30/07/1945: Tàu USS Indianapolis bị tấn công

Thứ ba - 30/07/2019 05:25
Vào ngày này năm 1945, tuần dương hạm USS Indianapolis đã trúng ngư lôi của tàu ngầm Nhật Bản và chìm chỉ sau vài phút, ngay giữa vùng biển có cá mập tấn công. Chỉ có 317 trong số 1.196 người trên tàu sống sót. Tuy nhiên, Indianapolis vẫn hoàn thành nhiệm vụ chính của mình:
30/07/1945: Tàu USS Indianapolis bị tấn công

30-07-1945-tau-uss-indianapolis-bi-tan-cong
Nguồn:
 USS Indianapolis bombedHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1945, tuần dương hạm USS Indianapolis đã trúng ngư lôi của tàu ngầm Nhật Bản và chìm chỉ sau vài phút, ngay giữa vùng biển có cá mập tấn công. Chỉ có 317 trong số 1.196 người trên tàu sống sót. Tuy nhiên, Indianapolis vẫn hoàn thành nhiệm vụ chính của mình: chuyển các thành phần chính của quả bom nguyên tử sẽ được thả một tuần sau đó xuống Hiroshima đến đảo Tinian ở Nam Thái Bình Dương.

Tàu Indianapolis đã đến đảo Tinian vào ngày 26/07/1945. Nhiệm vụ này được xếp vào loại tuyệt mật và thủy thủ đoàn hoàn toàn không biết gì về thứ hàng họ đang vận chuyển. Sau khi rời Tinian, tàu đến căn cứ của quân đội Mỹ tại đảo Guam và được lệnh gặp tàu chiến USS Idaho tại Vịnh Leyte ở Philippines để chuẩn bị cho việc đổ bộ vào Nhật Bản.

Ngay sau nửa đêm ngày 30/07, tại vùng biển giữa vịnh Guam và vịnh Leyte, một tàu ngầm của Nhật đã bắn ngư lôi vào Indianapolis, gây ra vụ nổ làm vỡ con tàu và khiến nó chìm trong khoảng 12 phút, với khoảng 300 người bị mắc kẹt bên trong. 900 người khác đã rơi xuống nước và nhiều trong số họ đã chết vì đuối nước, bị cá mập tấn công, bị mất nước hoặc bị thương do vụ nổ. Lực lượng cứu hộ đã không đến hỗ trợ mãi cho đến bốn ngày sau, ngày 02/08, khi một chiếc máy bay chống ngầm trên chuyến tuần tra thường lệ phát hiện ra những người còn sống sót và dùng sóng radio kêu gọi hỗ trợ.

Ngày 06/08/1945, Mỹ đã thả một quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, gây ra gần 130.000 thương vong và phá hủy hơn 60% thành phố. Ngày 09/08, quả bom nguyên tử thứ hai đã được thả xuống Nagasaki, nơi mà con số thương vong ước tính lên tới hơn 66.000. Trong khi đó, chính phủ Mỹ quyết định giữ im lặng về thảm kịch Indianapolis cho đến ngày 15/08 để đảm bảo rằng vụ việc sẽ bị lu mờ trước thông báo của Tổng thống Harry Truman, rằng Nhật Bản đã đầu hàng.

Sau các sự kiện liên quan đến Indianapolis, chỉ huy con tàu, hạm trưởng Charles McVay, đã bị đưa ra tòa quân sự vào tháng 11/1945 vì đã không sử dụng hải trình ngoằn ngoèo có thể giúp con tàu trốn tránh tàu ngầm của kẻ thù trong khu vực. McVay, hạm trưởng duy nhất của Hải quân Mỹ bị xét xử vì để mất một con tàu trong chiến tranh, đã tự sát vào năm 1968. Nhiều thủy thủ còn sống sót tin rằng quân đội đã biến McVay thành vật tế thần. Năm 2000, 55 năm sau vụ Indianapolis bị chìm, Quốc hội Mỹ đã trả lại thanh danh cho McVay.

Amenhotep III – Vị vua thời kỳ vàng son của Ai Cập

Print Friendly, PDF & Email

2617998-3x2-940x627

Nguồn: Historic figures, BBC (truy cập ngày 10/7/2015)

Biên dịch & Hiệu đính: Phạm Hồng Anh

Triều đại của pharaoh (pha-ra-ông) Amenhotep III đánh dấu thời kỳ thịnh vượng nhất của nền văn minh Ai Cập, cả về sức mạnh chính trị và những thành tựu văn hóa.

Amenhotep là con trai của Tuthmosis IV với người vợ lẽ Mutemwia. Ông trở thành vua ở tuổi 12, được mẹ cùng nhiếp chính. Thời kỳ đầu ông chọn con gái của một vị quan cấp tỉnh làm hoàng hậu. Trong giai đoạn về sau, Hoàng hậu Tiy thường xuyên xuất hiện bên cạnh nhà vua.

Được thừa hưởng một đế chế trải rộng từ sông Euphrates tới Sudan, Amenhotep duy trì vị thế Ai Cập chủ yếu qua ngoại giao và các cuộc hôn nhân giữa các hoàng tộc Mitanni (Syria), Babylonia và Arzawa (Anatolia). Ông là vị pharaoh đầu tiên đưa ra các thông cáo về cuộc hôn nhân của mình, các cuộc đi săn và các dự án xây dựng. Những thông tin này được khắc trên những con ấn lớn bằng đá hình bọ hung và được gửi đi khắp nơi trong đế chế.

Tại thủ đô Thebes, cung điện rộng lớn của nhà vua ở Malkata nằm gần đền thờ của ông. Đây là đền thờ lớn nhất trong lịch sử, địa điểm ban đầu được đánh dấu bởi hai bức tượng ‘Colossi of Memnon’ (hai bức tượng khổng lồ khắc hình Amenhotep). Mạng lưới kênh rạch và cảng rộng lớn nối những công trình này với sông Nile và tạo đường đi thẳng tới đền thờ mới của nhà vua tại Luxor và đền thờ thần Amun[1] tại Karnak.

Mặc dù Amenhotep coi Karnak là một phần trong chương trình xây dựng trên khắp đất nước, nhưng ông cũng khéo léo chống lại thế lực đang lên của giới tư tế thờ thần Amun bằng cách tuyên truyền đề cao thần mặt trời cổ đại Ra. Mặt trời cũng được tôn thờ như chiếc đĩa mặt trời Aten (trong tín ngưỡng Ai Cập cổ đại), và nhà vua cũng lấy tên hiệu là ‘Mặt trời chói lọi’ (Dazzling Aten).

Amenhotep III qua đời vào khoảng năm 1354 TCN và được chôn cất trong ngôi mộ khổng lồ nằm ở nhánh phía tây tách biệt trong Thung lũng các vị Vua. Con trai ông là Amenhotep IV kế vị, thường được biết đến với tên Akhenaten.

26/06/1541: Nhà Chinh phục Đế chế Inca bị ám sát

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Conqueror of the Incas assassinated, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1541, Francisco Pizarro, thống đốc Peru và là người chinh phục nền văn minh Inca, đã bị các đối thủ người Tây Ban Nha ám sát ở Lima.

Là con ngoài giá thú của một người đàn ông Tây Ban Nha, Pizarro phục vụ dưới quyền Chinh phục Tướng công (conquistador) Alonso de Ojeda trong chuyến thám hiểm tới Colombia năm 1510, và sau đó lại theo phục vụ Vasco Nunez de Balboa khi ông này phát hiện ra Thái Bình Dương năm 1513. Biết đến truyền thuyết về sự giàu có của người Inca ở Nam Mỹ, Pizarro đã thành lập một liên minh với một Chinh phục Tướng công khác là Diego de Almagro vào năm 1524 và giong buồm trở về châu Mỹ. Trong chuyến thám hiểm đầu tiên, họ chỉ đi được tới Ecuador ngày nay, nhưng trong chuyến thứ hai, họ đã tiến xa hơn và phát hiện bằng chứng về sự tồn tại của Vương quốc Inca.

Nhận được sự bảo trợ của Hoàng đế Charles V, và lời hứa bảo đảm rằng ông, chứ không phải Almagro, sẽ nhận được phần lớn lợi nhuận trong tương lai của chuyến thám hiểm, Pizarro đi đến Peru và cập bến Tumbes vào năm 1532. Ông đưa quân của mình vượt dãy Andes đến thành phố Cajamarca, Inca và gặp Atahualpa, Vua của Vương quốc Quito thuộc Inca. Sau khi giành được lòng tin của nhà vua, Pizarro bắt giữ Atahualpa làm con tin và đòi khoản tiền chuộc là một căn phòng đầy vàng, nhưng sau đó vẫn cho hành quyết vị vua xấu số. Chiến thắng trong cuộc chinh phục Peru đã nhanh chóng đến với Pizarro và quân đội của ông, và năm 1533, những đợt kháng chiến của người Inca đã kết thúc với thất bại của họ tại Cuzco.

Pizarro, bấy giờ là thống đốc Peru, đã thành lập các khu định cư mới, bao gồm Lima, và cấp cho Almagro quyền chinh phục Chile nhằm xoa dịu ông này sau khi Pizarro tuyên bố giữ mọi của cải của nền văn minh Inca cho chính mình. Tuy nhiên, Pizarro đã không thể cấp cho Almagro vùng đất mà ông đã hứa, và Almagro đáp lại bằng cách chiếm giữ Cuzco vào năm 1538. Pizarro liền gửi người anh cùng cha khác mẹ, Hernando, đến đòi lại thành phố, và Almagro bị đánh bại và giết hại. Ba năm sau, vào ngày 26/06/1541, một nhóm sát thủ được các đệ tử của Almagro thuê đã thâm nhập vào cung điện của Pizarro và ám sát nhà chinh phục trong khi ông đang ăn tối. Ngay sau cái chết của ông, Diego el Monzo, con trai của Almagro, đã tự xưng là thống đốc Peru.
 

Xoay trục: Tương lai Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ ở Châu Á

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Simon Long | Biên dịch: Đinh Nho Minh

The Pivot: The Future of American Statecraft in Asia. Tác giả: Kurt M. Campbell. New York and Boston: Twelve, 2016. Bìa cứng: 399 trang.

Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn có nhiều phiên bản. Phiên bản đầu được hé lộ qua báo chí khi các lãnh đạo cố định hình thế giới theo ý muốn của Hoa Kỳ. Các phiên bản sau được giới thiệu qua các cuốn sách khi các lãnh đạo muốn giải thích chính sách của họ. Cuộc phiêu lưu ở Châu Á của chính quyền Obama nhiệm kỳ đầu (2009-2012) cũng không là ngoại lệ. James Steinberg, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, đã đồng tác giả (với Michael O’Hanlon) viết cuốn sách về “trấn an chiến lược” (strategic reasssurance) trong quan hệ Mỹ-Trung. Jeffrey Bader, thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ lúc đó, đã viết một cuốn sách về “câu chuyện của một người trong cuộc về chiến lược của Hoa Kỳ ở Châu Á”. Rồi cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton cũng viết một tập hồi ký về giai đoạn này.

Trong khi đó, Tổng Tư lệnh Obama chắc vẫn đang chờ một hợp đồng viết sách về vấn đề này. Nhưng, với cuốn The Pivot: The Future of American Statecraft in Asia (Xoay trục: Tương lai Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ ở Châu Á), Kurt Campbell, Trợ lý Ngoại trưởng về các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương từ năm 2009 đến 2013, đã đóng góp vào chủ đề đã được viết đi viết lại này. Thế nên ta phải ghi nhận nhờ khả năng của ông nên cuốn sách vẫn có cái mới để đóng góp vào cuộc tranh luận. Văn phong của ông cũng lôi cuốn và dễ đọc. Nó là sự pha trộn rất quen thuộc với những độc giả hay theo đọc thể loại này: một phần kể chuyện cá nhân (đủ để người đọc cảm thấy ông đúng là đang kể chuyện thâm cung bí sử, nhưng không làm lộ bí mật quốc gia); một phần bày tỏ tôn trọng với những chính trị gia nổi tiếng mà ông từng phục vụ (đủ khen ngợi để không làm hại con đường sự nghiệp hoặc các mối quan hệ, nhưng không tới mức nịnh nọt); một phần tự giải thích (kể về vai trò của mình đối với một chính sách mà ông tin tưởng nhưng không tới mức cướp công của cấp trên).

Trong tất cả các thành viên của chính quyền, có lẽ Campbell là người gần gũi nhất với chính sách cùng tên với cuốn sách cũng như với di sản của chính quyền Obama ở Châu Á: chính sách “xoay trục” hoặc “tái cân bằng” các nguồn lực ngoại giao, chính trị và quân sự Hoa Kỳ ở Châu Á. Cuốn sách của Campbell nhằm bảo vệ sự xoay trục này. Ông viết rằng ông có hai luận điểm chính trong cuốn sách (trang 7). Luận điểm đầu là “Châu Á thường xuyên – nếu không phải luôn luôn – chỉ là khu vực được chú trọng thứ nhì sau các khu vực khác như Châu Âu trong Chiến tranh Lạnh và Trung Đông trong cuộc chiến chống khủng bố. Đã đến lúc phải xem xét lại quan điểm này và nâng Châu Á thành tâm điểm cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ.” Luận điểm thứ hai là ủng hộ một chiến lược để thực hiện được điều này, với mục tiêu “hoàn thành vai trò truyền thống hậu Thế chiến II ở khu vực, đảm bảo cam kết với các đồng minh, và giữ vững “hệ điều hành” Châu Á (các thỏa thuận phức tạp về pháp lý, an ninh và thực dụng đã giữ vững an ninh và phát triển trong bốn thập niên qua).”

Tiến triển của chính sách kể từ lúc cuốn Xoay trục được xuất bản không suôn sẻ lắm. Việc Trung Quốc tiếp tục bành trướng ở Biển Đông và thẳng thừng từ chối tuân theo phán quyết của Tòa Trọng tài về yêu sách chủ quyền của nước này cho thấy “hệ điều hành” Châu Á đang gặp phải rủi ro lớn. Các nước khác trong khu vực cũng phản đối hành động của Trung Quốc giống Hoa Kỳ. Nhưng những sự phản đối này không thay đổi được cục diện trên biển. Cái chết của Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej vào tháng Mười càng giảm khả năng quân đội sẽ nhường quyền kiểm soát chính trị, làm phức tạp thêm quan hệ của Hoa Kỳ với một đồng minh quan trọng nhưng đang ngày càng ngả về Trung Quốc. Tệ hơn, hiệp định tự do thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định mà ông Campbell cho rằng “khó mà nêu hết được tầm quan trọng, là “điều kiện tối cần thiết của xoay trục” (trang 266), đang gặp phải vấn đề lớn. Hai ứng viên tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ đang thi nhau phê phán TPP, và nhiều khả năng nó cũng sẽ không được một Quốc hội sắp mãn nhiệm thông qua.

Campbell cũng phủ đầu trước các chỉ trích với chính sách xoay trục. Ông cho rằng xoay trục thường bị đồng thời chỉ trích là “làm quá ít nên chả quan trọng và làm quá nhiều đến mức gây hại” (trang 20). Ông dùng sự mâu thuẫn này để cho rằng chính sách xoay trục là vừa đủ, không quá ít cũng không quá nhiều – một chiến thuật mà tất cả các chính trị gia, nhà báo và quan chức đều dùng khi bị tấn công từ cả hai bên. Tuy nhiên, câu trả lời này hiểu sai bản chất của các chỉ trích: chỉ trích cho rằng xoay trục đã làm quá ít để trấn an đồng minh của Hoa Kỳ, và quá nhiều đến mức Trung Quốc lo ngại rằng Hoa Kỳ đang lập một khối khu vực để cân bằng và kiềm chế sự “trỗi dậy” của nó.

Thật vậy, các quan chức Trung Quốc sẽ cảm thấy cuốn sách đã chứng minh cho sự nghi ngờ của họ. Campbell thẳng thắn cho rằng “chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cần phải phối hợp các công cụ ngoại giao, kinh tế và quân sự để ngăn chặn sự hình thành một bá quyền mới ở Châu Á. Đây đã luôn là cách để đảm bảo các giá trị và lợi ích của Hoa Kỳ như giao thương, tôn giáo, dân chủ và an ninh truyền thống” (trang 136). Cái Hoa Kỳ cho là “ngăn chặn bá quyền” (hegemon-prevention), Trung Quốc sẽ cho là “ngăn chặn” (containment). Và cũng như nhiều quan chức Mỹ khác, Campbell có vẻ, với người Châu Á, đánh giá thấp quy mô của thách thức mà Trung Quốc đặt ra đối với trật tự thế giới mà Hoa Kỳ lãnh đạo: tại sao Bắc Kinh lại muốn lật đổ một trật tự mà họ đã được hưởng lợi rất nhiều? Những dấu hiệu như việc Tổng thống mới của Philippines Rodrigo Duterte muốn tự “xoay trục” khỏi đồng minh Hoa Kỳ để quay sang Trung Quốc đã dội một gáo nước lạnh vào tham vọng của Hoa Kỳ ở Đông Á và cho thấy sự bất lực của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn sự bành trướng lãnh thổ từ từ của Trung Quốc đã làm suy yếu vị thế của Hòa Kỳ đối với một số bạn bè truyền thống ở khu vực tới mức nào.

Sẽ là bất công nếu cho rằng Campbell bỏ qua những khó khăn mà chính sách của chính quyền Obama phải đối mặt ở Châu Á. Ông phải đi qua một quãng thời gian buồn: các sự kiện ở Trung Đông (trang 307); “cảm giác mệt mỏi” và muốn “về nhà” với người Mỹ (trang 303); chi tiêu quốc phòng không đủ (trang 300); và “bế tắc chính trị” (trang 297). Không may là những điều này vẫn tiếp tục xấu đi kể từ khi ông bắt đầu viết và cuốn sách được xuất bản. Trong chiến dịch tranh cử năm 2016, Tổng thống tương lai Donald Trump đã chỉ trích nhiều mặt của xoay trục như quan hệ đồng minh với Nhật Bản và Hàn Quốc, cùng với TPP. Không rõ bao nhiêu lời đe dọa và lời hứa trong chiến dịch tranh cử sẽ trở thành chính sách thực sự. Nhưng có vẻ bản thân chính sách đối ngoại Hoa Kỳ sẽ xoay trục một lần nữa theo một hướng rất khác.

Simon Long, trước mang bút danh Banyan, là biên tập viên mảng tài chính và kinh tế của tạp chí The Economist.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

BÀI THƠ CŨ

Ta sinh ra cô đơn giờ cô đơn đã cũ ta trưởng thành bởi sợ hãi sợ hãi cũng cũ rồi này tôi một khuôn mặt công chức đứng nhìn những cuộc họp rạc rài tiêu ma bao ý tưởng xa xa trải một mùa bệnh hoạn bệnh hoạn cũng cũ rồi Số mệnh già như trời lọm khọm ở giữa công viên đầy nắng nắng có gì...

Thống kê
  • Đang truy cập16
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm14
  • Hôm nay1,519
  • Tháng hiện tại38,886
  • Tổng lượt truy cập3,269,039
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây