Dấu ấn của Trump lên chính sách đối ngoại Hoa Kỳ

Thứ hai - 09/09/2019 20:47
Hành vi của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại cuộc họp G7 gần đây ở Biarritz đã bị chỉ trích là bất cẩn và gây rối loạn bởi nhiều nhà quan sát. Những người khác lập luận rằng báo chí và các học giả chú ý quá mức đến những trò hề cá nhân, các dòng tweet và các trò chơi chính trị của Trump
Dấu ấn của Trump lên chính sách đối ngoại Hoa Kỳ

Dấu ấn của Trump lên chính sách đối ngoại Hoa Kỳ

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Joseph S. Nye, “Trump’s Effect on US Foreign Policy”, Project Syndicate, 04/09/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

Hành vi của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại cuộc họp G7 gần đây ở Biarritz đã bị chỉ trích là bất cẩn và gây rối loạn bởi nhiều nhà quan sát. Những người khác lập luận rằng báo chí và các học giả chú ý quá mức đến những trò hề cá nhân, các dòng tweet và các trò chơi chính trị của Trump. Họ lập luận, về lâu dài, các nhà sử học sẽ chỉ coi những hành động đó là những chuyện vặt. Câu hỏi lớn hơn là liệu tổng thống Trump có chứng tỏ mình là một bước ngoặt lớn trong chính sách đối ngoại của Mỹ, hay cũng chỉ là một sự thay đổi nhỏ trong lịch sử mà thôi.

Cuộc tranh luận hiện tại về Trump làm dấy lên một câu hỏi đã có từ lâu: Liệu các kết quả lịch sử quan trọng là sản phẩm từ sự lựa chọn của con người hay chúng chủ yếu xuất phát từ các yếu tố cấu trúc chi phối được tạo ra bởi các lực lượng kinh tế và chính trị nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta?

Một số nhà phân tích ví dòng chảy lịch sử với một dòng sông ào ạt, được định hình bởi khí hậu, lượng mưa, địa chất và địa hình, chứ không phải bởi bất cứ thứ gì mà nó mang theo. Nhưng ngay cả khi điều này là sự thật, con người không đơn giản giống như những con kiến ​​bám vào một khúc gỗ bị cuốn theo dòng chảy. Họ giống như những người chèo thuyền trên mặt nước trắng xóa cố gắng lèo lái và chống đỡ những tảng đá, đôi khi bị lật và đôi khi thành công trong việc chèo lái con thuyền đến một đích mong muốn.

Hiểu được các lựa chọn và thất bại của các nhà lãnh đạo trong chính sách đối ngoại Mỹ trong thế kỷ vừa qua có thể giúp chúng ta có cơ sở tốt hơn để đối phó với những câu hỏi mà chúng ta gặp phải ngày nay về nhiệm kỳ tổng thống của Trump. Các nhà lãnh đạo ở mọi thời đại đều nghĩ rằng họ đang đối phó với những lực lượng thay đổi vô tiền khoáng hậu, nhưng bản chất con người vẫn không đổi. Lựa chọn có thể quan trọng; việc không hành động cũng có thể có những tác động lớn tương tự như khi hành động. Việc các nhà lãnh đạo Mỹ không có hành động gì trong những năm 1930 đã góp phần gây ra thảm họa trần gian (Thế chiến II); cũng giống như việc các tổng thống Mỹ đã từ chối sử dụng vũ khí hạt nhân khi Hoa Kỳ vẫn còn nắm độc quyền về chúng.

Vậy những lựa chọn quan trọng như vậy được định hình bởi tình huống hay con người? Nhìn lại một thế kỷ trước, Woodrow Wilson đã phá vỡ truyền thống và gửi các lực lượng Hoa Kỳ đến chiến đấu ở châu Âu, nhưng điều đó cũng có thể đã xảy ra dưới thời một nhà lãnh đạo khác (giả sử như Theodore Roosevelt). Sự khác biệt lớn trong trường hợp Wilson nằm ở giọng điệu đạo đức trong quá trình biện minh của ông, và sự khăng khăng bướng bỉnh, phản tác dụng, của ông về việc Hoa Kỳ phải tham gia đầy đủ vào Hội Quốc Liên. Một số người đổ lỗi chủ nghĩa đạo đức của Wilson cho việc Mỹ quay lại với chủ nghĩa biệt lập trong những năm 1930.

Franklin D. Roosevelt đã không thể đưa Hoa Kỳ tham gia Thế chiến II cho đến khi trận Trân Châu Cảng nổ ra, và điều đó cũng có thể đã xảy ra ngay cả dưới thời một tổng thống theo chính sách biệt lập, bảo thủ. Tuy nhiên, việc Roosevelt đóng khung mối đe dọa do Hitler gây ra, cũng như sự chuẩn bị của ông nhằm đối mặt với mối đe dọa đó, đóng vai trò rất quan trọng trong sự tham gia của Mỹ vào cuộc chiến ở châu Âu.

Sau Thế chiến II, cấu trúc lưỡng cực của hai siêu cường đặt ra khuôn khổ cho Chiến tranh Lạnh. Nhưng phong cách và thời điểm của các phản ứng của Mỹ có thể đã khác nếu Henry Wallace (người mà Roosevelt đã loại khỏi chức phó tổng thống năm 1944), thay vì Harry Truman, trở thành tổng thống Mỹ. Sau cuộc bầu cử năm 1952, một người theo chủ nghĩa biệt lập như Robert Taft hoặc một tổng thống quyết đoán như Douglas MacArthur có thể đã phá vỡ sự củng cố tương đối suôn sẻ của chiến lược ngăn chặn của Truman, một chính sách được người kế nhiệm của ông, Dwight D. Eisenhower, tiếp tục duy trì.

John F. Kennedy có vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn chiến tranh hạt nhân trong cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba, và sau đó ký thỏa thuận kiểm soát vũ khí hạt nhân đầu tiên. Nhưng ông và Lyndon B. Johnson đã khiến Mỹ sa lầy vào những thất bại không cần thiết và tốn kém trong Chiến tranh Việt Nam. Vào cuối thế kỷ, các lực lượng cấu trúc đã gây ra sự suy yếu của Liên Xô và Mikhail Gorbachev đã đẩy nhanh sụp đổ của nước này. Nhưng kỹ năng đàm phán và chương trình xây dựng quốc phòng của Ronald Reagan, cũng như kỹ năng của George H.W. Bush về quản lý khủng hoảng, cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại kết thúc hòa bình cho Chiến tranh Lạnh.

Nói cách khác, các nhà lãnh đạo và kỹ năng của họ có vai trò quan trọng. Theo một nghĩa nào đó, đây là tin xấu, bởi vì điều đó có nghĩa là các hành vi của Trump khó có thể dễ dàng bị bỏ qua. Quan trọng hơn các tweet của Trump là việc ông ta làm suy yếu các thể chế, liên minh cũng như sự hấp dẫn từ sức mạnh mềm của Mỹ, điều mà các cuộc thăm dò cho thấy đã suy giảm dưới thời Trump. Ông là tổng thống đầu tiên sau 70 năm đã quay lưng lại với trật tự quốc tế tự do mà Mỹ tạo ra sau Thế chiến II. Tướng James Mattis, người đã từ chức sau khi giữ cương vị bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của Trump, gần đây đã than thở về việc tổng thống lơ là các liên minh.

Các tổng thống cần sử dụng cả sức mạnh cứng và mềm, kết hợp chúng theo những cách bổ sung chứ không phải loại bỏ lẫn nhau. Kỹ năng chính trị thực dụng và tổ chức là rất cần thiết, nhưng quan trọng không kém là trí tuệ cảm xúc, thứ tạo ra các kỹ năng tự nhận thức và tự kiểm soát, cũng như sự nhạy cảm tình huống, thứ cho phép các nhà lãnh đạo hiểu được môi trường đang chuyển biến, tận dụng các xu hướng và áp dụng các kỹ năng khác của mình cho phù hợp. Trí thông minh cảm xúc và sự nhạy cảm tình huống không phải là các thế mạnh của Trump.

Nhà lý luận về kỹ năng lãnh đạo Gautam Mukunda đã chỉ ra rằng các nhà lãnh đạo được sàng lọc cẩn thận thông qua các quá trình chính trị vững chắc có xu hướng có thể dự đoán được. George H.W. Bush là một ví dụ tốt. Những người khác không được sàng lọc, và cách họ thực hiện quyền lực là rất khác nhau. Abraham Lincoln là một ứng cử viên tương đối chưa được sàng lọc nhưng là một trong những tổng thống tốt nhất của Mỹ. Trump, người chưa bao giờ nắm cương vị nào trong chính quyền trước khi giành chức tổng thống và tham gia chính trị với vốn liếng trong ngành truyền hình thực tế và bất động sản ở New York, đã chứng tỏ là có kỹ năng phi thường trong việc làm chủ phương tiện truyền thông hiện đại, thách thức các nhận thức thông thường và tạo ra những thay đổi sáng tạo đầy rối loạn. Trong khi một số người tin rằng điều này có thể tạo ra kết quả tích cực, ví dụ như với Trung Quốc, thì những người khác vẫn còn hoài nghi.

Vai trò của Trump trong lịch sử có thể phụ thuộc vào việc ông có tái đắc cử hay không. Thể chế, niềm tin và sức mạnh mềm có nhiều khả năng bị xói mòn nếu ông ta ở lại Nhà Trắng trong tám năm chứ không phải bốn năm. Nhưng trong cả hai trường hợp, người kế nhiệm ông sẽ đối đầu với một thế giới đã thay đổi, một phần vì những tác động từ các chính sách của Trump, một phần vì các thay đổi lớn trong cấu trúc quyền lực chính trị thế giới, chuyển từ Tây sang Đông (sự trỗi dậy của Châu Á) và từ chính phủ sang các tác nhân phi nhà nước (được tăng thêm sức mạnh bởi trí tuệ nhân tạo và mạng internet). Như Karl Marx đã nhìn nhận, chúng ta làm nên lịch sử, nhưng không phải theo những điều kiện do chính chúng ta lựa chọn. Chính sách đối ngoại của Mỹ sau Trump vẫn còn là một câu hỏi mở.

Joseph S. Nye, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng và Chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ, hiện là Giáo sư Đại học Havard. Ông là tác giả của cuốn Is the American Century Over?
 

26/11/1941: Đặc nhiệm Nhật lên đường đến Trân Châu Cảng

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Japanese task force leaves for Pearl HarborHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1941, Đô đốc Chuichi Nagumo đã dẫn đầu Hạm đội Không quân Nhật Bản số 1, một nhóm tàu sân bay tấn công, hướng về Trân Châu Cảng, cùng với ý định rằng, “nếu đàm phán với Mỹ thành công, hạm đội sẽ ngay lập tức rút quân trở về.”

Đàm phán đã diễn ra suốt nhiều tháng. Người Nhật muốn chấm dứt các lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ. Người Mỹ muốn Nhật rút khỏi Trung Quốc và Đông Nam Á – và từ bỏ Hiệp ước Tam cường (Tripartite “Axis” Pact) với Đức và Ý như là điều kiện cần trước khi cấm vận có thể được dỡ bỏ. Không bên nào chịu nhượng bộ.

Tổng thống Roosevelt và Ngoại trưởng Cordell Hull đã dự đoán Nhật sẽ tấn công trả đũa – họ chỉ không biết là ở đâu. Philippines, Đảo Wake, Midway – tất cả đều là những khả năng. Các báo cáo tình báo của Mỹ đã chỉ ra rằng Hạm đội Nhật Bản đã di chuyển ra khỏi Formosa (Đài Loan), và dường như đang hướng về bán đảo Đông Dương. Kết quả của “niềm tin sai lầm” này là Tổng thống Roosevelt đã yêu cầu hủy bỏ một cử chỉ hòa giải, đó là tiếp tục cung cấp dầu hàng tháng cho nhu cầu dân sự của Nhật Bản. Hull cũng bác bỏ “Kế hoạch B” của Tokyo, đó là tạm xuống thang khủng hoảng và nới lỏng các lệnh trừng phạt mà không có bất kỳ nhượng bộ nào từ phía Nhật. Thủ tướng Tojo coi đây là một tối hậu thư, và ít nhiều đã từ bỏ các kênh ngoại giao như là phương tiện giải quyết bế tắc.

Nagumo không có kinh nghiệm về không quân hàng hải; ông chưa bao giờ chỉ huy một đội tàu sân bay nào trong cuộc đời mình. Vai trò này là phần thưởng cho một đời cống hiến trung thành. Nagumo, dù là người đàn ông của hành động, nhưng vẫn không thích những rủi ro không cần thiết – mà một rủi ro như vậy theo ông là việc tấn công vào căn cứ hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng.

Tuy nhiên, Tổng tham mưu trưởng, Đô đốc Isoruku Yamamoto, lại nghĩ khác. Trong khi cũng phản đối chiến tranh với Mỹ, ông tin rằng hy vọng duy nhất cho chiến thắng của Nhật Bản là một cuộc tấn công bất ngờ nhanh chóng, thông qua chiến tranh tàu sân bay, chống lại Hạm đội Mỹ. Về phần Bộ Chiến tranh của Roosevelt, nếu chiến tranh là không thể tránh khỏi, thì họ mong rằng “Người Nhật sẽ là bên công khai tấn công trước.”
 

07/12/1941: Nhật tấn công Trân Châu Cảng

Print Friendly, PDF & Email

07

Nguồn: Pearl Harbor bombedHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1941, lúc 7 giờ 55 phút sáng, theo giờ Hawaii, một máy bay ném bom của Nhật Bản với biểu tượng Húc Nhật kỳ đã xuất hiện trên bầu trời đảo Oahu, theo sau là 360 máy bay chiến đấu cũng của Nhật. Tất cả tấn công dữ dội vào căn cứ hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng. Cuộc tấn công bất ngờ này giáng một đòn nghiêm trọng lên Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ và buộc Mỹ phải chính thức tham gia Thế chiến II.

Sau thất bại trong đàm phán ngoại giao với Nhật Bản, Tổng thống Franklin D. Roosevelt và các cố vấn của ông biết rằng sẽ có khả năng người Nhật tấn công, nhưng chẳng có biện pháp nào được thực hiện để tăng cường an ninh tại căn cứ hải quân quan trọng ở Trân Châu Cảng.

Khi đó là sáng Chủ nhật, và nhiều quân nhân đã được phép đi tham dự các nghi lễ tôn giáo. Lúc 7 giờ 02 phút, hai radar đã phát hiện nhiều đoàn máy bay lớn đang bay tới từ phía Bắc. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, căn cứ cũng đang dự kiến đón đoàn máy bay B-17 từ Mỹ sang nên họ đã không báo động. Do đó, cuộc tấn công của người Nhật trở thành một thảm họa bất ngờ đối với căn cứ hải quân.

Phần lớn Hạm đội Thái Bình Dương trở nên bị vô hiệu: 5 trong số 8 thiết giáp hạm, 3 tàu khu trục, và 7 tàu khác đã bị chìm hoặc bị hư hỏng, và hơn 200 máy bay đã bị phá hủy. Tổng cộng có 2.400 người Mỹ đã thiệt mạng và 1.200 người bị thương, rất nhiều trong số họ hy sinh khi dũng cảm cố gắng đẩy lùi cuộc tấn công.

Về phía Nhật Bản, tổn thất gồm 30 máy bay, 5 tàu ngầm nhỏ và chưa tới 100 người thiệt mạng. May mắn thay cho người Mỹ, cả ba tàu sân bay của Hạm đội Thái Bình Dương đã ra biển để huấn luyện. Chính những tàu sân bay khổng lồ này sẽ trả thù người Nhật chỉ sáu tháng sau đó, trong Trận Midway – một chiến thắng ngoạn mục, đảo ngược tình thế trước Hải quân Nhật vốn dĩ trước đó là bất khả chiến bại.

Một ngày sau khi Trân Châu Cảng bị đánh bom, Tổng thống Roosevelt đã xuất hiện trước một phiên họp chung của Quốc Hội và tuyên bố: “Hôm qua, 07/12/1941, là một ngày ô nhục – nước Mỹ đã phải hứng chịu đợt tấn công bất ngờ và cố ý của hải quân và không quân Đế quốc Nhật.” Sau một bài phát biểu ngắn gọn và mạnh mẽ, ông yêu cầu Quốc Hội thông qua Nghị quyết Tuyên bố Tình trạng Chiến tranh giữa Mỹ và Nhật.

Thượng viện bỏ phiếu với tỉ lệ 82 – 0 ủng hộ cuộc chiến chống lại Nhật Bản, và Hạ viện thông qua Nghị quyết với số phiếu 388 – 1. Người bất đồng ý kiến duy nhất là Hạ nghị sĩ Jeannette Rankin của bang Montana, một người chủ trương hòa bình và cũng đã từng bỏ phiếu chống lại việc Mỹ tham gia Thế chiến I. Ba ngày sau, Đức và Ý tuyên chiến với Mỹ, và chính phủ Mỹ cũng có tuyên bố tương tự.

Mỹ đã đóng góp vào chiến thắng của phe Đồng minh trong suốt 4 năm tham chiến và 400.000 người Mỹ đã hi sinh mạng sống của mình.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

BÀI THƠ CŨ

Ta sinh ra cô đơn giờ cô đơn đã cũ ta trưởng thành bởi sợ hãi sợ hãi cũng cũ rồi này tôi một khuôn mặt công chức đứng nhìn những cuộc họp rạc rài tiêu ma bao ý tưởng xa xa trải một mùa bệnh hoạn bệnh hoạn cũng cũ rồi Số mệnh già như trời lọm khọm ở giữa công viên đầy nắng nắng có gì...

Thống kê
  • Đang truy cập54
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm53
  • Hôm nay5,182
  • Tháng hiện tại173,627
  • Tổng lượt truy cập3,486,471
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây