16/08/1896: Phát hiện vàng ở Yukon, Canada

Thứ sáu - 16/08/2019 21:57
Vào ngày này năm 1896, trong khi câu cá hồi gần sông Klondike thuộc Lãnh thổ Yukon của Canada, George Carmack được cho là đã phát hiện ra quặng vàng trên một đáy sông nhỏ. Phát hiện may mắn của ông đã gây ra cơn sốt vàng lớn cuối cùng ở miền Tây nước Mỹ
16/08/1896: Phát hiện vàng ở Yukon, Canada

16/08/1896: Phát hiện vàng ở Yukon, Canada

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Gold discovered in the YukonHistory.com

Biên dịch: Lê Hồng Loan

Vào ngày này năm 1896, trong khi câu cá hồi gần sông Klondike thuộc Lãnh thổ Yukon của Canada, George Carmack được cho là đã phát hiện ra quặng vàng trên một đáy sông nhỏ. Phát hiện may mắn của ông đã gây ra cơn sốt vàng lớn cuối cùng ở miền Tây nước Mỹ.

Hy vọng kiếm được tiền từ các vụ phát hiện vàng được đồn thổi ở Alaska, Carmack đã đi tới khu vực này từ California vào năm 1881. Sau khi không tìm được gì, ông đi về phía bắc tới vùng Lãnh thổ Yukon biệt lập, ngay bên kia biên giới Canada. Vào năm 1896, một nhà thám hiểm khác, Robert Henderson, đã nói với Carmack về việc tìm thấy vàng ở một nhánh của sông Klondike. Carmack đi tới khu vực này với hai người bạn đồng hành là người Mỹ bản địa, được biết đến với tên gọi Skookum Jim và Tagish Charlie.

Vào ngày 16 tháng 08, khi đang cắm trại gần sông Rabbit, Carmack được cho là đã phát hiện ra một cục vàng nhô ra từ bờ sông. Hai người bạn đồng hành của ông sau đó đã đồng ý rằng Skookum Jim – anh rể của Carmack – mới là người thực sự đã khám phá ra điều đó.

Bất kể ai là người đầu tiên phát hiện ra vàng, ba người đàn ông đã sớm phát hiện ra rằng lớp đá gần đáy sông có đầy các mỏ vàng. Họ đã khoanh cọc khu vực của mình vào ngày hôm sau. Tin tức về việc phát hiện vàng nhanh chóng lan truyền trên khắp Canada và Hoa Kỳ, và trong hai năm tiếp theo, có tới 50.000 thợ mỏ sẽ đến khu vực này. Sông Rabbit được đổi tên thành Bonanza, và thậm chí nhiều vàng hơn đã được phát hiện trong một nhánh khác của sông Klondike, được đặt tên là Eldorado.

“Cơn sốt Klondike” đã đạt đến đỉnh điểm tại Hoa Kỳ vào giữa tháng 07 năm 1897 khi hai tàu hơi nước từ Yukon tới San Francisco và Seattle, mang theo tổng cộng hơn hai tấn vàng. Hàng ngàn thanh niên háo hức đã mua những “bộ đồ nghề Yukon” phức tạp (các bộ dụng cụ được tập hợp bởi những người tiếp thị thông minh bao gồm thực phẩm, quần áo, công cụ và các thiết bị cần thiết khác) và lên đường đi về phía bắc. Chỉ một vài trong số những người này tìm thấy vàng, vì phần lớn đất đai trong khu vực đã bị người khác khoanh giữ. Một trong số những người tìm vàng không thành công là Jack London, lúc bấy giờ mới 21 tuổi, mà những truyện ngắn dựa trên trải nghiệm tại Klondike đã trở thành cuốn sách đầu tiên của ông, cuốn The Son of the Wolf (Con trai của Sói – 1900).

Về phần mình, Carmack trở nên giàu có nhờ phát hiện của mình, ông rời Yukon với số vàng trị giá 1 triệu đô la. Nhiều người khai thác vàng riêng lẻ ở Klondike cuối cùng đã bán phần của họ cho các công ty khai thác, những người có tài nguyên và máy móc để tiếp cận nhiều vàng hơn. Việc khai thác vàng quy mô lớn ở Lãnh thổ Yukon đã không kết thúc cho đến năm 1966, và tới thời điểm đó, khu vực này đã mang lại khoảng 250 triệu đô la vàng. Ngày nay, khoảng 200 mỏ vàng nhỏ vẫn hoạt động trong khu vực này.
 

Ý định chiến lược đằng sau cuộc gặp Tập – Mã

Print Friendly, PDF & Email

ma-xi-meet

Nguồn: Jonathan Sullivan, “The strategic intentions behind Xi Jinping’s meeting with Ma Ying-jeou”, South China Morning Post, 06/11/2015.

Biên dịch: Lê Hồng Hiệp

Khi Tập Cận Bình và Mã Anh Cửu (Ma Ying-jeou) bắt tay vào ngày thứ Bảy tại Singapore, đó sẽ là lần đầu tiên trong lịch sử chủ tịch nước và tổng thống đương nhiệm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc trực tiếp gặp nhau, dù họ sẽ không gọi nhau bằng những chức danh như vậy. Ý nghĩa biểu tượng này là rất lớn, đặc biệt là về phía Trung Quốc, nơi mà hình ảnh của một Đài Loan trở về với đất mẹ luôn tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn cả cảnh ông Tập đứng cạnh Tổng thống Mỹ Barack Obama hay được đón tiếp trang trọng bởi nữ hoàng Anh. Cuộc gặp rõ ràng là một thành tích đối với ông Mã, người được thúc đẩy bởi một cảm nhận về một dân tộc Trung Hoa và vai trò của cá nhân ông trong việc bảo tồn nó. Đó cũng sẽ là một tin tuyệt vời đối với Bắc Kinh để phổ biến cho người dân trong nước, khi tờ Hoàn cầu Thời báo tuyên bố rằng “vấn đề Đài Loan không còn là một vấn đề nữa”.

Ngoài việc đưa tin ồn ã và nhiệt tình của các phương tiện truyền thông nhà nước, thời gian của cuộc họp tiết lộ rất nhiều điều về những ý định đằng sau nó. Chỉ còn hai tháng nữa là diễn ra cuộc bầu cử ở Đài Loan nơi gần như chắc chắn Đảng Dân Tiến (DPP) sẽ giành ghế tổng thống và lần đầu tiên chiếm được đa số trong cơ quan lập pháp. Đối với Bắc Kinh, vốn nghi ngờ “ý định thực sự” chủ tịch DPP Thái Anh Văn (Tsai Ing-wen) và năng lực của bà trong việc kiểm soát “khuynh hướng ly khai” của các phe phái trong đảng của mình, đây là một điều đáng sợ.

Lần cuối cùng DPP kiểm soát nhiệm kỳ tổng thống, mặc dù phải đối mặt với một phe đa số đối lập từ liên minh Quốc Dân Đảng/Đảng Nhân dân trong quốc hội nhưng Trần Thủy Biển đã có thể củng cố rộng rãi các ý tưởng về một Đài Loan khác biệt và tách biệt so với phần còn lại của Trung Quốc. Giờ đây, sau tám năm dưới một vị tổng thống gần gũi một cách bất thường với Đại lục, và đủ quyền lực để thúc đẩy những bước đi quan trọng hướng tới hội nhập kinh tế với Đại lục ít nhất là trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, các xu hướng trong dư luận Đài Loan đang bất lợi đối với những người ủng hộ quan hệ gần gũi hơn với Bắc Kinh. Các cuộc thăm dò dư luận trong nhiều thập niên cho thấy người Đài Loan chưa bao giờ chắc chắn như vậy về bản sắc của họ, và ủng hộ bản sắc Đài Loan là rõ ràng trong giới trẻ. Tại thời điểm đó, Bắc Kinh đã quyết định can thiệp.

Trong ngắn hạn, triển vọng sự can thiệp của Bắc Kinh có thể cứu giúp được Quốc Dân Đảng – vốn nhiều tháng nay đang hướng tới một thất bại bầu cử lớn – là rất thấp. Mặc dù Quốc Dân Đảng gần đây đã loại bỏ ứng viên tổng thống được bầu hợp lệ của mình và vốn là người ủng hộ thống nhất với Đại lục Hồng Tú Trụ (Hung Hsiu-chu), những biện pháp cần thiết để thay thế bà Hồng bằng chủ tịch Quốc Dân Đảng Chu Lập Luân (Eric Chu) dường như là một nỗ lực vô ích. Bị ảnh hưởng uy tín bởi mối quan hệ với ông Mã cũng như do quyết định chần chừ của ông trong việc tranh cử, kết quả thăm dò cử tri ​​của Chu cũng không khá hơn bà Hồng là mấy.

Phát huy thắng lợi lịch sử trong cuộc bầu cử địa phương cuối tháng 11 năm ngoái, các chiến dịch tranh cử quốc gia của DPP đến nay rất thuận buồm xuôi gió. Bà Thái đã đưa ra những lập trường hợp lòng dân về vấn đề Trung Quốc và nền kinh tế, đồng thời có một chuyến đi thành công tới Mỹ. Hiện bà đang dẫn trước đối thủ với một khoảng cách tỉ lệ hai con số. Do sự mất lòng dân của ông Mã chủ yếu là do vội vàng ngã vào lòng Trung Quốc, kết hợp với cơ chế ra quyết định thiếu minh bạch của ông (thể hiện qua việc Phong trào biểu tình Hoa hướng dương tập trung vào sự minh bạch trong chính trường), sẽ thật khó tưởng tượng việc một cuộc gặp được dàn xếp bí mật với Chủ tịch Trung Quốc có thể giúp ích cho Quốc Dân Đảng trong cuộc bầu cử sắp tới.

Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra và dài hạn hơn, cuộc họp phục vụ nhiều mục đích cho cả hai bên. Ông Mã sẽ đạt được cột mốc ấp ủ lâu nay của mình và có thể chuyển đổi nó thành ảnh hưởng kéo dài sau khi ông hết nhiệm kỳ. Quan trọng hơn đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc, cuộc họp sẽ góp phần giới hạn những gì DPP có thể làm bằng cách tăng cường và củng cố nhận thức của “xã hội quốc tế” về hiện trạng trong quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan. Do giờ đây hầu như bài báo nào về Đài Loan (ở nước ngoài) cũng đề cập tới những từ như “tỉnh nổi loạn” hay “một tỉnh của Trung Quốc”, người ta có thể nói rằng Trung Quốc đã thắng trong cuộc chiến về định khung mối quan hệ.

Đại lục sẽ coi cuộc họp Tập –Mã là hiện thân của “tình hình nguyên trạng”: quan hệ hữu nghị, đối thoại và đối tác, hướng tới việc thống nhất đất nước. Thực tế còn lâu mới được như vậy, nhưng điều đó không quan trọng bằng hình ảnh và câu chuyện sẽ được xây dựng xung quanh nó. Việc đề cập tới một “hiện trạng được tăng cường” sẽ gây khó dễ cho lập trường của bà Thái trong chiến dịch tranh cử và nhất là sau khi bà giành chiến thắng. Hạn chế DPP, hạn chế trước dư địa hành động của đảng này và hạn chế những “thiệt hại” mà một chính quyền DPP có thể gây ra đối với dự án thống nhất đất nước là mục đích của cuộc họp này.

Đáng ngạc nhiên là những người thua cuộc trong tất cả câu chuyện này là người dân Đài Loan. Tuy nhiên, trái ngược với phản ứng của các phương tiện truyền thông được chính trị hóa cao độ, xã hội Đài Loan có vẻ khá thoải mái tiếp nhận cuộc họp này. Thật vậy, Đài Loan đã phản ứng với sự thanh thản trước điều mà nhiều người coi là cảnh tượng trơ trẽn của một nhà lãnh đạo bị chửi rủa theo đuổi mục tiêu cá nhân của mình chống lại những mong muốn của đa số, và chứng kiến ​​một thế lực bên ngoài âm mưu gây ảnh hưởng lên kết quả của một quá trình dân chủ mà họ đã rất khó khăn mới giành được.

Các của phản ứng chín chắn này là một sự bác bỏ vang dội đối với Trung Quốc cũng như một số các lãnh đạo Quốc Dân Đảng, những người phàn nàn rằng nền dân chủ Đài Loan bị làm cho suy yếu bởi tính chất cảm tính và chưa trưởng thành của người dân. Bất chấp sự cạnh tranh chính trị rốt ráo và sự kịch tính cao độ đi kèm với các cuộc bầu cử gay cấn của Đài Loan, thực tế có một mức độ đồng thuận cao về tình trạng của Đài Loan: một nền tự trị hoạt động tốt trong khuôn khổ của một nhà nước Trung Hoa Dân quốc, với kết cục tương lai vẫn chưa được quyết định rõ ràng.

Đa số người Đài Loan tự nhận mình là người Đài Loan, ủng hộ thể chế dân chủ của Đài Loan, tận hưởng các quyền tự do của xã hội Đài Loan, và phân biệt rất rõ ràng giữa Đài Loan và Đại lục. Người Đài Loan đang tức giận, nhưng họ cũng có đủ niềm tin vào sự vững mạnh của nền dân chủ để cho lá phiếu nói lên tiếng nói của mình. Họ biết rằng, vào ngày 16 tháng 1 tới, cơ hội của họ sẽ đến để hạ bệ ông Mã và chấm dứt tám năm cầm quyền của Quốc Dân Đảng. Điều đáng lo ngại là quyền được trừng phạt Quốc Dân Đảng trở thành một “chiến thắng với thương vong quá lớn” nếu tương lai của Đài Loan đã bị ảnh hưởng bởi một thứ rõ ràng phi dân chủ như là cuộc họp bất ngờ giữa ông Tập và ông Mã.

Jonathan Sullivan là giáo sư về nghiên cứu Trung Quốc đương đại tại Đại học Nottingham.
 

09/02/1825: Kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ được Hạ viện quyết định

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Presidential election decided in the HouseHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1825, vì không có ứng cử viên Tổng thống nào nhận được đa số phiếu bầu trong cuộc bầu cử năm 1824, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu bầu chọn John Quincy Adams, người giành được ít phiếu hơn Andrew Jackson trong đợt bầu cử phổ thông, trở thành Tổng thống của Hoa Kỳ. John Quincy Adams là con trai của John Adams, vị Tổng thống thứ hai của Mỹ.

Trong cuộc bầu cử năm 1824, một ứng viên muốn trở thành Tổng thống cần đạt được 131 phiếu đại cử tri, nhỉnh hơn một nửa so với tổng số 261 phiếu. Dù chúng không ảnh hưởng đến kết quả chung cuộc, nhưng lần đầu tiên các phiếu phổ thông được tính trong cuộc bầu cử này.

Ngày 01/12/1824, kết quả được công bố. Andrew Jackson đến từ Tennessee đã giành được 99 phiếu đại cử tri và 153.544 phiếu phổ thông; John Quincy Adams đến từ Massachusetts đã nhận được 84 phiếu đại cử tri và 108.740 phiếu phổ thông; Ngoại trưởng William H. Crawford, người bị đột qụy ngay trước cuộc bầu cử, đã nhận được 41 phiếu đại cử tri; và Hạ nghị sĩ Henry Clay của Kentucky đã giành được 37 phiếu đại cử tri.

Theo Hiến pháp Mỹ, cuộc bầu cử tổng thống sau đó được chuyển sang Hạ viện. Tu chính án thứ 12 viết rằng nếu không có ứng viên nào giành được đa số phiếu đại cử tri thì chỉ có ba ứng viên với số phiếu bầu phổ thông cao nhất sẽ được xem xét lựa chọn tại Hạ viện.

Hạ nghị sĩ Henry Clay, người bị loại ra khỏi cuộc bầu cử tại Hạ viện là ứng viên đứng vị trí thứ tư, đã đồng ý sử dụng ảnh hưởng của mình để bầu chọn cho John Quincy Adams. Clay và Adams đều là thành viên của một liên minh lỏng lẻo trong Quốc Hội mà đến năm 1828 được biết đến với tên gọi Đảng Cộng hòa Quốc gia, trong khi những người ủng hộ của Jackson sau đó đã được tổ chức thành Đảng Dân chủ.

Nhờ sự hỗ trợ của Clay, vào ngày 09/02/1825, Hạ viện bầu Adams làm Tổng thống Mỹ. Khi Adams bổ nhiệm Clay làm Ngoại trưởng – một trong những vị trí quan trọng nhất nội các, Jackson và những người ủng hộ ông đã nhạo báng việc bổ nhiệm này chỉ là một ‘cuộc đổi chác bất chính’ (corrupt bargain).

Với rất ít người ủng hộ, nhiệm kỳ của Adams tại Nhà Trắng hầu như không có hiệu quả, và cái gọi là Cuộc đổi chác bất chính tiếp tục ám ảnh chính quyền của ông. Năm 1828, trong lần tái tranh cử, ông bị đánh bại bởi Andrew Jackson, người đã nhận được gấp hơn hai lần số phiếu đại cử tri so với Adams.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập16
  • Hôm nay2,844
  • Tháng hiện tại76,545
  • Tổng lượt truy cập4,128,767
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây