15/07/1806: Đoàn thám hiểm của Zebulon Pike khởi hành

Thứ ba - 16/07/2019 21:19
Vào ngày này năm 1806, Zebulon Pike, sĩ quan quân đội Hoa Kỳ, người vào năm 1805 đã lãnh đạo một nhóm thám hiểm đi tìm kiếm đầu nguồn sông Mississippi, đã bắt đầu một cuộc thám hiểm mới để khám phá khu vực Tây Nam nước Mỹ. Pike được hướng dẫn tìm kiếm đầu nguồn các sông Arkansas và sông Red, đồng thời điều tra các khu định cư Tây Ban Nha ở New Mexico
15/07/1806: Đoàn thám hiểm của Zebulon Pike khởi hành
15/07/1806: Đoàn thám hiểm của Zebulon Pike khởi hành
Nguồn: Pike expedition sets outHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào ngày này năm 1806, Zebulon Pike, sĩ quan quân đội Hoa Kỳ, người vào năm 1805 đã lãnh đạo một nhóm thám hiểm đi tìm kiếm đầu nguồn sông Mississippi, đã bắt đầu một cuộc thám hiểm mới để khám phá khu vực Tây Nam nước Mỹ. Pike được hướng dẫn tìm kiếm đầu nguồn các sông Arkansas và sông Red, đồng thời điều tra các khu định cư Tây Ban Nha ở New Mexico.
Pike và nhóm của ông rời Missouri và đi qua các tiểu bang Kansas và Nebraska ngày nay trước khi đến Colorado, nơi ông phát hiện ra ngọn núi nổi tiếng mà sau này được đặt theo tên ông để vinh danh. Từ đó, họ đi xuống New Mexico, nơi họ bị các quan chức Tây Ban Nha chặn lại và buộc tội xâm nhập bất hợp pháp vào lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha.
Nhóm của ông được hộ tống đến Santa Fe, sau đó xuống Chihuahua, quay trở lại Texas và cuối cùng đến biên giới của Lãnh thổ Louisiana, nơi họ được phóng thích. Ngay sau khi trở về phía đông, Pike đã bị dính vào một âm mưu cùng với cựu Phó Tổng thống Aaron Burr để chiếm giữ lãnh thổ ở phía Tây Nam vì những mục đích bí ẩn. Tuy nhiên, sau một cuộc điều tra, Ngoại trưởng James Madison đã hoàn toàn miễn tội cho ông.
Thông tin mà ông cung cấp về lãnh thổ Hoa Kỳ ở Kansas và Colorado là một động lực lớn cho chính sách định cư của nước Mỹ trong tương lai, và các báo cáo của ông về điểm yếu của chính quyền Tây Ban Nha ở Tây Nam đã làm dấy lên thảo luận về khả năng sáp nhập trong tương lai với Hoa Kỳ. Pike sau đó phục vụ trong vai trò một thiếu tướng trong Chiến tranh năm 1812, và vào tháng Tư năm 1813, ông đã bị giết bởi một quả bom thuốc súng của Anh sau khi dẫn đầu một cuộc tấn công thành công vào York, Canada.
14/06/1954: Mỹ lần đầu diễn tập phòng thủ dân sự toàn quốc
Nguồn: First nationwide civil defense drill heldHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào ngày này năm 1954, hơn 12 triệu người Mỹ đã “chết” trong một cuộc tấn công hạt nhân mô phỏng, khi Hoa Kỳ trải qua cuộc diễn tập phòng thủ dân sự toàn quốc đầu tiên. Mặc dù các quan chức Hoa Kỳ hài lòng với kết quả của cuộc diễn tập, sự kiện này diễn ra như một lời nhắc nhở nghiêm túc rằng Hoa Kỳ – và thế giới – hiện đang sống dưới một cái bóng hạt nhân.
Cuộc diễn tập phòng thủ dân sự tháng 06 năm 1954 được tổ chức và đánh giá bởi Cục Quản lý Phòng thủ Dân sự, và bao gồm các hoạt động tại 54 thành phố ở Hoa Kỳ, Puerto Rico, Quần đảo Virgin, Alaska và Hawaii. Canada cũng tham gia đợt diễn tập này. Tiền đề cơ bản của cuộc diễn tập là Hoa Kỳ phải đương đầu với một cuộc tấn công hạt nhân lớn từ cả máy bay và tàu ngầm, và hầu hết các khu vực đô thị lớn đã bị nhắm mục tiêu.
Vào lúc 10 giờ sáng, tiếng chuông báo động đã vang lên ở các thành phố được chọn, lúc đó tất cả công dân phải rời đường phố, tìm nơi trú ẩn và chuẩn bị cho cuộc tấn công. Mỗi công dân phải biết hầm tránh mưa phóng xạ gần nhất nằm ở đâu; các địa điểm này bao gồm các tầng hầm của các tòa nhà chính phủ và trường học, đường hầm tàu ​​đin ngm và hm trú n tư nhân. Ngay c Tng thng Dwight D. Eisenhower cũng tham gia chương trình này, ông hướng đến mt hm ngm Washington, D.C.
Toàn bộ cuộc diễn tập chỉ kéo dài khoảng 10 phút, khi đó một tín hiệu an toàn được phát ra và cuộc sống trở lại bình thường. Các quan chức thuộc Cục Quản lý Phòng thủ Dân sự ước tính rằng Thành phố New York sẽ phải chịu thiệt hại nhiều nhất trong một cuộc tấn công như vậy, với hơn 2 triệu người thiệt mạng. Các thành phố khác, bao gồm Washington, D.C., cũng sẽ chịu sự mất mát lớn về nhân mạng. Tổng cộng, ước tính có hơn 12 triệu người Mỹ sẽ chết trong một cuộc tấn công hạt nhân.
Mặc dù các con số khá đáng sợ, các quan chức chính phủ tuyên bố họ rất hài lòng với cuộc diễn tập. Những vấn đề nhỏ trong giao tiếp đã xảy ra, và một người phụ nữ ở thành phố New York đã tạo ra một vụ tắc đường lớn bằng cách dừng xe giữa đường, nhảy ra khỏi xe và chạy đi tìm chỗ trú ẩn. Tuy nhiên, tại hầu hết các thành phố, đường phố vắng tanh chỉ trong chốc lát sau khi tiếng chuông cảnh báo vang lên và không có dấu hiệu hoảng loạn hay hành vi tội phạm. Một đánh giá thận trọng hơn đến từ một sĩ quan quân đội đã nghỉ hưu, người đã bình luận rằng sự phát triển bom hydro gần đây của Liên Xô đã “vượt xa những tiến bộ đạt được trong việc phòng thủ dân sự chống lại nó.”

16/07/1951: ‘Bắt Trẻ Đồng Xanh’ xuất bản lần đầu tiên
Nguồn: Catcher in the Rye is publishedHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1951, tiểu thuyết duy nhất của J.D. Salinger, Bắt Trẻ Đồng Xanh (The Catcher in the Rye) đã được xuất bản bởi Little, Brown. Cuốn sách về cậu thiếu niên vỡ mộng trước thế giới người lớn nhanh chóng trở thành tác phẩm nổi tiếng và sẽ được giảng dạy trong các trường trung học suốt nửa thế kỷ tiếp theo.
Salinger 31 tuổi đã sáng tác cuốn tiểu thuyết của mình trong vòng một thập niên. Những mẩu chuyện của ông đã bắt đầu xuất hiện vào những năm 1940, nhiều trong số chúng là trên tờ The New Yorker.
Cuốn sách sớm gây “bão” trên khắp nước Mỹ, liên tục cháy hàng và trở thành Cuốn sách của tháng (Book of the Month Club selection). Dù vậy, danh tiếng không hẳn là thứ Salinger mong đợi; ông lui về sống trong một căn nhà trên đỉnh đồi ở Cornish, New York, nhưng vẫn tiếp tục xuất bản những câu chuyện định kỳ trên The New Yorker. Ông đã xuất bản Franny and Zooey (1963) – kết hợp hai câu chuyện lần lượt về Franny và Zooey, từng được in trên tờ The New Yorker.
Salinger ngừng công việc xuất bản sách vào năm 1965, cùng năm đó, ông ly dị người vợ 12 năm, người mà ông đã kết hôn khi ông 32 tuổi. Năm 1999, nhà báo Joyce Maynard đã xuất bản một cuốn sách về mối quan hệ của bà với Salinger, diễn ra hơn hai mươi năm trước đó. Là một người yêu đời sống ẩn dật, Salinger qua đời tại nhà riêng ở New Hampsire vào ngày 27/01/2010 khi 91 tuổi.
Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo.
P/v
Lược sử Chiến tranh Lạnh và sự tham gia của Mông Cổ
Biên dịch: Hoàng Tuấn Thịnh
Nhiều lần nghe các thầy giáo cao niên của trường đại học phàn nàn thanh niên thời nay không biết, không quan tâm đến lịch sử, không có những kiến thức sơ đẳng nhất về lịch sử thế giới. Bản thân tôi, lúc đầu là giáo viên dạy môn Lịch sử Quan hệ quốc tế nên tôi nhất trí với nhận xét này. Để sẻ chia lời phàn nàn đó, tôi quyết định trả lời câu hỏi của nhiều người thường nêu ra. Tôi muốn làm rõ về “Chiến tranh Lạnh” là gì, tại sao nó xuất hiện, diễn biến ra sao và kết thúc lúc nào. Tôi muốn tóm lược các sự kiện một cách giản đơn nhất có thể và cũng muốn điểm lại sự tham gia của Mông Cổ trong cuộc chiến này.
“Chiến tranh Lạnh” có thể phân ra một số thời kỳ. Thời kỳ đầu (1) từ năm 1947 đến năm 1953. Ngày 5 tháng Ba năm 1946 tại thành phố Fultol, Hoa Kỳ, “Chiến tranh Lạnh” được coi là bắt đầu khi nguyên Thủ tướng Anh Winston Churchill tuyên bố Bức màn sắt (ám chỉ sự ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Âu) chia đôi châu Âu. Thế chiến II kết thúc, Đông Âu được Hồng quân Liên Xô giải phóng, hình thành khối phương Đông thân Moskva và bắt đầu tạo ra lịch sử khá dài của chế độ cộng sản. Binh lính Đồng minh giải phóng Tây Âu, Kế hoạch Marshall, trật tự mới về kinh tế của Morgenthau (như Quỹ tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng thế giới, Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch, tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng đô la Mỹ – vàng) được áp dụng để phục hồi nền kinh tế các nước Tây Âu bị kiệt quệ trong chiến tranh. Đáp lại, năm 1949, Liên Xô và Đông Âu cũng thành lập Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV). Nội chiến bùng nổ ở Hy lạp, những người cộng sản nắm quyền, quốc gia này gần như sắp gia nhập khối Liên Xô đến nơi thì Tổng thống Hoa Kỳ Truman đưa ra học thuyết, kêu gọi ngăn ngừa sự can thiệp của Liên Xô vào quốc gia này. Khối phương Đông xảy ra mâu thuẫn nội bộ, đỉnh điểm là mâu thuẫn Tito – Stalin (Nam Tư và Liên Xô), Nam Tư bị trục xuất khỏi khối cộng sản. Nhằm ngăn ngừa sự ảnh hưởng của Liên Xô, theo học thuyết của Truman, NATO được thành lập, châu Âu lại bắt đầu được vũ trang. Nếu năm 1945, Hoa Kỳ thử vũ khí hạt nhân của mình tại Nhật Bản thì năm 1949 Liên Xô cũng thử vũ khí hạt nhân, sau đó chế tạo được bom nhiệt hạch (bom H). Tại châu Á, cách mạng nhân dân Trung Quốc thắng lợi. Chiến tranh bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên.
Trong thời kỳ này, CHND Mông Cổ bắt đầu được công nhận trên thế giới. Nhờ Trung Hoa dân quốc công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao, Mông Cổ trở thành quy chế quốc gia – dân tộc (nation-state) và đột phá mở rộng quan hệ ngoại giao. Mông Cổ thiết lập quan hệ ngoại giao với Triều Tiên (1948), với CHND Trung Hoa (1950), cùng với Liên Xô, hai bên mở đại sứ quán tại Ulan Bato và Moskva. Ngày 06 tháng 4 năm 1950, Bộ Chính trị của Đảng NDCM Mông Cổ ra nghị quyết số 13 và số 29 quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Rumani, Bungary, Hungary và Ba Lan. Bắt đầu xây dựng đất nước sau chiến tranh. Nguyên soái Choibalsan từ trần. Quy chế lãnh đạo tập thể được thiết lập sau khi Choibalsan mất.
Thời kỳ tiếp theo (2) của “Chiến tranh Lạnh” từ năm 1953 đến năm 1962. Tác giả đích thực của “Chiến tranh Lạnh” là Salin từ trần. Tại Hoa Kỳ, Truman rời khỏi chính trường. Chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tại Liên Xô, sau khi Stalin mất, tình hình chính trị bắt đầu nóng lên. Khrushchev và Eisenhower bắt đầu hoạch định chính sách cho thế giới. Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô phê phán Stalin, tuyên bố nguyên tắc cùng chung sống hòa bình. Nhưng khối phương Đông không bình yên. Hồng quân Liên Xô trấn áp các cuộc bạo loạn xảy ra ở Đông Đức năm 1953, ở Hungari và Ba Lan năm 1956. Nhân sự kiện Tây Đức được gia nhập NATO, khối quân sự Warsawa được thành lập năm 1955. Cuộc khủng hoảng kênh đào Suez bùng phát. Cuộc chiến tranh của Pháp tại Việt Nam kết thúc. Máy bay do thám U-2 của Mỹ bị bắt rơi trên bầu trời Xô viết. Năm 1961, khủng hoảng Berlin nổ ra, bức tường được dựng lên để bao vây Tây Berlin. Cuộc chạy đua vào vũ trụ bắt đầu. Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo và lần đầu tiên phóng con tàu có người lái bay vòng quanh trái đất. Sau đó, Hoa Kỳ bắt đầu cạnh tranh lĩnh vực này với Liên Xô. Cách mạng nổ ra tại Cuba, việc tuyên bố xây dựng chủ nghĩa cộng sản sát nách Mỹ trở thành sự khởi đầu của thời kỳ tiếp theo của “Chiến tranh Lạnh”.
Trong thời kỳ này, hoạt động đối ngoại của CHND Mông Cổ không ngừng củng cố. Mông Cổ chính thức có ghế tại Liên Hiệp Quốc, gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế, từ năm 1960 việc thiết lập quan hệ ngoại giao ngày càng mở rộng xuất phát từ nguyên tắc cùng chung sống hòa bình không phân biệt chế độ chính trị – xã hội.
Năm 1959, Liên Hiệp Quốc tuyên bố lấy năm 1960 là “năm của châu Phi”. Cũng trong năm đó, Mông Cổ thiết lập quan hệ ngoại giao với Guinea, Campuchia và Cuba, năm tiếp theo thiết lập quan hệ ngoại giao với Nepal, Mali và Angieri. Tại Đại hội lần thứ 14 của Đảng NDCM Mông Cổ (03/7/1961), báo cáo chính trị thông báo, Mông Cổ có quan hệ ngoại giao với 21 quốc gia. Mông Cổ mời Tổng thống Guinea và Mali sang thăm, mở đại sứ quán của mình tại Guinea, thể hiện sự tích cực mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại. Trong nước Mông Cổ rập khuôn bầu không khí chính trị nóng lên từ Liên Xô, phê phán sự đàn áp dưới thời Choibalsan, bắt đầu minh oan cho những người bị án oan, không chấp nhận sở hữu tư nhân tại nông thông, mọi gia đình chăn nuôi phải vào hợp tác xã nông nghiệp, triển khai công việc khai hoang, thủ đô Ulan Bato được mở rộng và xây dựng ồ ạt, nguồn viện trợ của Trung Quốc được đổ vào Mông Cổ, các công trình nhà ở, cầu đường được xây dựng theo kiểu Trung Quốc. Mông Cổ củng cố vững chắc quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa.
Thời kỳ tiếp theo (3) của “Chiến tranh Lạnh” từ năm 1962 đến năm 1979. Thời kỳ này có thể chia thành hai giai đoạn: 1962 – 1972 và 1972 – 1979. Sức mạnh của thế giới thứ ba trở thành hiện thực trên thế giới. Các chế độ thực dân sụp đổ. Các nước chủ chốt của châu Phi giành được độc lập. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân là chủ yếu nhưng luôn kèm theo sự xung đột tôn giáo, chính trị và tranh giành tài nguyên. Khủng hoảng ở Congo, Tổng Thư ký Liên hiệp quốc bị thiệt mạng trong cuộc xung đột vũ trang này. Ngọn lửa cách mạng bùng phát tại Mỹ Latinh. Cuộc cách mạng ở Guatemala và Cuba, khủng hoảng vịnh Caribe, gần như đối mặt với nguy cơ Thế chiến III. Hoa Kỳ bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Tại Iran, với sự tham gia của CIA, chính phủ của Mossadegh bị lật đổ, Hoa Kỳ vững vàng thống trị vịnh Péc-xích. “Cách mạng văn hóa” bùng phát ở Trung Quốc, thiêu cháy cường quốc này. Liên Xô và Trung Quốc xảy ra mâu thuẫn lớn; đụng độ xảy ra tại biên giới. Các nước đang phát triển thành lập Phong trào không liên kết, trở thành lực lượng lớn thứ ba trên thế giới. Năm 1968, Hồng quân Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc. Tại Hoa Kỳ, Nixon nắm quyền, đưa ra học thuyết của mình. Chiến tranh Việt Nam kết thúc. Năm 1972, Nixon thăm Trung Quốc; sau đó thăm Liên Xô, hai bên ký hiệp ước SALT – 1 và SALT – 2  về tên lửa và hạt nhân. Tại Trung Đông, chiến tranh nổ ra trong năm 1967 và năm 1973, cuối cùng Hoa Kỳ dùng tiền dàn xếp để đổi lấy hòa bình; cách mạng nổ ra tại Iran, triều đình Shah thân Mỹ sụp đổ. Sau cuộc xung đột Ả rập – Israel, thế giới thấm đòn cú sốc dầu mỏ đầu tiên. Tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng đô la Mỹ – vàng không còn giá trị, kinh tế phương Tây bị khủng hoảng, vì vậy năm 1975, nhóm nước G -7 được thành lập.
Trong thời kỳ này, Mông Cổ không chậm chân so với các sự kiện thế giới. Theo Hiệp ước năm 1966, binh sỹ Xô viết được đưa đến Mông Cổ, trong mâu thuẫn Xô – Trung, Mông Cổ kiên định ủng hộ Liên Xô, quan hệ Mông – Trung xấu thêm, chuẩn bị cuộc chiến chống Trung Quốc, luôn có tiếng nói chung với Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc và các diễn đàn quốc tế, tham gia tích cực vào phong trào cộng sản quốc tế. Trong nước, Tsedenbal củng cố quyền lực, loại bỏ những người có quan điểm khác mình.  Nhờ lòng hảo tâm của Hội đồng tương trợ kinh tế và Liên Xô, dòng viện trợ ồ ạt chảy vào Mông Cổ. Nhờ viện trợ của Liên Xô, các thành phố hữu nghị, như Darkhan và Erdenet cũng như các khu dân cư tại thủ đô Ulan Bato đồ sộ mọc lên. Quan hệ Xô – Mông của thời kỳ Brezhnev – Tsedenbal đúng với ý nghĩa của hai từ “hữu nghị” .
Liên Xô ngày càng thực sự gắn bó với châu Á do quan hệ của mình với Trung Quốc đã trở nên căng thẳng, vì vậy, việc phát triển tình hữu nghị anh em Mông – Xô đã trở thành mảnh đất địa chính trị màu mỡ. Lúc này, Mông Cổ không ngừng tiến quân trên chính sách ngoại giao. Năm 1963 được coi là năm biểu tượng của sự khởi đầu thời kỳ mới trong lịch sử ngoại giao của Mông Cổ. Trong năm đó, Mông Cổ thiết lập quan hệ ngoại giao với Vương quốc Anh, Áo, Phần Lan và Ai Cập, năm 1964 thiết lập quan hệ ngoại giao với Thụy Sỹ và Thụy Điển, năm 1965 Pháp công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Mông Cổ. Có 6 nước phương Tây, trong đó có 4 nước trung lập đã chìa bàn tay hữu nghị của mình ra phía Mông Cổ. Năm 1966, khi Đảng NDCM Mông Cổ tiến hành Đại hội lần thứ 15, số nước có quan hệ ngoại giao với Mông Cổ đã vượt xa con số 30. Quan hệ đối ngoại của CHND Mông Cổ mở rộng có hiệu quả, vị trí quốc tế của Mông Cổ không ngừng được củng cố, uy tín trên thế giới được nâng cao, có quan hệ ngoại giao với 33 quốc gia trên 4 châu lục, có quan hệ thương mại với trên 20 quốc gia. Đến năm 1971, theo báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ 16 của Đảng NDCM Mông Cổ, CHND Mông Cổ thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với trên 20 quốc gia, đưa tổng số nước quan hệ ngoại giao lên 53 nước. Đến năm 1976, khi Đảng NDCM Mông Cổ tiến hành Đại hội lần thứ 17, Mông Cổ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với 79 nước trên thế giới.
Thời kỳ tiếp theo (4) từ năm 1979 đến năm 1985: các sự kiện diễn ra dồn dập và mang tính cọ xát. Năm 1979, Liên Xô đưa quân vào quốc gia láng giềng nhỏ bé Afghanistan, khiến các thành tựu hòa giải của Liên Xô bị phá vỡ. Phương Tây tẩy chay Thế vận hội Olimpic Moskva năm 1980, lần đầu tiên lễ hội thể thao lớn nhất toàn cầu diễn ra không có sự tham gia của các vận động viên của Hòa Kỳ, Nhật Bản và Tây Đức. Năm 1980, tại Hoa Kỳ, ứng cử viên Tổng thống diều hâu Reagan đắc cử, tuyên bố chôn vùi chủ nghĩa cộng sản thế giới. Chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam bùng nổ, phe xã hội chủ nghĩa thế giới bị chia rẽ không thể hàn gắn. Cái gọi là chế độ cộng sản khát máu Polpot thống trị Campuchia tàn sát gần 3 triệu người dân, nhưng nhờ các binh sỹ của Việt Nam đánh đuổi, đập tan chế độ Polpot, “vấn đề Campuchia” xuất hiện trên thế giới. Sự tan rã của phong trào cộng sản quốc tế bắt đầu do khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản châu Âu. Khối cộng sản thế giới bắt đầu tan rã từ bên trong. Chế độ quân sự tại Ba Lan tạm thời lập được trật tự xã hội. Tại Hoa Kỳ, trong khi Reagan năng động thì nhà lãnh đạo Liên Xô Brezhnev được coi là kiến trúc sư hòa giải lại bị bệnh tật, tạ thế năm 1982. Sự hòa giải cũng biến mất cùng với ông. Thay thế Brezhnev là Andropov, người có thái độ cứng rắn với Hoa Kỳ, sự nóng lên của “Chiến tranh Lạnh” lại bắt đầu. Thế giới đã đứng bên bờ vực cuộc chiến tranh mới, do khủng hoảng tên lửa ở châu Âu, máy bay dân sự Hàn Quốc bị bắn rơi trong năm 1983. Thay thế Brezhnev, với bàn tay sắt nhưng Andropov cũng không thể chiến thắng được bệnh tật, ông từ trần trong năm 1984. Người thay thế ông là Chernenko lại còn ốm yếu hơn cả những người tiền nhiệm, chỉ nắm quyền được một năm. Tại Trung Quốc, lịch sử xảy ra còn kỳ quặc hơn. Mao chết và nhờ đập tan được “bè lũ bốn tên”, “cuộc cách mạng văn hóa” đã kết thúc sau 10 năm hỗn loạn. Cải cách vĩ đại của Đặng Tiểu Bình bắt đầu triển khai. Cộng sản cánh tả Trung Quốc trở thành địa bàn thực hiện sự thử nghiệm kinh tế tư bản chủ nghĩa và đã rất thành công.
Chế độ phát xít ở Bồ Đào Nha sụp đổ, các nước thuộc địa chọn con đường phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa, Mông Cổ thực hiện sự nghiệp thiêng liêng của mình trong việc truyền bá kinh nghiệm từ chế độ phong kiến tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa cho các nước châu Phi, Mỹ Latinh và Afghanistan, trở thành phương hướng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của CHND Mông Cổ. Trong nước, tệ sùng bái cá nhân của Tsedenbal đạt đến cực đỉnh, năm 1984, những người Xô viết gây áp lực buộc Tsedenbal phải từ chức, sang điều trị bệnh tại Moskva. Tsedenbal bị coi là lực cản chính của quan hệ Xô – Trung, là kẻ tâm thần thời “Chiến tranh Lạnh”, khi không còn Tsedenbal, Kremlin dễ dàng quan hệ với Trung Quốc. Chính sách đối ngoại của CHND Mông Cổ không ngừng mở rộng. Năm 1981, Đại hội lần thứ 18 của Đảng NDCM Mông Cổ nêu rõ, quan hệ đối ngoại của CHND Mông Cổ rất rộng mở, ngày càng tham gia có hiệu quả vào các hoạt động quốc tế, đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 91 quốc gia, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế có uy tín. Năm 1986, khi Đảng NDCM Mông Cổ tiến hành Đại hội lần thứ 19, số nước quan hệ ngoại giao với Mông Cổ là 99 nước (hiện tại Mông Cổ có quan hệ với 192 nước).
Thời kỳ kết thúc “Chiến tranh lạnh” (5) từ năm 1985 đến năm 1991. Sự nghiệp cải tổ diễn ra ở Liên Xô, quốc gia gần gũi nhất và rất hiểu biết Mông Cổ. Ba Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bị bệnh lần lượt tạ thế để lại khoảng trống chính trị lớn cho Moskva. Lúc đó, Gorbachev được coi là nhà cải cách trẻ tuổi, nhà chính trị sung sức xuất hiện, tỏa sáng trên thế giới. Trong nước, Gorbachev giành được chiến thắng trong cuộc đấu tranh khốc liệt với tệ tham nhũng, chứng nghiện rượu và “đội ngũ già”. Cuộc chiến còn động chạm tới cả lãnh đạo cao nhất và tổ hợp công nghiệp – quân sự. Ngoài cải tổ còn xuất hiện thêm tính công khai và tư duy chính trị mới. Gorbachev tuyên bố nguyên tắc không sử dụng đội ngũ cán bộ cũ vào các vị trí cấp cao mới. Từng bước khôi phục sự thật lịch sử, vạch trần sự tàn bạo của Stalin, đưa Đảng Cộng sản Liên Xô quay trở về với chủ nghĩa Mác – Lenin đích thực. Từ chối việc xây dựng chủ nghĩa cộng sản không tưởng được nêu ra từ Đại hội lần thứ 22 và lần thứ 27 của Đảng Cộng sản Liên Xô, nói chung Gorbachev tìm thấy sức mạnh tinh thần cho mình để vứt bỏ học thuyết về cách mạng thế giới. Lần đầu tiên trên thế giới, Gorbachev tự cho rằng, nhân loại không phải tất cả cùng đi lên chủ nghĩa cộng sản từ chủ nghĩa tư bản, không có chuyện bỏ qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, làm gì có phong trào cộng sản – công nhân, Gorbachev tự cho mình là người cộng sản duy nhất trong lịch sử. Tuyên bố trong chính sách ngoại giao của mình, tư duy chính trị mới của Gorbachev là đầu hàng Hoa Kỳ trong đàm phán về tên lửa tầm trung và tầm ngắn, rút binh lính Xô viết ra khỏi Afghanistan, đầu hàng Trung Quốc trong vấn đề “xóa bỏ ba trở ngại”, gây sức ép trong vấn đề rút binh sỹ Việt Nam ra khỏi Campuchia. Gorbachev không muốn nhìn các sự kiện xảy ra ở Đông Âu trong những năm 1953, 1956, 1968 và 1980 (tại CHDC Đức, Hungary, Tiệp Khắc và Ba Lan) bằng con mắt cũ. Gorbachev thực hiện chuyến thăm lịch sử tại CHND Trung Hoa, ấn định thời gian rút quân Xô viết ra khỏi Mông Cổ. Cuối năm 1989, cách mạng dân chủ tại Rumani, tiêu điểm cuối cùng của chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, giành được thắng lợi. Gorbachev ủng hộ tất cả các sự kiện trên. Lúc đó, phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô đối với quốc tế xã hội chủ nghĩa quá yếu kém, đối với Mông Cổ cũng không khác biệt. Sau Thế chiến II, nếu cấu trúc thế giới hai cực được hình thành trong quan hệ quốc tế và các thỏa thuận ba bên đạt được giữa Stalin, Roosevelt và Churchill tại Yalta thì tháng 12 năm 1989 chính Gorbachev và Bush đã xóa bỏ các định chế đó tại Malta. Với công thức “từ Yalta đến Malta”, “Chiến tranh Lạnh” coi như kết thúc!
Sau cuộc gặp thượng đỉnh Malta mọi việc đã rõ ràng. Tại Mông Cổ, cuộc cách mạng dân chủ “năm Canh Ngọ” (năm 1990) giành thắng lợi. Tiến hành bầu cử tự do, theo con đường nghị trường bao gồm đại diện của các đảng chính trị.
Nhưng tại Liên Xô, bầu cử có nhiều ứng cử viên được tiến hành công khai, thành lập đại hội đại biểu nhân. Gorbachev được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Liên Xô, sự kiện chưa bao giờ có trong lịch sử thời Xô viết. Tuy nhiên, vẫn không thể cản trở được sự tan rã cường quốc Liên Xô. Gorbachev đưa ra sáng kiến thành lập Liên bang của các quốc gia toàn quyền trong bối cảnh Liên bang Xô viết sắp tan rã và nhận được sự ủng hộ của một số nước cộng hòa. Người ủng hộ thân cận nhất của Gorbachev lúc đó là Yeltsin (Nga), Nazarbaev (Kazakhstan), Kravchuk (Ucraina) và Shushkevich (Belarus), nhưng sau này chính những người đó (trừ Nazarbaev) đã đọc thông cáo khai tử Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và lịch sử của “Chiến tranh Lạnh” kết thúc hoàn toàn!
Giáo sư Đ. Bayarkhuu là nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế, nhà bình luận nổi tiếng ở Mông Cổ; tốt nghiệp Đại học Tổng hợp quốc gia Mông Cổ, Học viện Ngoại giao trực thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô.
Hoàng Tuấn Thịnh dịch từ bản tiếng Mông Cổ  “Хүйтэн дайн” – ы танилцуулга.
Bầu cử giữa kỳ 2018: Khoảnh khắc xoay trục cho nước Mỹ và thế giới?


Tác giả: Vy Xuân
Nước Mỹ bước vào cuộc bầu cử giữa kỳ “chưa từng có tiền lệ”, với Tổng thống Donald Trump, rất nhiều tiền, sự đa dạng trong ứng viên và sự chia rẽ sâu sắc trong công chúng.
Khi tháng 11 sang và Barack Obama tiến gần đến ngày kỷ niệm 10 năm ông đắc cử tổng thống Mỹ, người ta thấy cựu tổng thống một lần nữa có mặt tại các buổi vận động tranh cử. Lần này, ông không tranh cử để giành lấy lá phiếu có tên mình, mà kêu gọi người dân, đặc biệt là người trẻ tuổi, đi bỏ phiếu cho đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử mà ông gọi là “quan trọng nhất trong cuộc đời các bạn, có lẽ còn quan trọng hơn năm 2008 nữa”.
Một người khác cũng đang bay khắp đất nước, có mặt tại những bang chiến lược để vận động cho những lá phiếu “không có tên mình”. Đó là Tổng thống Donald Trump.
Vào ngày hôm nay, 6/11, thế giới sẽ có được cái nhìn đầu tiên về nước Mỹ, 2 năm sau cú sốc Donald Trump đắc cử vào Nhà Trắng, điều mà những người như Obama từng cảnh báo là “một mối đe dọa”.
Cử tri Mỹ sẽ bỏ phiếu để bầu lại tất cả 435 ghế của Hạ viện; 35 ghế, tức khoảng 1/3 của Thượng viện; và chọn ra 36 thống đốc bang.
Trong số 35 ghế Thượng viện sẽ được bầu lại vào hôm nay, chỉ có 9 ghế hiện do người Cộng hòa đang nắm và 26 ghế do phe Dân chủ chiếm, tức cơ hội để đảng Dân chủ giành thêm ghế và kiểm soát Thượng viện là khá thấp, theo trang phân tích dữ liệu bầu cử FiveThirtyEight. Dù vậy, đảng Dân chủ nhiều cơ hội sẽ giành lại được Hạ viện trong lần bầu cử này.
Đây là kỳ bầu cử giữa kỳ sôi động nhất trong vào 20 năm qua tại Mỹ, xét từ cả kết quả thăm dò dư luận, lượng tiền được đổ vào quá trình vận động tranh cử và sự đa dạng của các ứng viên.
Trong số ứng viên ra tranh cử, có 411 người là phụ nữ, người da màu, người thuộc cộng đồng LGBT hoặc 216 người là người da đen, gốc Latin, châu Á, người Mỹ bản địa hoặc đa sắc tộc, đưa cuộc bầu cử năm nay trở thành một trong những cuộc bầu cử đa dạng nhất trong lịch sử.
Cuộc bầu cử này cũng chứng kiến lượng tiền đổ vào từ các “mạnh thường quân” tăng cao và tổng chi tiêu cho vận động tranh cử lần đầu tiên vượt mốc 5,2 tỷ USD (con số ngày 4 và 8 năm trước chỉ xấp xỉ nhau, chưa tới 4 tỷ USD).
Tất cả sự hứng khởi đến từ các cử tri trẻ tuổi với nguồn gốc đa dạng hay “cơn lốc tiền” để vào chiến dịch tranh cử đều tập trung ở đảng Dân chủ. Trong khi đó, những người Cộng hòa lại bước vào cuộc bầu cử với thành quả là Mỹ lần đầu trở lại vị trí nền kinh tế cạnh tranh nhất toàn cầu trong 10 năm qua, tăng trưởng kinh tế trong quý 2 năm nay đạt mức tốt nhất trong 4 năm, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất kể từ năm 1969.
“Lịch sử nước Mỹ vốn luôn chia rẽ…”
Nhưng hiếm khi sự chia rẽ ở Mỹ lớn đến thế này và được cổ súy bởi chính tổng thống đương nhiệm, theo các nhà chỉ trích.
Kết quả thăm dò của viện Pew cho thấy những người Mỹ Dân chủ và Cộng hòa tiếp tục xung đột với nhau ở hầu hết mối quan tâm cơ bản: nhập cư, chăm sóc sức khỏe, công bằng trong kinh tế, phá thai… Hầu như không thể tìm thấy một sự nhượng bộ hay điểm chung nào trong định hướng của những người ủng hộ hai đảng này với nhau.
Tổng thống Trump không làm mọi thứ tốt lên. Những người chỉ trích nói rằng các ứng viên tổng thống thường nói những lời dễ nghe với cử tri tiềm năng của mình và có phần công kích bên kia, nhưng khi đắc cử, nhiệm vụ của tổng thống là phải hàn gắn đất nước. Ông Trump “tuyên chiến” nhiều hơn.
Hơn 10 ngày trước cuộc bầu cử, hàng loạt thành viên đảng Dân chủ – trong đó có cựu tổng thống Barack Obama và cựu đối thủ của Trump, bà Hillary Clinton – cùng văn phòng CNN nhận được bưu phẩm chứa chất nổ.
Tổng thống Trump, sau những tuyên bố mạnh mẽ ban đầu trước một hành động bạo lực, đã hướng chú ý của ông về nỗi lo dành cho đảng mình. “Những người Cộng hòa đang thể hiện rất tốt trong kỳ bầu cử sớm và các cuộc thăm dò, giờ thì chuyện ‘bom’ xảy ra và động lực bị chậm đi. Những gì đang xảy ra rất không may. Những người Cộng hòa, hãy ra ngoài và đi bầu”, tổng thống nói trên Twitter.
Michael Cornfield, phó giáo sư tại Trường Quản lý Chính trị ở Đại học George Washington, nói rằng Tổng thống Trump “đã đi xa khỏi cách mà phần lớn tổng thống sẽ phản ứng lại một hành vi khủng bố trong nước”.
Thay vào đó, ông dùng đặt chữ “bom” trong dấu nháy ở dòng “tweet”, hành động bị chỉ trích là mở đường cho các thuyết âm mưu về nguồn gốc của bưu phẩm này và việc nó xuất hiện ngay kỳ bầu cử.
Tình trạng chia rẽ được dự đoán sẽ kéo dài sau cả cuộc bầu cử. Thậm chí, một chiến thắng của đảng Dân chủ sẽ đẩy tình hình tại Washington D.C. vào thế bế tắc. Bất kỳ dự luật nào do phe Dân chủ đề xuất, dù đã được thông qua bởi lưỡng viện, hoàn toàn có thể bị tổng thống bác bỏ.
Tuy nhiên, Tổng thống Trump không phải là nguyên nhân hay tác nhân duy nhất. Chiến thắng của ông là hiện thân của những bất mãn âm ỉ nhiều thập niên qua trong lòng nước Mỹ còn hai năm vừa qua tại Nhà Trắng và sự ủng hộ mà Trump nhận được từ lưỡng viện, đối với những chính sách đầy tranh cãi, lại là biểu hiện cho sự chia rẽ, một đặc điểm của chính trị Mỹ với lịch sử còn lâu đời hơn những bất đồng bên trên.
“Sự phân cực là một lịch sử lâu dài trong nền chính trị Mỹ. Chúng ta hãy tin vào sự thật rằng chúng ta vẫn sống sót đến ngày nay, và đã vượt qua những giai đoạn còn tồi tệ hơn”, Laura Ellyn Smith, Khoa Lịch sử, Đại học Mississippi, nói với Quartz.
“Năm của phụ nữ” lần 2?
Nhiệm kỳ của Tổng thống Trump đã bắt đầu bằng cuộc Tuần hành Phụ nữ (Women’s March) trên khắp nước Mỹ một ngày sau khi ông nhậm chức. Cũng trong năm 2017, phong trào #MeToo chống quấy rối tình dục đã từ Hollywood và nước Mỹ lan khắp thế giới.
Hai năm sau đó, trong số 962 ứng viên, có 262 phụ nữ đang chạy đua vào các vị trong Thượng viện, Hạ viện và chức thống đốc các bang, và đây là một con số kỷ lục.
“Nếu có ai đó hỏi tôi cách đây 3 năm, ‘cô sẽ ra tranh cử chứ?’, tôi sẽ cười vào họ”, Jasmine Clark, bà mẹ 2 con 35 tuổi và là ứng viên cho vị trí hạ nghị sĩ của bang Georgia, nói với Washington Post.
Clark là nhà khoa học vi sinh tại Đại học Emory. Cô mặc pyjama và khóc trong đêm ông Trump đắc cử rồi tổ chức cuộc Tuần hành Khoa học tại thành phố Atlanta của Georgia, cuộc tụ tập của hàng nghìn người phản đối việc ông Trump chống lại các bằng chứng và cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
“Tôi là phụ nữ, tôi là người da màu và tôi là một nhà khoa học. Tôi cảm thấy từ khi Trump đắc cử, tất cả các phần trong căn tính tôi bị tấn công”.
“Nên tôi ra tranh cử”, cô nói.
Tại Arizona, nơi chưa từng có một người phụ nữ nào bước vào Thượng viện, mọi thứ chắc chắn sẽ thay đổi trong năm nay khi một trong hai người phụ nữ, Kyrsten Sinema và Martha McSally, trở thành thượng nghị sĩ sau ngày 6/11.
Ứng viên của đảng Cộng hòa cho vị trí này là Martha McSally, người có 26 năm phục vụ trong Không lực Mỹ, trở thành phi công đầu tiên bay trong một cuộc tham chiến và ra tranh cử trong bộ đồ phi công màu xanh có may lá cờ Mỹ và tên của bà. McSally chỉ trích đối thủ của mình là “người phụ nữ váy hồng đi biểu tình” trong lúc bà chiến đấu vì nước Mỹ.
Tuy nhiên, sự đa dạng giới trong cuộc bầu cử năm nay không diễn ra ở lưỡng đảng. Trong số 262 ứng viên nữ cho các vị trí, 207 người thuộc đảng Dân chủ, theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu Phụ nữ và Chính trị.
Trên CNN, Karine Jean-Pierre của Đại học Columbia lưu ý rằng trong năm bầu cử 1992, người ta cũng gọi đó là “Năm của Phụ nữ”. Đó là cuộc bầu cử sau khi Anita Hill cáo buộc Clarence Thomas, cấp trên cũ của bà và là người đang đợi phê chuẩn cho vị trí thẩm phán Tòa Tối cao Mỹ, đã quấy rối tình dục mình. Đó cũng là số phụ nữ chạy đua vào các vị trí trong cuộc bầu cử nhiều ở mức chưa từng có và Carol Moseley-Braun trở thành người phụ nữ đa đen đầu tiên đắc cử vào Thượng viện.
26 năm sau, khi nước Mỹ là nơi khởi phát cho phong trào #MeToo chống quấy rối tình dục, người ta vẫn cần một “Năm của Phụ nữ” cho các cuộc bầu cử. Và cũng trùng hợp, Thượng viện Mỹ vừa phê chuẩn vị trí thẩm phán Tòa Tối cao đối với Brett Kavanaugh sau nhiều cáo buộc quấy rối tình dục nhắm vào ông.
“Chúng ta đã có ‘Năm của Phụ nữ’ trước đây và đó chỉ là hiện tượng một đêm, nhưng đây là một sự chuẩn bị”, Reuters dẫn lời Celinda Lake, người phân tích thăm dò của đảng Dân chủ. “Sẽ có một số lượng kỷ lục phụ nữ đắc cử, cũng sẽ có một số lượng kỷ lục thất cử. Điều quan trọng là họ tái tranh cử”.
Còn quá sớm để gọi đây là cuộc bầu cử của phụ nữ. Và dù những người phụ nữ có chiến thắng, họ cũng sẽ bước vào Điện Capitol với một tổng thống đã gọi phong trào nữ quyền là “thời khắc đáng sợ với đàn ông” và một thẩm phán tối cao bị ít nhất 3 người phụ nữ tố cáo đã quấy rối tình dục họ.
Cuộc trưng cầu dân ý về Trump
“Tên tôi không có trên phiếu bầu, nhưng tôi vẫn ở trên phiếu bầu, vì đây là một cuộc trưng cầu dân ý về tôi”, Tổng thống Donald Trump đứng trước cử tri tại Southaven, Mississippi và xác nhận điều báo chí đã nói nhiều tháng nay. “Tôi muốn các bạn đi bỏ phiếu. Hãy coi như tên tôi ở trên phiếu”.
Nhiều cử tri Mỹ sẽ bước vào phòng bỏ phiếu và mang theo ký ức về buổi tối ngày 8/11/2016, thời khắc Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ.
“Trái tim tôi chết đi khi đó. Bố tôi lật mồ của ông ấy”, Guardian dẫn lời Maureen Osiecki, một hưu trí 76 tuổi sống tại bang Michigan.
Sống ở bên kia đường so với bà Osiecki, bà Linda Andrews, 66 tuổi,lại  nói rằng bà sẽ bỏ phiếu cho những người Cộng hòa.
“Những dòng tweet của Trump không ‘đúng đắn về chính trị’ nhưng những kẻ ‘đúng đắn về chính trị’ lại chẳng làm gì cả. Trump đang làm điều ông ấy nói sẽ làm, ông ấy là người giữ lời. Tôi đã thử những lời đường mật rồi và chúng chẳng giúp gì cả”, bà nói.
Những lá phiếu vào ngày 6/11, dù mang tên hàng trăm người khác, sẽ giải đáp câu hỏi người Mỹ ai đã và ai không hối hận về lựa chọn của họ vào năm 2016. Hai năm đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Trump đã chứng kiến hàng loạt vụ bê bối tại Washington D.C., sự thách thức các chuẩn mực hiến pháp và hủy hoại đáng kể đối với các thể chế nước Mỹ đang xây dựng nhiều thập niên qua để duy trì trật tự thế giới.
Nhưng cũng trong hai năm đó, Tổng thống Trump đã giữ rất nhiều lời hứa với cử tri của ông, kể cả những lời hứa gây tranh cãi nhất, trải qua một giai đoạn kinh tế tốt đẹp và định hình Tòa Tối cao Mỹ thêm một thế hệ nữa bằng việc đề cử thành công một thẩm phán bảo thủ.
Một cuộc khảo sát của Wall Street Journal  NBC News, công bố hôm 4/11, cho thấy vai trò của tổng thống trong lá phiếu: 32% người được hỏi nói rằng phiếu bầu của họ là thông điệp ủng hộ Trump, 40% nói rằng đó là thông điệp phản đối và 28% nói rằng đó không phải là về tổng thống.
Ở phía ngược lại, cuộc bầu cử này còn là bài kiểm tra cho những “luồng năng lượng chống Trump” được hình thành từ cuộc Tuần hành Phụ nữ vào năm 2017 để xem liệu phong trào có đủ lớn mạnh để đe dọa đến tổng thống hay chưa.
Đa số các dự đoán cho thấy đảng Dân chủ có nhiều cơ hội giành lại Hạ viện trong khi Thượng viện vẫn do đảng Cộng hòa kiểm soát. Bất kỳ chương trịnh nghị sự nào của tổng thống hay đảng Cộng hòa đều sẽ bị đình trệ và cản trở nếu đảng Dân chủ có được một chiến thắng ở bất kỳ viện nào.
Đảng chiếm đa số có quyền bổ nhiệm các ủy ban trong viện, nơi sẽ ra “trát tòa” để mở các phiên điều trần. Dưới một Hạ viện do đảng Dân chủ kiểm soát, các cộng sự của Tổng thống Trump có nhiều nguy cơ hơn phải ra trước phiên điều trần, từ mối liên hệ với Nga hay công việc làm ăn của gia đình tổng thống.
Trong kịch bản khó khăn hơn, nếu đảng Dân chủ giành được cả lưỡng viện, hoặc chỉ Thượng viện, tổng thống sẽ đối mặt với chuỗi ngày khó khăn trong việc thuyết phục Thượng viện phê chuẩn cho các vị trí nội các và thẩm phán Tòa Tối cao mà ông đề cử. Với hầu hết trường hợp, luật lệ tại Thượng viện cho phép phê chuẩn một đề cử của tổng thống với đa số tối thiểu, đồng nghĩa với việc trong 2 năm qua, hàng loạt người ông đề cử đã được phê chuẩn mà không cần bất kỳ sự ủng hộ nào của đảng Dân chủ. Tổng thống sẽ thật sự gặp rắc rối nếu điều này xảy ra, trong bối cảnh một cuộc “ra đi hàng loạt” trong nội các đang được dự báo sẽ diễn ra sau kỳ bầu cử giữa kỳ.
Tuy nhiên, điều được nói đến nhiều, sự luận tội tổng thống, không có nhiều cơ hội xảy ra. Quá trình luận đội bắt đầu ở Hạ viện, thế nhưng khi lên đến Thượng viện, sẽ cần 2/3 số phiếu tại đây để phế truất một tổng thống, một con số khiến khó đảng nào có thể tự quyết.
Cuộc bầu cử quan trọng nhất trong ký ức hiện đại
Theo CNBC, không có nhiều cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ được theo dõi sát sao đến vậy trên toàn cầu. Lý do rất rõ ràng: Ảnh hưởng của nó đến hình ảnh về sức hấp dẫn của nền dân chủ trên thế giới, một hé lộ về sức chịu đựng của chính quyền Tổng thống Trump và những chính sách đối ngoại của họ cũng như tác động đối với phong trào dân túy trên toàn thế giới.
Một tuần trước khi các thùng phiếu của Mỹ đóng cửa, người Brazil đã bầu lên một tổng thống cực hữu, nước Anh bế tắc trong cuộc đàm phán rời EU, nhưng họ vẫn sẽ rời đi còn sự nghi ngờ đối với các thể chế hợp tác đa phương và nền dân chủ kiểu Mỹ đang lớn dần ở mọi nơi.
Các đồng minh của Washington đang lo lắng mô hình Mỹ đang mất đi hấp dẫn trong lúc Trung Quốc thúc đẩy mô hình của họ cho các nước đang phát triển lẫn đã phát triển.
Stephen Hadley, cựu cố vấn an ninh quốc gia dưới thời cựu tổng thống George W. Bush, gần đây nói với CNN: “Nếu bạn lo lắng về mô hình của Mỹ, chúng ta có nhiều công cụ để vận hành một chính sách đối ngoại phục vụ cho lợi ích của chúng ta, mang lại thịnh vượng và an ninh cho người dân. Nhưng thương hiệu của chúng ta trên toàn cầu đang không ổn”.
“Có lý do để mọi người không xem thường tuyên bố của Trung Quốc rằng họ có một mô hình mới. Vì mô hình của chúng ta đang trông không tốt”, ông nói.
Cuộc bầu cử trở thành cuộc trưng cầu dân ý, không chỉ đối với tổng thống mà còn cả với thương hiệu chính trị dân túy mà ông là người đại diện. Dù phong trào dân túy đã tồn tại từ trước nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, chiến thắng của ông là động lực mạnh mẽ, thúc đẩy cả những người ủng hộ dân túy trong nước lẫn nhiều nhà lãnh đạo trên toàn cầu.
Frederick Kempe, Chủ tịch và CEO tại Viện nghiên cứu Atlantic Council, nói rằng chính trị và môi trường xã hội Mỹ nói chung luôn có ảnh hưởng toàn cầu. Nếu phong trào #MeToo, khởi nguồn tại Mỹ, có khả năng lan tỏa toàn cầu thì chính sách “Nước Mỹ trên hết” của Tổng thống Trump cũng sẽ truyền cảm hứng cho những người lãnh đạo có tư duy tư tự ông. Tại châu Âu, những lãnh đạo đó thường tranh cử dựa trên chính sách chống nhập cư, còn tại Mỹ Latin là các kế hoạch chống tham nhũng. Và ở mọi người, các ứng viên dân túy đều nói đến “cảm hứng từ Trump”, bao gồm tổng thống cực hữu vừa đắc cử tại Brazil.
Người ta sẽ phải đợi đến đêm 6/11 tại Mỹ để biết liệu “làn sóng xanh màu tiền” và những gương mặt mới mẻ của đảng Dân chủ có mang lại cho họ quyền kiểm soát Đồi Capitol hay không, hay người dân vẫn sẽ chọn những chỉ số kinh tế đang rất tốt sau 2 năm đảng Cộng hòa hậu thuẫn cho những chính sách của Tổng thống Trump.
Không ai biết liệu người dân Mỹ sẽ chọn những gương mặt có phần đa sắc tộc hơn của đảng Dân chủ hay cảm thấy bị đe dọa bởi đoàn “caravan” di cư đang tiến sát biên giới Mỹ và chọn lấy ứng viên với chính sách nhập cư cứng rắn. Và nếu đảng Dân chủ chiến thắng ở ít nhất một viện của quốc hội Mỹ, nỗi lo sẽ chuyển từ việc đảng chiếm đa số hậu thuẫn và “nuông chiều” tổng thống quá mức sang việc không thể có tiếng nói chung giữa đảng kiểm soát quốc hội với tổng thống, trong bối cảnh sự chia rẽ tại Washington D.C. lẫn nước Mỹ ngày càng rộng ra.
“Tất cả chính trị đều là chuyện địa phương”, Tip O’Neill’s, cựu chủ tịch Hạ viện Mỹ và là một người Cộng hòa, từng nói. Nhưng những lá phiếu địa phương của người Mỹ sẽ vươn ra khỏi các bang mà họ bỏ phiếu, sẽ tiếp tục định hình nước Mỹ và có ảnh hưởng đến thế giới trong ít nhất 2 năm nữa.
Nguồn: Zing

Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo.
P/v

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập33
  • Hôm nay6,093
  • Tháng hiện tại44,080
  • Tổng lượt truy cập4,264,973
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây