vannghecuocsong

http://vannghecuocsong.com


31/07/1975: Nhà lãnh đạo nghiệp đoàn Jimmy Hoffa mất tích

Vào ngày này năm 1975, James Riddle Hoffa, một trong những nhà lãnh đạo lao động có ảnh hưởng nhất của Hoa Kỳ trong thế kỷ 20, đã mất tích ở Detroit, Michigan, không bao giờ được nghe tới nữa. Mặc dù ông được cho là nạn nhân của một vụ tấn công của mafia, nhưng bằng chứng thuyết phục chưa bao giờ được tìm thấy,
31/07/1975: Nhà lãnh đạo nghiệp đoàn Jimmy Hoffa mất tích

31/07/1975: Nhà lãnh đạo nghiệp đoàn Jimmy Hoffa mất tích

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Jimmy Hoffa disappearsHistory.com

Biên dịch: Lê Hồng Loan

Vào ngày này năm 1975, James Riddle Hoffa, một trong những nhà lãnh đạo lao động có ảnh hưởng nhất của Hoa Kỳ trong thế kỷ 20, đã mất tích ở Detroit, Michigan, không bao giờ được nghe tới nữa. Mặc dù ông được cho là nạn nhân của một vụ tấn công của mafia, nhưng bằng chứng thuyết phục chưa bao giờ được tìm thấy, và cái chết của Hoffa vẫn còn là điều bí ẩn cho đến ngày nay.

Sinh năm 1913 trong một gia đình công nhân khai thác than nghèo ở Brazil, Indiana, Jimmy Hoffa đã chứng tỏ là một nhà lãnh đạo bẩm sinh từ khi còn trẻ. Ở tuổi 20, ông đã giúp tổ chức một cuộc đình công ở Detroit, và luôn là người ủng hộ cho những người lao động bị áp bức trong suốt quãng đời còn lại.

Sự cuốn hút và tài năng của Hoffa với tư cách là một người tổ chức nghiệp đoàn địa phương nhanh chóng giúp ông giành được sự chú ý của liên đoàn lao động Teamsters và giúp ông thăng tiến trong hàng ngũ của họ. Khi đó, còn là một liên minh nhỏ nhưng đang phát triển nhanh chóng, Teamsters đã tập hợp các tài xế xe tải trên khắp đất nước, và thông qua việc sử dụng các cuộc đình công, tẩy chay và một số phương pháp phản kháng mạnh mẽ hơn dù kém hợp pháp, họ đã giành được các lợi ích hợp đồng cho các công nhân.

Hoffa trở thành chủ tịch của Teamsters vào năm 1957, khi cựu lãnh đạo của tổ chức này bị cầm tù vì hối lộ. Với tư cách là người đứng đầu, Hoffa được ca ngợi vì đã làm việc không mệt mỏi để mở rộng liên minh, và vì sự cống hiến không ngừng nghỉ của ông cho ngay cả những thành viên ít quyền lực nhất của tổ chức. Sự quan tâm và khả năng dễ tiếp cận của ông được ghi lại trong một câu nói nổi tiếng được cho là của ông: “Bạn có gặp vấn đề gì không? Hãy gọi cho tôi. Chỉ cần nhấc điện thoại lên.”

Sự cống hiến của Hoffa cho giới công nhân và những bài diễn văn công cộng đầy nhiệt huyết khiến ông trở nên hết sức nổi tiếng, cả trong giới công nhân cũng như các chính trị gia và doanh nhân mà ông đàm phán cùng. Tuy nhiên, bất chấp tất cả các trận chiến mà ông đã chiến đấu và chiến thắng thay mặt cho những người tài xế Hoa Kỳ, ông cũng có một mặt tối. Trong nhiệm kỳ của Hoffa, nhiều nhà lãnh đạo của Teamster đã hợp tác với mafia để tống tiền và tham ô. Bản thân Hoffa cũng có quan hệ với những tên tội phạm cấp cao, và ông trở thành mục tiêu của một số cuộc điều tra của chính phủ trong suốt những năm 1960. Năm 1967, ông bị kết tội hối lộ và bị kết án 13 năm tù.

Dù ở trong tù, Hoffa không bao giờ từ bỏ vị trí của mình, và khi Richard Nixon ân xá cho ông vào năm 1971, ông đã sẵn sàng quay trở lại. Được thả ra với điều kiện không được tham gia các hoạt động công đoàn trong 10 năm, Hoffa đang chuẩn bị kế hoạch chống lại sự hạn chế này trước tòa thì ông biến mất vào ngày 31 tháng 07 năm 1975, tại bãi đậu xe của một nhà hàng ở Detroit, cách không xa nơi ông bắt đầu sự nghiệp tổ chức nghiệp đoàn của mình. Một số thuyết âm mưu đã được đưa ra để giải thích cho sự mất tích của Hoffa và vị trí xác của ông, nhưng sự thật vẫn còn là một điều bí ẩn.
 

17/04/1790: Benjamin Franklin qua đời

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Benjamin Franklin dies, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1790, chính khách, thợ in, nhà khoa học và tác giả người Mỹ, Benjamin Franklin, đã qua đời tại Philadelphia, thọ 84 tuổi.

Sinh ra tại Boston vào năm 1706. Lên 12 tuổi, Franklin theo học việc với người anh cùng cha khác mẹ – James, một thợ in và nhà xuất bản. Ông đã học nghề in, và sau đó vào năm 1723 thì chuyển đến Philadelphia làm việc sau khi xảy ra tranh chấp với anh trai. Sau một thời gian lưu trú tại London, ông bắt đầu in ấn và xuất bản báo chí cùng với một người bạn vào năm 1728. Năm 1729, công ty của Franklin giành được hợp đồng xuất bản tiền giấy của Pennsylvania và cũng bắt đầu xuất bản tờ Công báo Pennsylvania (Pennsylvania Gazette) – một trong những tờ báo nổi tiếng tại thuộc địa.

Từ năm 1732 đến năm 1757, ông viết và xuất bản Almanack của Richard Nghèo (Poor Richard’s Almanack) – một tạp chí trào phúng mà trong đó Franklin đã tạo ra những câu tục ngữ Mỹ như “Chúa giúp những kẻ tự giúp mình” và “Ngủ sớm và dậy sớm sẽ làm cho một người khỏe mạnh, giàu có và khôn ngoan.” (God helps those who help themselves; Early to bed and early to rise, makes a man healthy, wealthy, and wise.)

Khi tài sản và uy tín của ông tăng lên, Franklin dần nhận trách nhiệm công dân lớn hơn ở Philadelphia. Ông đã giúp thành lập thư viện, lực lượng cảnh sát, lực lượng cứu hỏa tình nguyện đầu tiên của thành phố, đồng thời còn thành lập học viện tiền thân của Đại học Pennsylvania. Từ năm 1737 đến năm 1753, ông là người quản lý bưu điện Philadelphia, và còn là thư ký của cơ quan lập pháp Pennsylvania. Năm 1753, ông trở thành Phó giám đốc bưu điện Bắc Mỹ (Deputy Postmaster General) phụ trách thư tín ở tất cả các bang thuộc địa miền Bắc.

Quan tâm sâu sắc đến khoa học và công nghệ, ông đã phát minh ra bếp lò Franklin (vẫn được sản xuất tới tận ngày nay) và kính hai tròng, cùng nhiều phát minh thực tiễn khác. Năm 1748, ông nhượng lại doanh nghiệp in ấn cho đối tác của mình để có thêm thời gian cho công việc thí nghiệm. Hiện tượng điện đã làm ông say mê. Trong một thí nghiệm, Franklin đã thả diều giữa một cơn giông để chứng minh rằng sét là sự phóng điện, sau đó ông phát minh ra cột thu lôi. Nhiều thuật ngữ dùng để thảo luận về điện, bao gồm điện dương, điện âm, pin và dây dẫn, đều là do Franklin đặt ra trong các bài báo khoa học của mình. Ông là nhà khoa học Mỹ đầu tiên được đánh giá cao trong giới khoa học châu Âu.

Franklin cũng hoạt động tích cực trong các vấn đề thuộc địa. Năm 1754, ông đề xuất một liên minh thuộc địa nhưng bị người Anh bác bỏ. Năm 1757, ông tới London để tranh luận về quyền được đánh thuế các tài sản khổng lồ của dòng họ Penn ở Pennsylvania. Năm 1764, ông tiếp tục sang Anh để xin một điều lệ mới cho Pennsylvania. Franklin đã ở Anh khi Nghị viện thông qua Đạo luật Tem (Stamp Act) – một luật thuế nhằm tăng doanh thu cho quân Anh tại Mỹ. Thất bại của ông trong việc phản đối đạo luật gây tranh cãi này là nguyên nhân của nhiều chỉ trích sâu sắc tại thuộc địa, nhưng Franklin đã nhanh chóng tự chuộc lỗi bằng cách bảo vệ các quyền của Mỹ trước Hạ viện Anh. Khi căng thẳng giữa thuộc địa và chính quốc gia tăng, ông tiếp tục ở lại London và trở thành đại diện cho một số thuộc địa.

Franklin quay lại Mỹ vào năm 1775, khi Cách mạng Mỹ đến gần và trở thành một thành viên của Quốc Hội Lục địa. Năm 1776, ông đã giúp soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, và sang tháng 07 thì là người ký kết văn kiện cuối cùng. Trớ trêu thay, cùng lúc ấy, con trai ngoài giá thú của Franklin, William Franklin, người mà ông và vợ đã nuôi nấng, lại nổi lên như là một nhà lãnh đạo của phe Loyalists (những người trung thành với Đế quốc Anh.) Năm 1776, Quốc Hội đã cử Benjamin Franklin, một trong những nhà chính trị nổi bật nhất của Mỹ, sang Pháp làm nhà ngoại giao. Được đón tiếp một cách nhiệt tình, năm 1778, ông đã thành công trong việc đảm bảo hai hiệp ước cung cấp cho Mỹ sự trợ giúp quân sự và kinh tế đáng kể. Năm 1781, với sự giúp đỡ của Pháp, người Anh đã bị đánh bại. Cùng John Jay và John Adams, Franklin đã thương lượng Hiệp ước Paris với Anh, được ký năm 1783.

Năm 1785, Franklin trở về Mỹ. Trong lần phục vụ cuối cùng của mình, ông là một đại biểu của Hội nghị Hiến pháp (Constitutional Convention of 1787) và đã làm việc chăm chỉ để văn kiện được phê chuẩn. Sau khi ông qua đời năm 1790, Philadelphia đã tổ chức cho ông đám tang lớn nhất trong lịch sử thành phố.
 

Hatshepsut – Nữ pharaoh Ai Cập trị vì lâu nhất

Print Friendly, PDF & Email

Hatshepsut-queen-mummy

Nguồn: 100 Leaders (truy cập ngày 28/8/2015)

Biên dịch & Hiệu đính: Phạm Hồng Anh

Là con gái của pharaoh (pha-ra-ông) Thutmose I, Hatshepsut trở thành vị pharaoh thứ năm của Ai Cập thuộc triều đại thứ mười tám. Trong suốt hơn 20 năm trị vì, bà dẫn dắt Ai Cập gây dựng lại ngành thương mại vốn tàn lụi từ những cuộc chiến tranh trước đó. Bà cũng cho xây dựng rất nhiều công trình, các tác phẩm điêu khắc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Mặc dù bà không phải là người phụ nữ đầu tiên trị vì Ai Cập nhưng vẫn có thể xem bà là nữ pharaoh vĩ đại đầu tiên.

Sinh ra trong vương triều Thutmose I, Hatshepsut kết hôn với người anh cùng cha khác mẹ là Thutmose II (một tập tục phổ biến thời bấy giờ.) Sau khi cha qua đời, Hatshepsut và Thutmose II đồng trị vì Ai Cập.

Hatshepsut tuyên bố mình là người kế vị được vua cha chỉ định, và giữ chức quan nhiếp chính cùng người kế vị trẻ tuổi Thutmose III – là con trai của chồng bà và một người vợ khác. Ngay cả khi Thutmose III đã trưởng thành, Hatshepsut vẫn kiểm soát mọi thứ, còn Thutmose III chỉ đứng ở vị trí số hai. Những bức tượng của bà thường khắc họa hình ảnh bà trong trang phục của một vị pharaoh (và thậm chí có cả bộ râu giả truyền thống).

Dưới triều đại của mình, Hatshepsut dẫn dắt Ai Cập thiết lập lại những tuyến đường thương mại vốn bị gián đoạn bởi những cuộc xâm lược trước đây. Bà cử một đoàn thương gia sang Vương quốc Punt (có lẽ ở phía đông nam Ai Cập), và họ quay về mang theo 31 cây mộc dược được bảo quản cẩn thận.

Hatshepsut thể hiện khả năng lãnh đạo của mình qua việc cho tiến hành hàng trăm dự án xây dựng khắp đất nước Ai Cập. Những công trình của bà không chỉ nhiều mà còn hùng vĩ hơn những công trình trước đó. Dưới sự chỉ đạo của bà, các công nhân đã dựng được những cột tháp obelisk cao nhất trên thế giới tại các Đền Karnack, Đền Pakhet dưới các mỏm đá phía đông dòng sông Nile, và đền an táng của bà ở bờ tây sông Nile. Những triều vua sau cũng chịu ảnh hưởng của bà khi xây dựng Thung lũng của các vị Vua (Valley of the Kings).

Sau khi Hatshepsut qua đời, Thutmose III tiến hành một chiến dịch lớn để xóa bỏ người mẹ kế của mình ra khỏi sử sách. Mặc dù bị những triều đại sau hạ thấp, Hatshepsut vẫn là một vị lãnh đạo hùng mạnh trong bối cảnh phụ nữ không được công nhận bất cứ vai trò lãnh đạo nào, chứ chưa nói đến cương vị của một pharaoh. Xác ướp của bà được Howard Carter tìm thấy vào năm 1903, nhưng mãi tới năm 2008 mới được xác nhận.

v

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây