TQ bỏ ra rất nhiều công sức khuyên Việt Nam “Lãng tử Hồi đầu”, nhưng Việt Nam có thể đi cùng TQ hay không thì vẫn là vấn đề chưa biết…

Câu cuối cùng viết mập mờ, không rõ đây là lời Dương Khiết Trì hay lời Tô Hiểu Huy; nhưng đã đăng trên “Nhân dân Nhật báo” thì chắc chắn là quan điểm của Nhà nước TQ.

Chữ Hán “Lãng tử” là đứa con/em hư hỏng, bỏ nhà đi lêu lổng. “Lãng tử hồi đầu” là đứa con/em hư hỏng [đã đến lúc] ăn năn hối lỗi, cải tà quy chính, trở về với gia đình.

Trước thái độ nước lớn kẻ cả nói trên của TQ, chúng ta cần trả lời: Việt Nam đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ nước mình là hoàn toàn chính đáng, không có gì phải ăn năn hối cải và chẳng có cái “gia đình” nào ở TQ để chúng ta “trở về” cả.

Tại TQ lâu nay vẫn lưu hành một quan điểm lịch sử cho rằng Việt Nam vốn là đất của TQ, về sau lợi dụng cơ hội nội bộ TQ loạn lạc mà tách ra thành một quốc gia riêng; dân tộc Việt Nam vốn là một trong các tộc người bị tộc Hoa Hạ (từ triều Hán trở đi gọi là tộc Hán) ở Trung nguyên gọi vơ đũa cả nắm là “Bách Việt”, như Mân Việt, Ngô Việt, Lạc Việt…; trong khi các tộc này đều phục tùng sự “chinh phục” [thực ra là xâm lược và cai trị, cướp bóc, đồng hóa] của tộc Hoa Hạ thì tộc Việt Nam lại cứng đầu cứng cổ tách ra khỏi “gia đình Bách Việt”, độc lập với TQ; nay đã đến lúc Việt Nam – đứa con hư hỏng bỏ nhà ra đi này nên sớm hối cải, trở về với “gia đình” [nói cách khác, trở thành nước chư hầu của TQ].

Không ít dân mạng TQ tuyên truyền quan điểm nói người Việt Nam vốn là người TQ, sống trên đất TQ, có vương triều đầu tiên là triều Triệu Đà nước Nam Việt, hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân của nước này chính là miền bắc Việt Nam; về sau Việt Nam giành độc lập, tách ra thành một quốc gia nhưng vẫn triều cống TQ, nhận làm một “phiên quốc” [nước phên giậu] của TQ, cho tới khi bị Pháp chiếm (1884). Sử chính thống Việt Nam không coi nhà Triệu là vương triều của mình, chứng tỏ họ không còn coi TQ là “tôn chủ quốc” [chính quốc, nước mẹ] của mình, như thế là vong ân phụ nghĩa….

Các quan điểm kể trên hoàn toàn trái với sự thật lịch sử, cần dứt khoát bác bỏ.  Dưới đây xin trình bày quan điểm của chúng tôi về các vấn đề đó.

1- Lãnh thổ Việt Nam không phải là đất của Trung Quốc.

Sau khi đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước nhà, năm 1428 Lê Lợi ra “Bình Ngô Đại cáo” tuyên bố: “Như nước Đại Việt ta thủa trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác…”

Đúng là “bờ cõi đã chia”: Mảnh đất chữ S này trước đời Tần là một vùng đất riêng biệt, người phương bắc chưa hề đặt chân tới. Thiên nhiên rào chắn mảnh đất này cả bốn phía: phía tây có dãy Trường Sơn ngăn cách; phía đông và nam được biển bọc kín, phía bắc có dãy Thập vạn đại sơn hiểm trở. Việt Nam cách rất xa vùng Trung nguyên TQ – nơi sinh ra tộc Hoa Hạ và từ đời Tần xuất hiện đế chế Trung Hoa cùng chủ nghĩa Đại Hán. Chỉ sau khi bị nhà Tần chiếm (214 TCN), nước ta bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc và từ đó mới bắt đầu tiếp xúc với nền văn minh Trung Hoa. Đất nước này dù bị TQ cai trị hơn 1000 năm và về sau bị Pháp cai trị 80 năm nhưng vẫn là đất của dân tộc Việt Nam. Nếu nói lãnh thổ nào từng bị TQ chiếm đóng đều là lãnh thổ TQ thì cả châu Âu và TQ đều là lãnh thổ của Mông Cổ chăng?

Quá trình bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán khởi đầu bằng việc Tần Thủy Hoàng “chinh phục, thống nhất 6 nước”, thực chất là xâm chiếm lãnh thổ 6 nước Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề trong các năm 230-221 TCN nhằm biến nước Tần thành một đế quốc lớn mạnh. Quân Tần giết người như giết ngóe, dã man tới mức dù nước Hàn đã đầu hàng nhưng chúng vẫn “Ngũ mã phanh thây” vua nước Hàn và xử chém hàng trăm nghìn tù binh nước Triệu; dân thường bị giết nhiều vô kể. Thủ đoạn tàn ác này khiến các nước xung quanh sợ hãi, nhanh chóng đầu hàng khi bị quân nhà Tần xâm chiếm.

Năm 219 TCN, nhà Tần cho 50 vạn quân đánh xuống phía nam Trường Giang, quê hương của các bộ lạc “Bách Việt”, trong đó có vùng Lĩnh Nam ở phía nam dãy Ngũ Lĩnh. Cuộc chiến này ác liệt hơn cuộc chiến chiếm 6 nước trước đó, nhất là khi gặp sự chống cự của người Lạc Việt ở Quảng Tây. Đến năm 214 TCN nhà Tần mới chiếm được Lĩnh Nam sau khi mất hơn 10 vạn lính. Từ con số này có thể suy ra bao nhiêu vạn dân Bách Việt từng chết dưới tay quân Tần. Một số bộ lạc Bách Việt phải di tản, nhờ thế tồn tại và trở thành các dân tộc thiểu số ngày nay ở TQ; ví dụ người Lạc Việt, nay là dân tộc Tráng. Các bộ tộc ở lại dần dần bị tiêu diệt hoặc đồng hóa.

Hầu hết các vương triều TQ đều ra sức tăng số dân nước mình bằng chủ trương giết dân ở các vùng chiếm được – chủ yếu giết đàn ông và đưa nhiều người Hán đến định cư. Mấy nghìn năm qua chúng liên tục xâm chiếm các vùng xung quanh và đồng hoá các dân tộc thua trận, biến họ thành người Hán.[2] Kết quả là từ một nước Tần ở hai tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc hơn 2200 năm trước, hiện nay tộc Hán chiếm 92% trong số hơn 1,3 tỉ người sống trên lục địa rộng 9,6 triệu km2 và còn muốn chiếm 90% diện tích biển Đông. Ngày nay người TQ tự hào với công trạng ấy, cho dù tổ tiên họ phải trả giá bằng hàng trăm triệu sinh mạng – điều này cho thấy tư tưởng nước lớn “Đại nhất thống” đã ăn sâu vào đầu óc họ như thế nào.

2- Người Việt Nam không phải là người Trung Quốc và không thuộc cộng đồng Bách Việt

Xét về mặt ngôn ngữtiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt các dân tộcthời cổ, tổ tiên ta ở xa cách TQ cho nên tiếng Việt Nam thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, khác hẳn tiếng Hán và tiếng của các tộc Bách Việt đều thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

Tiếng Việt có những âm và thanh điệu không có trong tiếng Hán, như âm b, đ, v, g, nh, ng, ư,… , thanh điệu nặng và ngã.

Tiếng Việt có số lượng âm tiết (syllable) nhiều gấp khoảng 15 lần (ngót 18 nghìn so với hơn 1000 âm tiết);[3] nghĩa là có hơn chục nghìn âm tiết mà tiếng Hán không có, người Hán không phát âm được. Vì thế chữ Hán không thể ghi được tiếng Việt và tiếng Việt không thể nào là một phương ngữ của Hán ngữ. Mặc dù Việt ngữ dùng chữ Hán hai nghìn năm nhưng người TQ không thể nghe hiểu bất kỳ bài văn thơ chữ Hán nào đọc bằng tiếng Việt.

Hán ngữ nghèo âm tiết nên chỉ có thể dùng chữ viết loại ghi ý (ví dụ chữ Hán), mà không thể dùng chữ viết loại ghi âm như chữ Quốc ngữ Việt Nam.

Các tộc Bách Việt như Mân Việt, Ngô Việt, Vu Việt, Lạc Việt… đều nói một trong các thứ tiếng địa phương (phương ngữ) của Hán ngữ, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, và chữ Hán ghi được các phương ngữ đó.

Tháng 11/2016, TQ công bố kết quả công trình “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt” cấp nhà nước, thực hiện trong 8 năm, do sử gia nổi tiếng TQ Lương Đình Vọng chủ trì, xác định 8 dân tộc thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng [Zhuangdong] là Tráng, Đồng, Bố Y, Lê, Thái, Thủy, Mục Lão và Mao Nam có tổ tiên chung là người Lạc Việt; trong đó tộc Tráng (Zhuangzu, chữ Tráng viết là Bouxcuengh) đông nhất, là hậu duệ chính gốc của người Lạc Việt;[4] tiếng nói của họ, tức tiếng Lạc Việt, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, khác với ngữ hệ của tiếng Việt Nam.

Thời xưa một số người Tráng di cư đến Việt Nam làm thành dân tộc Tày-Nùng, hiện có 2,7 triệu người. Tiếng Tày-Nùng chính là tiếng Tráng, người Kinh nghe không hiểu.

Về ngữ pháp, một khác biệt rất rõ là tiếng Việt đặt tính ngữ sau danh từ, ngược với Hán ngữ, ta gọi là nói ngược. Ví dụ “Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc” trong Hán ngữ phải đặt tính ngữ “Nhân dân Trung Quốc” lên trước “Ngân hàng”, thành “Zhongguo Renmin Yinhang”. Tráng ngữ cũng viết “Cunghgoz Yinzminz Yinzhangz” theo thứ tự hệt như Hán ngữ. Trong tiếng Việt, trạng ngữ chỉ thời gian có thể đặt trước hoặc sau chủ ngữ nhưng trong tiếng Hán bao giờ cũng phải đặt trước chủ ngữ.

Lẽ thường các dân tộc ở gần nhau đều có ngôn ngữ giống nhau. Sự khác biệt ngôn ngữ quá lớn kể trên giữa tiếng Việt với tiếng của các tộc Bách Việt là bằng chứng rõ nhất cho thấy dân tộc ta thời xưa không ở gần cộng đồng các tộc Bách Việt.

Dĩ nhiên, sau hơn 10 thế kỷ là quận huyện của TQ và gần 2000 năm dùng chữ Hán, ngôn ngữ Việt chịu ảnh hưởng lớn của Hán ngữ, khoảng 60% từ vựng tiếng Việt có gốc chữ Hán.

Xét về thể hình, người Việt Nam thuộc chủng người thấp nhỏ, phụ nữ thanh mảnh, khác với người Bách Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang…Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học nước ta cho thấy hệ gene của người Việt Nam khác rất xa hệ gene của người Hán.[5]

Xét về văn hóa, mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Hán sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, nhưng nền văn hóa của dân tộc ta vẫn có nhiều điểm khác. Nổi bật nhất là sự khác biệt về văn hóa chính trị: Người Việt Nam coi độc lập dân tộc là lẽ sống cao nhất; dù bị nước ngoài chiếm đóng cai trị nhưng dân tộc ta xưa nay chưa hề ngừng đấu tranh giành độc lập và chống đồng hóa. Độc lập dân tộc đã trở thành đòi hỏi cao nhất, trên hết; đối với người Việt Nam “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, người Việt Nam đều coi các vương triều TQ cai trị mình là chính quyền của kẻ địch, và không ngừng chống lại chúng. Quan điểm đó hoàn toàn chính đáng. Triệu Đà người Hán quê Hà Bắc, xa Việt Nam hàng nghìn dặm vô cớ đem quân đánh chiếm nước ta đang sống trong hòa bình, gây ra cảnh chết chóc tàn phá đau thương, rõ ràng là kẻ xâm lược. Triều đình nước Nam Việt của Triệu Đà đóng đô tại Phiên Ngung, toàn bộ quan lại, quân đội là người TQ, quan quân cai trị Việt Nam cũng đều là người TQ; chúng chỉ lo áp bức bóc lột dân ta, sao có thể coi nhà Triệu là vương triều của Việt Nam?

Với quan điểm trên, tổ tiên ta, kể cả phụ nữ, đã không ngừng nổi dậy đánh đuổi giặc xâm lược: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (năm 248), … Khúc Thừa Dụ (năm 905) và kết thúc bằng chiến thắng giành độc lập của Ngô Quyền (năm 938).

Có sử gia TQ nói Mã Viện diệt khởi nghĩa Hai Bà Trưng là “công việc nội bộ” TQ, tương tự việc đàn áp mọi cuộc nổi dậy khác của nông dân TQ, không thể gọi là xâm lược.[6]Thật vô lý. Dân tộc ta đang sống yên lành bỗng dưng bị bọn người phương bắc vô cớ đánh chiếm nước ta rồi sáp nhập làm quận huyện của chúng. Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc chiếm đóng là chính nghĩa. Mã Viện đánh nước ta, rõ ràng là xâm lược.

Đặc biệt hơn cả là, dù bị chính quyền cai trị ép phải học và dùng chữ Hán suốt cả nghìn năm nhưng do hiểu rõ nguy cơ để mất tiếng mẹ đẻ thì sẽ để mất nòi giống dân tộc mình nên tổ tiên ta đã tìm mọi cách giữ nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng nền văn hóa tiếng Việt, nhờ thế dân tộc ta không bị Hán hóa. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Thời thuộc Pháp, dân ta cũng đấu tranh thắng lợi đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ buộc người Việt học tiếng Pháp từ bậc tiểu học; nhờ vậy sau 80 năm Pháp thuộc dân ta vẫn không nói tiếng Pháp như các thuộc địa Pháp khác.

Nhưng các tộc Bách Việt như Ngô Việt, Mân Việt…đều khá dễ dàng chấp nhận sự chiếm đóng, cai trị và đồng hóa của nhà Tần. Tộc Lạc Việt có đánh trả và lánh về vùng núi Quảng Tây, nhờ vậy giữ được tiếng nói; nhưng sau đó họ không dám nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược. Ngày nay họ trở thành một dân tộc thiểu số ở TQ, sống trong Khu Tự trị dân tộc Tráng, không được là một quốc gia độc lập như Việt Nam.

Ngay cả dân tộc Hán đông người nhất thế giới khi bị ngoại tộc (Mông tộc, Mãn tộc…) xâm lược cũng chịu để cho kẻ địch cai trị hàng trăm năm mà không vùng lên đánh đuổi; giới quan lại người Hán ngoan ngoãn làm tôi tớ cho vua chúa ngoại tộc, giúp chúng áp bức bóc lột đồng bào mình, ép họ phải theo văn hóa ngoại tộc. Thời Mãn Thanh, đàn ông TQ phải để đuôi sam theo kiểu tóc tộc Mãn, các triều thần phải khúm núm tự xưng là “nô tài” trước Hoàng đế người Mãn. Chính quyền TQ với đội ngũ quan lại cơ sở hầu hết là người Hán thời kỳ đầu còn bỏ chữ Hán, dùng chữ Mãn, và từng chặt đầu hàng triệu đàn ông TQ không chịu để đuôi sam. Hán tộc và các tộc Bách Việt đều coi nhà Nguyên và nhà Thanh là vương triều của mình, tuy thực ra đó chỉ là vương triều thực dân; thậm chí coi hoàng đế Thành Cát Tư Hãn của đế quốc Mông Cổ là anh hùng, coi Khang Hy là minh quân của người TQ…

Tóm lại, từ những khác biệt nhiều mặt kể trên, có thể khẳng định: Người Việt Nam thời cổ không phải là người di cư từ phương bắc xuống; trước khi nhà Tần xâm lược Việt Nam, dân ta không có quan hệ với các tộc người ở bên kia biên giới phía bắc. Dân tộc ta không phải là thành viên của cộng đồng Bách Việt. Tổ tiên ta chưa bao giờ ngừng đấu tranh giành độc lập dân tộc và trên thực tế đã giành được những thắng lợi vĩ đại, giữ được nguyên vẹn nòi giống và lãnh thổ. Chúng ta kiên quyết giữ vững truyền thống đó, không cho phép bất cứ kẻ nào xâm phạm đất nước này.

——————-

[1] 党报:中国再给越南机会奉劝浪子早回头    (2014.6.19  人民日报海外版 ) Báo Đảng: TQ một lần nữa cho VN cơ hội, hết lòng khuyên kẻ hư hỏng VN sớm tỉnh ngộ trở về (Nhân dân nhật báo, bản phát hành ra nước ngoài)

[2] Tộc người Hán: Một bản sắc được kiến tạoTia Sáng, 21/06/2019.

[3] Lạm bàn về tính ghi ý của chữ Hán (Nhân đọc “Nghiên cứu chữ Hán hiện đại của thế kỷ XX”)Tia Sáng, 26/06/2019.

[4] 《骆越方国研究》发布  (2016.11.07  人民网-文化频道) Công bố “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt”

[5] Công bố nghiên cứu lớn nhất về bộ gen của người ViệtNhân Dân, 16/07/2019.

[6] 越南反华情结:教科书写“越南史就是中国侵略史”  Tình cảm chống TQ của VN: Sách giáo khoa VN viết “Lịch sử VN là lịch sử TQ xâm lược”

18/07/1925: Hitler xuất bản cuốn tự truyện “Mein Kampf”

Print Friendly, PDF & Email

Hitlerlatest_2785757b

Nguồn: “Hitler publishes Mein Kampf,” History.com (truy cập ngày 16/7/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Vào ngày này năm 1925, bảy tháng sau khi được thả từ nhà tù Landsberg, lãnh đạo Đức Quốc xã Adolf Hitler xuất bản tập đầu tiên của bản tuyên ngôn cá nhân của ông, Mein Kampf. Được viết nên trong chín tháng Hitler ở tù, Mein Kampf, hay “Cuộc tranh đấu của tôi,” là một câu chuyện cay đắng nhưng huênh hoang với thái độ bài Do Thái, coi thường đạo đức, tôn thờ quyền lực, và các chi tiết trong kế hoạch thống trị thế giới của Hitler. Cuốn tự truyện này nhanh chóng trở thành kinh thánh của Đảng Quốc xã.

Đầu những năm 1920, hàng ngũ Đảng Quốc xã của Hitler đầy những người Đức bất mãn và ủng hộ đường lối của Đảng trong việc chán ghét, thù hận chính quyền dân chủ của nước Đức, chính trị cánh tả, và người Do Thái. Tháng 11 năm 1923, sau khi chính phủ Đức tiếp tục phải thanh toán các khoản bồi thường chiến tranh cho Anh và Pháp (sau Thế chiến I), Đảng Quốc xã phát động cuộc “đảo chính nhà hàng bia,” nỗ lực đầu tiên của họ để tiếm quyền chính phủ Đức (tức nền Cộng hòa Weimar) bằng vũ lực.

Hitler hi vọng rằng cuộc cách mạng dân tộc chủ nghĩa của ông ở Bavaria sẽ lan rộng trong quân đội Đức vốn đang bất mãn, điều đó sẽ hạ bệ chính phủ ở Berlin. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy đã bị đàn áp ngay lập tức. Hitler bị bắt và bị kết án năm năm tù giam vì tội phản quốc.

Được gửi đến nhà tù Landsberg, Hitler dành thời gian để soạn nên cuốn tự truyện Mein Kampf và trau dồi kỹ năng hùng biện của mình. Sau chín tháng trong tù, áp lực chính trị từ những người ủng hộ Đảng Quốc xã đã giúp ông được thả. Trong ít năm sau đó, Hitler cùng những lãnh đạo Đức Quốc xã khác tổ chức lại đảng của họ như một phong trào quần chúng cuồng tín và giành đươc đa số trong Quốc hội Đức bằng các phương tiện pháp lý trong năm 1932.

Cùng năm đó, Tổng thống Paul von Hindenburg đánh bại Hitler trong cuộc bầu cử tổng thống, nhưng đến tháng 1 năm 1933, ông buộc phải bổ nhiệm Hitler làm thủ tướng với hi vọng có thể buộc Hitler phản tuân phục như một thành viên trong nội các của tổng thống.

Tuy nhiên, Hindenburg đã đánh giá thấp sự liều lĩnh chính trị của Hitler, và một trong những hành động đầu tiên của vị thủ tướng mới là lợi dụng vụ phóng hỏa tòa nhà Quốc hội Đức như một cái cớ để kêu gọi tổng tuyển cử. Lực lượng cảnh sát dưới quyền Hermann Göring đã đàn áp phe đối lập của Đảng Quốc xã trước bầu cử, thế nên Đảng Quốc xã đã giành được đa số cần thiết. Ít lâu sau đó, Hitler lên nắm quyền lực tuyệt đối thông qua Đạo luật Trao quyền 1933 (Enabling Act – đạo luật sửa đổi Hiến pháp cho phép Hitler ban hành các đạo luật mà không cần thông qua Quốc hội – NBT).

Năm 1934, Hindenburg qua đời, những tàn tích cuối cùng của chính quyền dân chủ Đức bị phá bỏ, để Hitler trở thành lãnh tụ độc nhất của một quốc gia theo đuổi chiến tranh và diệt chủng.
 

Cân bằng lợi ích Mỹ-Trung thời Trump-Tập

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: David Lampton, “Balancing US–China interests in the Trump–Xi era”,
East Asia Forum, 10/12/2017

Người dịch: Huỳnh Hoa

Từ năm 1945 đến 2016, Hoa Kỳ sử dụng sức mạnh kinh tế, quân sự và hệ tư tưởng để xây dựng các thiết chế, các liên minh và các chế độ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu và tránh né một cuộc chiến tranh giữa các cường quốc. Để làm được như vậy, Hoa Kỳ đã nuôi dưỡng sự trỗi dậy của một “chòm sao” các cường quốc mới; trong đó đáng chú ý có Trung Quốc – quốc gia mà giờ đây Hoa Kỳ phải thương lượng. Nếu Hoa Kỳ muốn lợi ích của mình được đáp ứng, Washington phải giành được sự hợp tác của Bắc Kinh hơn là thúc ép họ.

Khi lên nhậm chức, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã tạm gác lại một số vấn đề dễ gây bất đồng với Trung Quốc với hy vọng sẽ đạt được mục tiêu đầu tiên của mình là giải trừ vũ khí hạt nhân ở Bắc Hàn. Khi nỗ lực đó thất bại, những ưu tiên quan trọng trong quan hệ Mỹ-Trung lại trở nên sôi động với những vấn đề trước kia bị nén lại.

Vài vấn đề như vậy – chẳng hạn như hoạt động bảo vệ tự do hàng hải của Hoa Kỳ ở Biển Đông, câu chuyện về thuế suất áp lên mặt hàng thép và nhôm, bán vũ khí cho Đài Loan, lời đe dọa siết chặt dòng chảy công nghệ và đầu tư cũng như cấm vận một số công ty Trung Quốc – có nguy cơ sẽ trở nên nghiêm trọng nếu không được xử lý một cách cẩn thận hơn là cách mà chính phủ của ông Trump đang thể hiện.

Thế thì, đâu là điều hữu ích mà Hoa Kỳ có thể làm? Có ba vấn đề mà Washington nên tập trung chú ý: nuôi dưỡng một sự cân bằng quyền lực kinh tế ở châu Á để thúc đẩy sự ổn định khu vực, đạt tới sự tương hỗ (reciprocity) lớn hơn nữa trong quan hệ Mỹ-Trung và xử lý vấn đề vũ khí hạt nhân và hỏa tiễn của Bắc Hàn.

Phần trung tâm trong tầm nhìn địa chính trị của ông Tập là sự mở rộng các mối liên kết khu vực và thúc đẩy đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế ở các nước phụ cận Trung Quốc để biến Trung Quốc thành tâm điểm của khu vực đang tăng trưởng nhanh này. Đối với Bắc Kinh, điều có có nghĩa là xây dựng mối liên kết bắc-nam – có thể coi là những chuỗi cung ứng xuất phát từ Trung Quốc, vươn tới Ấn Độ Dương, Đông Nam Á, biển Andaman, vịnh Bengal và xa hơn nữa.

Trừ phi Washington muốn châu Á trở thành không gian đơn cực đầy ảnh hưởng của Trung Quốc, Hoa Kỳ nên gắn bó nhiều hơn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực để nuôi dưỡng những mối liên kết, không chỉ theo hướng bắc-nam [hợp tung] mà cả theo hướng đông-tây [liên hoành] từ Ấn Độ tới Việt Nam xuyên qua Miến Điện, Thái Lan và Cambodia tới Nhật Bản và ra Thái Bình Dương rộng lớn.

Về tính tương hỗ, khi Trung Quốc được kết nạp vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2001, hoạt động ngoại thương và tài chính hải ngoại của nước này tăng trưởng rất mạnh mẽ. Tương tự, thặng dư của Trung Quốc trong giao dịch thương mại toàn cầu, và thương mại song phương với Hoa Kỳ, cũng tăng trưởng rất mạnh. Chẳng bao lâu, Bắc Kinh đã có được công nghệ, tiền vốn và năng lực để nắm lấy những cơ hội đang mở rộng ở nước ngoài mà không phải cung cấp sự tiếp cận thị trường nội địa cho Hoa Kỳ và các nước khác theo nguyên lý tương hỗ, có đi có lại.

Từ năm 2008 trở về sau, nhịp độ tự do hóa kinh tế nội địa, tài chính và ngoại thương đã bị chậm lại. Các đối tác thương mại của Trung Quốc khắp thế giới bắt đầu nhận ra rằng khi Trung Quốc lao ra nước ngoài để nắm bắt cơ hội thì nước này vẫn không mở cửa thị trường theo nguyên lý tương hỗ ở những lĩnh vực mà doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế so sánh. Hậu quả là, vấn đề “tính tương hỗ” và “công bằng” đã nổi lên hàng đầu, trọng tâm trong quan hệ Trung-Mỹ. Giờ đây, các công ty Hoa Kỳ phải tự hỏi, tại sao doanh nhân Trung Quốc được tự do thâu tóm các doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ của Hoa Kỳ ở những lĩnh vực mà Trung Quốc cấm cửa doanh nhân nước ngoài?

Trong khi nỗi căm ghét của người Mỹ dâng cao thì rất khó tìm ra những phương cách thúc đẩy tính tương hỗ với Bắc Kinh sao cho không gây thiệt hại cho người lao động Mỹ hoặc những người ngoài cuộc khác. Hạn chế vốn đầu tư của Trung Quốc vào các doanh nghiệp tạo ra việc làm sẽ làm giảm cơ hội có công việc của người Mỹ. Nhưng ngược lại, bỏ qua vấn đề này sẽ kích thích những đề xuất cực đoan trong nội bộ Hoa Kỳ cũng như sự khinh thường của Bắc Kinh.

Cuối cùng, vấn đề Bắc Hàn. Ông Trump nghĩ rằng những người tiền nhiệm của ông đã đúng trong việc gây sức ép buộc Bắc Kinh phải gia tăng áp lực lên Bắc Hàn và đánh giá rằng Bắc Kinh có đầy đủ phương tiện để làm như vậy. Ông Trump tin rằng, chỗ sai lầm của những người tiền nhiệm là ở chỗ trong khi gây sức ép cần thiết lại không nhân nhượng đủ để Bắc Kinh thấy họ đáng làm như vậy.

Và thế là, ông Trmp đề nghị Washington sẽ nhượng bộ Bắc Kinh ở một số lĩnh vực khác, trong đó có thương mại và Đài Loan – để đổi lấy việc Bắc Kinh gia tăng áp lực lên Bắc Hàn. Trong số những lý do khiến cho cách tiếp cận này đến nay vẫn không có hiệu quả (cho dù một số sự nhượng bộ mà ông Trump đã hứa hoàn toàn có khả năng thực hiện được), thì lý do nổi trội nhất là Bình Nhưỡng chống lại việc đi theo bất kỳ lời khuyên nào từ bên ngoài, vì sợ rằng chúng sẽ đưa chế độ Bắc Hàn tới chỗ chết.

Kết quả là giờ đây chính phủ của ông Trump một mình đối mặt với những sự lựa chọn khó khăn giống như các vị tiền nhiệm của ông, ngoại trừ chuyện ông Trump đặt cược quá lớn vào vấn đề này và Bắc Hàn đã đi xa hơn trên con đường phát triển vũ khí hạt nhân.

Đã đến lúc Washington (có sự tham vấn chặt chẽ với các đồng minh Nam Hàn và Nhật Bản) nên thừa nhận rằng Bắc Hàn có một khả năng vũ khí hạt nhân khiêm tốn, và Hoa Kỳ nên thay đổi mục tiêu, từ giải trừ vũ khí hạt nhân sang phòng ngừa việc sử dụng và phổ biến rộng rãi hơn cái khả năng mới này.

Quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc đang đầy rẫy vấn đề khó và sẽ tiếp tục như vậy trong một tương lai nhìn thấy được. Hoa Kỳ không còn đứng ở vị trí có thể thúc ép Trung Quốc để buộc nước này phải hợp tác. Mọi sự thay đổi chính sách ở Bắc Kinh phải được mang ra thương thảo và trong những vụ thương thảo này Washington phải tìm được sự cân bằng quyền lực và lợi ích.

David M Lampton là giáo sư và giám đốc trung tâm nghiên cứu Trung Quốc tại trường nghiên cứu quốc tế cao cấp thuộc đại học Johns Hopkins. Cuốn sách mới gần đây của ông là“Following the Leader: Ruling China, from Deng Xiaoping to Xi Jinping” (Đi theo lãnh tụ: Cai trị Trung Quốc từ Đặng Tiểu Bình tới Tập Cận Bình).

Nguồn: Viet-studies

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây