Quản lý các cường quốc

Thứ tư - 31/07/2019 21:11
Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các cường quốc là một thực tế. Hoa Kỳ đang cạnh tranh với một nước Nga ngày càng tích cực và một Trung Quốc đang trỗi dậy. Trung Đông, Biển Đông, và Ukraine chỉ là ba sân khấu mà thực tế mới này diễn ra.
Quản lý các cường quốc

Quản lý một thế giới của các cường quốc

Print Friendly, PDF & Email

2010_G-20_Seoul_summit

Nguồn: Javier Solana, “Managing a World of Great Powers”, Project Syndicate, 30/11/2015.

Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các cường quốc là một thực tế. Hoa Kỳ đang cạnh tranh với một nước Nga ngày càng tích cực và một Trung Quốc đang trỗi dậy. Trung Đông, Biển Đông, và Ukraine chỉ là ba sân khấu mà thực tế mới này diễn ra.

Sau khi đọc lại cuốn s­ách The Great Experiment (Cuộc thí nghiệm vĩ đại) của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Strobe Talbott, tôi có ấn tượng rằng hạt giống của những động lực ngày nay đã được gieo mầm từ trước. Cuốn sách miêu tả cuộc trò chuyện diễn ra vào năm 2000 giữa Tổng thống Bill Clinton và Tổng thống mới đắc cử George W. Bush. Clinton nói rằng chiến dịch tranh cử của Bush cho thấy vấn đề an ninh được Bush quan tâm nhất chính là Saddam Hussein và việc xây dựng một hệ thống phòng thủ chống tên lửa qui mô lớn. “Hoàn toàn chính xác”, Bush nói.

Những vấn đề này đã được gác lại khi thảm kịch tấn công khủng bố vào Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001 bất ngờ xảy đến, đem đến một thời kì hợp tác quốc tế mà trong đó sự đoàn kết chống khủng bố là bao trùm. Đó là thời kì mà tất cả chúng ta đều như là người Mỹ, và Bush đã miêu tả Putin là “rất thẳng thắn và đáng tin cậy”.

Gió bắt đầu xoay chiều tháng 12 năm đó, khi Mỹ tuyên bố rút khỏi Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo để xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa nhằm phòng vệ trước một Iran có tiềm năng sẽ hạt nhân hóa. Điều này đã được nước Nga chú ý tới.

Nước Mỹ ở thời điểm đó dường như không hiểu rằng một thế giới đa cực đang hình thành – điều khiến cho những chính sách mà Bush và Clinton đã thảo luận năm 2000 trở nên rất khó theo đuổi mà không gây ra hậu quả nghiêm trọng nào. Trong một bài phát biểu năm 2007 tại Hội nghi An ninh Munich, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã làm rõ điều này, kịch liệt phản đối sự can thiệp vào Iraq, và đặc biệt là kế hoạch của Mỹ nhằm mở rộng hệ thống phòng thủ tên lửa sang châu Âu, gọi đây là hành động gây hấn đối với Nga và vi phạm an ninh chung châu Âu.

Vào mùa hè năm 2008, ba sự kiện đã khiến trật tự đa cực mới trở nên rõ nét hơn. Trung Quốc làm cả thế giới kinh ngạc khi là nước chủ nhà của Thế vận hội Olympic, củng cố vị thế của mình như một nước đóng vai trò quan trọng trên trường quốc tế. Các hành động quân sự của Nga tại Gruzia giữa lúc diễn ra Thế vận hội cho thế giới thấy rằng khái niệm về phạm vi ảnh hưởng vẫn còn giá trị ở Điện Kremlin. Và sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Mỹ Lehman Brothers một tháng sau đó đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến kinh tế thế giới đến giờ vẫn chưa phục hồi hoàn toàn, cho thấy sự dễ bị tổn thương của các nền kinh tế tiên tiến, trong khi Trung Quốc lại ít bị ảnh hưởng.

Với sự tự tin vào vị thế cường quốc của mình, Trung Quốc dường như đã vượt qua khái niệm “trỗi dậy hòa bình” mà các nhà lãnh đạo đã viện dẫn tới từ thời Đặng Tiểu Bình, khi áp dụng một chính sách cứng rắn hơn với các nước láng giềng. Viện vào các quyền lịch sử, Trung Quốc bắt đầu mở rộng các yêu sách lãnh thổ của mình cùng với sự hiện diện quân sự ở Biển Hoa Đông và Biển Đông. Năm 2013, căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi Trung Quốc đơn phương tuyên bố thành lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) bao trùm các lãnh thổ trên Biển Hoa Đông mà nước này tuyên bố chủ quyền nhưng bị Nhật kiểm soát.

Nhiều nước bị ảnh hưởng bởi các hành động của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông có hiệp ước an ninh với Mỹ – cường quốc hải quân ở Thái Bình Dương kể từ Thế Chiến II. Vì thế, tuyên bố của Trung Quốc về vùng nhận dạng phòng không được Mỹ coi là một sự khiêu khích. Với việc mở rộng các yêu sách chủ quyền, Trung Quốc thực sự cũng mở rộng cả các yêu sách đòi ảnh hưởng của mình.

Các thể chế quốc tế cũng phải mất một thời gian mới bắt kịp với trật tự thay đổi của thế giới. Hội nghị G-20 năm 2010 ở Seoul đã đi đến một thỏa thuận tới năm 2014 sẽ tăng hạn mức cho các nước mới nổi trong Quĩ Tiền tệ Quốc tế. Tuy nhiên Quốc hội Mỹ đã từ chối thông qua các thay đổi này nên thỏa thuận này không mang lại kết quả gì.

Trung Quốc sau đó tự mình giải quyết vấn đề, đi tiên phong trong việc thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (AIIB). Sự phân mảnh của các thể chế quốc tế dường như là không tránh khỏi cho đến khi các nước châu Âu quyết định gia nhập AIIB. Mặc dù ban đầu Mỹ phản đối và vẫn từ chối tham gia, quyết định trên nhận được những thái độ khác trong cuộc trò chuyện sau này giữa chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Trong khi đó, Nga thể hiện những tham vọng mới trong chính sách đối ngoại của mình ở Ukraine. Với việc vi phạm Định ước Helsinki (Helsinki Final Act) vào mùa xuân năm 2014, Putin đã đặt chính sách đối ngoại của Nga vào thế đối đầu trực tiếp với Mỹ và châu Âu. Điều này được tái khẳng định vào tháng 9 vừa qua khi Putin quyết định can dự vào khủng hoảng Syria, bảo vệ vai trò của Nga trong mọi nỗ lực nhằm mang lại hòa bình cho Syria.

Ngày nay, thế giới khác xa so với những gì người ta tưởng tượng vào cuối thế kỉ trước, một thập niên sau khi Bức tường Berlin sụp đổ. Xét về lịch sử mà nói, 15 năm có thể dài hoặc ngắn phụ thuộc vào cường độ thay đổi. Trong suốt 15 năm của sự gia tăng cạnh tranh giữa các cường quốc và sự tái bất ổn ở Trung Đông – bao gồm Mùa xuân Ả Rập, sự nổi lên của nhà nước Hồi Giáo tàn bạo, các cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai dòng Sunni-Shia, và nỗi thống khổ khôn xiết của người dân ở đó – có thể nói những sự thay đổi này là rất mãnh liệt.

Nhưng đối đầu không phải là tất cả câu chuyện. Những bước đi đầy hứa hẹn đã được thực hiện ở hai lĩnh vực quan trọng: không phổ biến vũ khí hạt nhân, đặc biệt là thông qua các thỏa thuận hạt nhân với Iran, và cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, thể hiện trong sự chuẩn bị đáng khích lệ cho hội nghị thượng đỉnh về khí hậu hiện nay ở Paris.

Nếu có một bài học từ tất cả những điều này, thì đó là ngoại giao được thực hiện tốt và kiên trì vẫn có một sức mạnh phi thường trong việc giải quyết các mâu thuẫn. Đó vẫn là công cụ tốt nhất để tạo ra những kết quả mang tính hợp tác, điều bị cản trở bởi sự đối đầu.

Javier Solana nguyên là Đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu phụ trách chính sách Đối ngoại và An ninh, Tổng thư ký NATO, và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha.

Copyright: Project Syndicate 2015 – Managing a World of Great Powers

Xem thêm:

http://nghiencuuquocte.net/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly-luan-phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/
 

George Kennan: Người bày mưu đánh bại Liên Xô

Print Friendly, PDF & Email

george kennan

Tác giả: Hoàng Anh Tuấn

Bài liên quan: Nguồn gốc hành vi của Liên Xô

Đối với nhiều thế hệ quan chức ngoại giao Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, George Kennan (sinh ngày 16/2/1904 và mất ngày 17/3/2005) được coi là nhà ngoại giao kỳ cựu và vĩ đại nhất. George Kennan được coi là cha đẻ của một trong những chiến lược lớn nhất, dài nhất, tốn kém nhất và được thực thi liên tục bởi nhiều đời Tổng thống Mỹ trong suốt 45 năm, từ năm 1946-1990, đó là Chiến lược Kiềm chế (Containment Strategy – hay còn gọi là Chiến lược Ngăn chặn).

George Kennan gia nhập Bộ Ngoại giao Mỹ năm 1926 ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Princeton. Kennan đã chọn “nghiệp” nghiên cứu về Liên Xô, làm việc tại nhiều phái đoàn ngoại giao Mỹ ở châu Âu, đọc thông viết thạo tiếng Nga, hiểu được tâm lý, văn hóa Nga và nhanh chóng trở thành chuyên gia hàng đầu về Nga, Liên Xô của Bộ Ngoại giao Mỹ nói riêng và nước Mỹ nói chung.

Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, quan hệ giữa Liên Xô với Mỹ và Anh là quan hệ đồng minh và ba nước này là nòng cốt của phe Đồng minh chống lại Khối trục Phát-xít (gồm Nhật, Italia và Đức). Thực ra đây là một liên minh có tính tình thế với mục đích đánh bại các nước Phát-xít vì sự tồn tại của chính mình, chứ kỳ thực các lợi ích, giá trị chung để gắn kết quan hệ liên minh 3 nước không nhiều.

Do đó, sau khi kẻ thù chung là phe Phát-xít bị đại bại, các nghi ngờ về ý đồ chiến lược cũng như sự rạn nứt liên minh giữa Liên Xô với Mỹ, Anh và Phương Tây là đương nhiên. Lúc này cả hai phe do Mỹ và Liên Xô cầm đầu đều có nhu cầu tập hợp đồng minh, bảo vệ khu vực ảnh hưởng đã được phân chia theo các Hiệp định Yalta và Postdam, đồng thời cạnh tranh quyết liệt về quyền lực và ảnh hưởng tại các khu vực khác trên thế giới.

Tuy nhiên, do quan hệ đồng minh và hợp tác Mỹ-Anh-Xô được xây dựng và củng cố trong suốt cuộc chiến, nên người dân các nước này có thái độ hữu nghị và tình cảm tương đối tốt với nhau. Trong bối cảnh mới khi không còn coi nhau là “bạn”, là “đồng minh”, và vì cuộc chiến sinh tồn mới nên cả hai phía đều phải tìm các lý do “hợp lý” để có thể coi nhau như những kẻ thù không đội trời chung.

Đặc biệt nước Mỹ cần tìm một “con ngáo ộp” đủ lớn, đủ mạnh để tập hợp lực lượng đồng minh, củng cố sự thống nhất và đoàn kết cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm thiết lập một trật tự mới do Mỹ lãnh đạo. Trong bối cảnh đó Mỹ rất cần có một sự đánh giá mới về Liên Xô nhằm xây dựng chiến lược mới.

Ngày 3/2/1946, Bộ Ngoại giao Mỹ gửi Bức điện mật số 284 cho Sứ quán Mỹ tại Moscow, yêu cầu phân tích và đánh giá 5 điểm sau về Liên Xô:

  1. Các nét cơ bản về Tầm nhìn của Liên Xô thời hậu chiến;
  2. Cơ sở của Tầm nhìn này là gì;
  3. Khả năng hiên thực hóa chính sách này trong các tuyên bố, văn kiện chính thức;
  4. Các tiếp xúc hoặc đánh giá bên ngoài về việc thực hiện chính sách này;
  5. Cách thức đối phó của Mỹ.

Khi đó George Kennan là Đại biện lâm thời của Mỹ tại Moscow (do Đại sứ vắng mặt) và đây là lúc Kennan thể hiện dấu ấn và khả năng của mình. Ngày 22/2/1946, George Kennan đích thân thảo một bức điện dài (gần 20 trang). Đây là một điều rất không bình thường. Vì do lý do bảo mật nên giữa Bộ Ngoại giao các nước và các Sứ quán bên ngoài hiếm khi trao đổi các bức điện dài như vậy. Và cũng chính vì lý do này nên bức điện trả lời của George Kennan được gọi là The Long Telegram (Bức điện tín dài).

Trong bức điện này, George Kennan không chỉ trả lời cặn kẽ các câu hỏi trên, mà còn phân tích một cách toàn diện về các vấn đề sau: (i) Tư duy đối ngoại của Nga/Liên Xô; (ii) Tại sao Nga/Liên Xô lại có tư duy này; (iii) Tư duy này được thể hiện ra sao trên thực tế và Liên Xô sẽ hành động như thế nào; (iv) Chiến lược mới mà Liên Xô sẽ áp dụng có các tác động và hệ quả ra sao đối với Mỹ và đồng minh; (v) Mỹ cần có các chiến lược gì để đối phó với Liên Xô.

Cụ thể, George Kennan cho rằng:

Một, tư duy đối ngoại của Liên Xô xuất phát từ truyền thống tư duy lâu đời của người Nga hình thành từ hình thể địa lý đất nước, truyền thống văn hóa và tâm lý, đó là luôn ở trong trạng thái bất an, cho rằng các đế quốc châu Âu luôn tìm cách làm suy yếu nước Nga. Ý thức hệ không tác động nhiều đến tư duy này.

Hai, người Nga không có văn hóa thỏa hiệp chính trị kiểu Mỹ-Anh, do đó không thể chung sống theo kiểu “cùng tồn tại hòa bình” với Mỹ và Anh, mà chỉ có kiểu đấu tranh “một mất, một còn”. Do đó, Mỹ và phương Tây sẽ không thể chung sống hòa bình với Liên Xô, mà quan hệ sẽ là đối đấu cho đến khi một trong hai bên bị sụp đổ. Cuộc đấu này sẽ kéo dài và Liên Xô rất kiên trì, do đó Mỹ cần phải chuẩn bị một chiến lược dài hơi.

Ba, để đối phó với Liên Xô, Kennan cho rằng Mỹ cần xây dựng một chiến lược mới, đó là Chiến lược Kiềm chế nhằm kiềm chế Liên Xô một cách toàn diện. Kennan cũng cho rằng Mỹ cần phải củng cố trận địa của mình là 3 trung tâm gồm Mỹ, Nhật, và châu Âu. Kennan dự đoán sự cạnh tranh ảnh hưởng diễn ra khốc liệt nhất tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Phân tích này là một trong các nguyên nhân đưa đến sự ra đời của Kế hoạch Marshall giúp phục hồi kinh tế Nhật và châu Âu sau chiến tranh.

Bốn, Kennan cho rằng việc kiềm chế chỉ tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chính trị và kinh tế. Theo Kennan, Liên Xô cũng có điểm yếu về tâm lý là “ngại” đối đầu trực diện, do đó nếu Mỹ và phương Tây thi hành chính sách kiềm chế một cách kiên định không ngại va chạm và kiên quyết giành giật ảnh hưởng với Liên Xô thì Liên Xô sẽ phải chùn bước.

Bức điện sau khi gửi đã gây “chấn động” trong giới ngoại giao Mỹ. Tuy nhiên, phần lớn nội dung vẫn chưa được phản ánh đầy đủ lên giới lãnh đạo cấp cao. Thất vọng nhưng không bỏ cuộc, George Kennan lấy phần lớn nội dung trong bức điện gửi ngày 22/3/1946 sửa lại thành bài báo ký bút danh “X” và đăng trên Tạp chí Foreign Affairs số tháng 7/1947. Từ đây, bài báo đã gây lên một cơn “địa chấn” trong giới nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách Mỹ và giúp định hình ra Chiến lược Kiềm chế của Mỹ sau này.

Mặc dù được coi là cha đẻ của Chiến lược kiềm chế, nhưng điều trớ trên là chính Kennan đã có lúc bị những kẻ “Diều hâu” (the Hawks) chỉ trích là “Bồ câu” (the Dove) do: (i) quá “mềm yếu” với Liên Xô; (ii) không chủ trương đối đầu về quân sự, mà chỉ chủ yếu đối đầu về ngoại giao, chính trị và kinh tế; (iii) Chiến lược Kiềm chế của Kennan chủ yếu mang tính phòng thủ.

Sau đó Chiến lược Kiềm chế của Kennan bị giới “Diều hâu” trong chính giới Mỹ bắt cóc, và được Paul Nitze, người thay Kennan làm Vụ trưởng Chính sách đối ngoại tại Bộ Ngoại giao bổ sung thêm yếu tố kiềm chế quân sự, còn Ngoại trưởng khét tiếng “diều hâu” John Foster Dulles dưới thời Tổng thống Dwight Eisenhower thì “bác bỏ” Chiến lược kiềm chế của Kennan, mà đòi chuyển sang Chiến lược đẩy lui Chủ nghĩa cộng sản (Rollback). Còn bản thân Kennan vẫn không thay đổi lập trường “bồ câu”, chỉ trích mạnh mẽ sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Triều Tiên và Afghanistan.

Cho đến nay, sau khi Liên Xô và khối Đông Âu đã sụp đổ gần một phần tư thế kỷ, nhìn lại chính sách của Mỹ và phương Tây hiện nay đối với Nga rõ ràng có lý do để tin rằng các đánh giá của Mỹ và phương Tây về Nga không có nhiều thay đổi và dường như Chiến lược kiềm chế đang “đội mồ” sống dậy trở lại.

TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.
 

Triển vọng kinh tế Trung Quốc

Print Friendly, PDF & Email

China-Economic-Growth

Nguồn: Zhang Monan, “The Next Chinese Economy,” Project Syndicate, 03/01/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thúc Cường | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Sau hơn 30 năm phát triển vượt bậc, nền kinh tế Trung Quốc đang có xu hướng quay về với đường lối phát triển mang tính truyền thống hơn – và quá trình tái cân bằng khó khăn đang được tiến hành, ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của nền kinh tế.

Thứ nhất, thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc đã giảm từ mức đỉnh 10% GDP vào năm 2007 còn khoảng hơn 2% trong năm ngoái – mức thấp nhất trong 9 năm vừa qua. Trong quý 3 năm 2014, thặng dư ngoại thương đứng ở mức 81,5 tỉ USD và thâm hụt tài khoản vốn lên tới 81,6 tỉ USD, những con số này phản ánh một cán cân thanh toán ổn định hơn.

Sự thay đổi này phần nào có thể được giải thích bằng xu hướng theo đuổi chính sách tái công nghiệp hoá để tăng cường khả năng cạnh tranh thương mại của những nước phát triển trong hai năm qua. Chẳng hạn như ở Mỹ, tốc độ tăng trưởng ngành chế tạo (manufacturing) đạt bình quân khoảng 4,3% mỗi năm trong giai đoạn 2011-2012, và tốc độ tăng trưởng sản xuất các sản phẩm lâu bền (durable goods) tăng đạt 8% (con số này lần lượt là 4,1% và 5,7% trong năm 2002 và năm 2007). Quả thật, ngành công nghiệp chế tạo của Mỹ đã góp phần phục hồi nền kinh tế vĩ mô của nước này.

Trong khi đó, do chi phí tiền lương của Trung Quốc đang leo thang, những ngành sản xuất thâm dụng lao động của nước này đang phải đối mặt với sự canh tranh ngày càng khốc liệt từ Ấn Độ, Mexico, Việt Nam, và một số nền kinh tế Đông Âu khác trong vai trò những cơ sở hiệu quả hơn để chuyển giao công nghiệp từ các nước phát triển. Kết quả là dù những nền kinh tế phát triển có phục hồi thì nhu cầu xuất khẩu của Trung Quốc cũng không thể trở lại mức trước khủng hoảng.

Cùng sự tăng giá liên tục của đồng Nhân dân tệ, những xu hướng này đã phần nào làm suy giảm thị phần hàng hóa Trung Quốc tại các nước phát triển. Thật vậy, Trung Quốc đã mất 2,3% thị phần trong thị trường các nước phát triển kể từ năm 2013, và khoảng 2% trong thị trường Mỹ kể từ năm 2011.

Những hiệp định thương mại mới chớm như Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do xuyên Đại Tây Dương, và Hiệp định Dịch vụ Đa phương sẽ đẩy nhanh quá trình này hơn nữa thông qua việc loại bỏ thuế quan ở một số nước nhất định và triển khai các tiêu chuẩn lao động và môi trường. Thêm vào đó, chủ nghĩa bảo hộ ngấm ngầm dưới hình thức hỗ trợ của nhà nước và mua sắm công đang khiến ngành xuất khẩu của Trung Quốc phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng.

Trung Quốc cũng đang tiến hành tái cân bằng đầu tư và tiêu dùng trong nước. Sự suy giảm tăng trưởng đầu tư tài sản cố định (từ 33% năm 2009 xuống còn 16% trong năm qua) đang tạo áp lực đáng kể lên tăng trưởng đầu ra. Phần đóng góp của đầu tư vào tăng trưởng GDP giảm từ 8,1% năm 2009 xuống còn 4,2% trong năm ngoái.

Một nguyên nhân của sự suy giảm này là do việc Trung Quốc chưa hấp thu hết năng lực sản xuất nhờ vào đầu tư quy mô lớn năm 2010-2011. Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống như sắt thép, kim loại màu, vật liệu xây dựng, kỹ thuật hoá học, và đóng tàu, công suất dư thừa đang ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp mới nổi như năng lượng gió, pin mặt trời, và sợi các-bon, với nhiều ngành sử dụng chưa đến 75% năng lực sản xuất của họ.

Nhưng sự suy giảm trong đầu tư cũng liên quan trực tiếp tới sự suy giảm trong hình thành vốn. Trong giai đoạn 1996-2012, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trung bình (vốn đầu tư biên cần thiết để tăng tổng sản phẩm thêm một đơn vị) của Trung Quốc là khá cao, khoảng 3,9, có nghĩa là vốn đầu tư ở Trung Quốc kém hiệu quả hơn so với những nước đang phát triển có mức tăng trưởng tương tự.

Hơn nữa, sự tăng trưởng theo chu kỳ của tỉ lệ lãi suất và chi phí yếu tố (đầu vào sản xuất) đã dần phục hồi giá cánh kéo giữa hàng hóa nông nghiệp và công nghiệp. Kết quả là lợi nhuận của các công ty công nghiệp có xu hướng ngày càng giảm, khiến việc duy trì đầu tư cao trở nên khó khăn.

Trong khi đó, việc tầng lớp trung lưu Trung Quốc mở rộng đang gây ảnh hưởng lớn tới tiêu dùng. Năm ngoái, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành thị trường tiêu dùng lớn thứ hai thế giới, sau Hoa Kỳ.

Chắc chắn, ngành nhập khẩu Trung Quốc vẫn tập trung vào hàng hóa trung gian, với việc nhập khẩu nguyên liệu thô như quặng sắt đã gia tăng trong thập niên qua. Nhưng trong những năm gần đây, thị phần hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu và sản phẩm hoàn thiện phức hợp (phục vụ tiêu dùng lẫn đầu tư), như xe hơi và máy tính, đã gia tăng đáng kể. Xu hướng này sẽ giúp môi trường toàn cầu cân bằng hơn.

Công nghệ là mấu chốt cuối cùng trong thách thức tái cân bằng kinh tế của Trung Quốc. Sự chậm trễ trong việc áp dụng công nghệ và đổi mới góp phần nới rộng khoảng cách phát triển kinh tế giữa Trung Quốc và các nước phát triển phương Tây, ngăn cản việc nâng cấp và chuyển dịch nền kinh tế, kìm hãm khả năng Trung Quốc tiến lên trên chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhưng khi thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc tăng lên, thị trường tiêu thụ trưởng thành hơn, và cơ cấu công nghiệp được chuyển đổi, thì nhu cầu về thiết bị phục vụ sản xuất và dịch vụ thương mại cũng sẽ tăng đáng kể. Quả thật, trong thập niên tới, thị trường công nghệ cao của Trung Quốc dự kiến sẽ đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 20 đến 40%.

Nếu Hoa Kỳ nới lỏng việc hạn chế xuất khẩu sang Trung Quốc và duy trì thị phần 18,3 % trong kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc, tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao của Hoa Kỳ sang Trung Quốc có thể đạt hơn 60 tỉ USD trong giai đoạn này. Điều này sẽ thúc đẩy việc nâng cấp và đổi mới nền công nghiệp của Trung Quốc, trong khi cải thiện chuyển giao công nghệ toàn cầu và mở rộng các khoản đầu tư liên quan ở các nước phát triển.

Nền kinh tế Trung Quốc có thể đang chậm lại, nhưng triển vọng của nó vẫn còn mạnh mẽ. GDP Trung Quốc có thể đã đạt 10 nghìn tỉ USD trong năm 2014. Một khi vượt qua được thách thức tái cân bằng nền kinh tế hiện tại, Trung Quốc sẽ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Zhang Monan (Trương Mạt Nam) là chuyên viên tại Trung tâm Thông tin Trung Quốc (China Information Center), chuyên viên Quỹ Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc (China Foundation for International Studies), và là nhà nghiên cứu tại Diễn đàn Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô Trung Quốc (China Macroeconomic Research Platform).
 

14/08/1784: Người Nga bắt đầu định cư tại Alaska

Print Friendly, PDF & Email

alaska

Nguồn: Russians settle Alaska”, History.com (truy cập ngày 14/08/2016)

Biên dịch: Nguyễn Ngọc Tường Ngân

Vào ngày này năm 1784, trên đảo Kodiak, Grigory Shelikhov, một nhà buôn lông thú người Nga, đã thành lập nên khu định cư Vịnh Ba Thánh (Three Saints Bay), khu định cư thường trực đầu tiên của Nga ở Alaska.

Người châu Âu khám phá ra Alaska năm 1741 khi một đoàn thám hiểm của Nga do nhà thám hiểm người Đan Mạch Vitus Bering lần đầu nhìn thấy đất liền Alaska. Các thợ săn của Nga sau đó đã nhanh chóng xâm nhập vào Alaska, khiến những người Aleut bản địa phải chịu nhiều tai họa do bị truyền nhiều căn bệnh lạ. Khu định cư Vịnh Ba Thánh đã được thành lập trên đảo Kodiak năm 1784, và Shelikhov sống ở đó trong hai năm với vợ và 200 người khác.

Từ Vịnh Ba Thánh, người Nga dần mở rộng khám phá đất liền Alaska, và các trung tâm buôn bán lông thú khác đã được thành lập. Năm 1786, Shelikhov trở về Nga và năm 1790 cử Aleksandr Baranov đến quản lý công việc của mình ở Alaska.

Baranov thành lập Công ty Mỹ Nga (Russian American Company) và đến năm 1799 thì được cấp độc quyền khai thác Alaska. Baranov mở rộng giao thương của Nga xuống bờ biển phía tây Bắc Mỹ, và vào năm 1812, sau nhiều nỗ lực không thành công, đã thành lập được một khu định cư tại Bắc California gần Vịnh Bodega. Các tàu buôn của Anh và Mỹ sớm phản đối yêu sách của Nga đối với bờ biển phía tây bắc nước Mỹ, và người Nga phải rút lui về phía bắc tới biên giới phía nam hiện tại của Alaska. Mối quan tâm của Nga đối với Alaska giảm dần, và sau cuộc Chiến tranh Crimea vào những năm 1850, một nước Nga gần như kiệt quệ đã tìm cách bán lãnh thổ này đi.

Chính phủ Sa hoàng đầu tiên tiếp cận Hoa Kỳ để bán lãnh thổ này là trong thời kỳ chính quyền của Tổng thống James Buchanan, nhưng cuộc đàm phán đã bị đình trệ bởi sự bùng nổ của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, Bộ trưởng Ngoại giao William H. Seward, một người ủng hộ việc mở rộng lãnh thổ, đã mong muốn mua vùng đất rộng lớn của Alaska, vốn lớn bằng một phần năm phần còn lại của Hoa Kỳ. Ngày 30 tháng 3 năm 1867, Bộ trưởng Ngoại giao William H. Seward đã ký một hiệp ước với Nga để mua Alaska với giá 7,2 triệu đô la. Mặc dù mức giá của thương vụ là khoảng hai xu một mẫu Anh, nhưng việc mua Alaska đã bị nhạo báng trong Quốc hội và được báo chí gọi là “trò điên rồ của Seward”, “hộp đựng nước đá của Seward”, và “vườn gấu Bắc cực” của Tổng thống Andrew Johnson. Vào tháng Tư năm 1867, Thượng viện phê chuẩn hiệp ước với chênh lệch chỉ một lá phiếu.

Mặc dù việc định cư người Mỹ từ lục địa Hoa Kỳ ở Alaska bắt đầu một cách chậm chạp, nhưng việc phát hiện ra vàng năm 1898 đã nhanh chóng dẫn tới một làn sóng người nhập cư vào lãnh thổ này. Alaska, vốn giàu tài nguyên thiên nhiên, đã đóng góp vào sự thịnh vượng của Mỹ kể từ đó. Vào ngày 3 tháng 1 năm 1959, Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã ký một tuyên bố xác nhận lãnh thổ Alaska trở thành bang thứ 49 của Hoa Kỳ.

Xem thêm:

Các vùng lãnh thổ được mua bán ra sao?

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập17
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm15
  • Hôm nay1,608
  • Tháng hiện tại38,975
  • Tổng lượt truy cập3,269,128
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây