09/08/378: Người La Mã bị đánh bại tại Adrianople

Thứ sáu - 09/08/2019 08:37
Vào ngày này năm 378, trong một trong những trận chiến có tính quyết định nhất trong lịch sử, một đội quân La Mã lớn dưới sự chỉ huy của Valens, hoàng đế Đông La Mã, đã bị người Visigoth đánh bại trong Trận Adrianople – khu vực thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Hai phần ba quân đội La Mã, bao gồm cả Hoàng đế Valens, đã bị dẫm đạp và tàn sát bởi đội quân man tộc (barbarians) cưỡi ngựa
09/08/378: Người La Mã bị đánh bại tại Adrianople
09/08/378: Người La Mã bị đánh bại tại Adrianople


Nguồn: Romans routed at AdrianopleHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào ngày này năm 378, trong một trong những trận chiến có tính quyết định nhất trong lịch sử, một đội quân La Mã lớn dưới sự chỉ huy của Valens, hoàng đế Đông La Mã, đã bị người Visigoth đánh bại trong Trận Adrianople – khu vực thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Hai phần ba quân đội La Mã, bao gồm cả Hoàng đế Valens, đã bị dẫm đạp và tàn sát bởi đội quân man tộc (barbarians) cưỡi ngựa.
Lên ngôi năm 264, Hoàng đế Valens khởi xướng chiến tranh chống lại tộc người Visigoth bán-văn minh vào năm 364 và đến năm 369 đã đánh bại họ. Những người Visigoth dưới sự lãnh đạo của Fritigern đã được phép định cư ở phía nam sông Danube thuộc Đế chế La Mã, nhưng do phải quy phục sự cai trị áp bức của các quan chức La Mã, họ đã sớm nổi dậy.
Vào năm 378, Valens dẫn đầu một đội quân La Mã đến chiến đấu với Fritigern, và khi còn cách Adrianople 10 dặm, đội quân La Mã đã đối đầu với đội quân man tộc đông đúc. Khi kỵ binh Visigoth vắng mặt để làm nghi binh, Valens đã vội vã ra lệnh tấn công vào ngày 09 tháng 08. Người La Mã ban đầu đã đẩy lùi được đội quân man tộc, nhưng sau đó kỵ binh Visigoth đột ngột quay trở lại, đánh tan tác đội quân La Mã và buộc họ phải rút lui. Các kỵ sĩ sau đó cưỡi ngựa đuổi theo và tàn sát bộ binh La Mã đang trốn chạy. Khoảng 20.000 trong số 30.000 quân lính đã thiệt mạng, bao gồm Hoàng đế Valens.
Chiến thắng mang tính quyết định của người Visigoth trong Trận chiến Adrianople đã đẩy Đế quốc Đông La Mã vào thế gần như không còn khả năng phòng thủ, đồng thời thiết lập sự áp đảo của kỵ binh trước bộ binh, điều sẽ kéo dài trong suốt thiên niên kỷ tiếp theo. Hoàng đế Valens đã được kế vị bởi Theodosius Đại đế, người đã đấu tranh để đẩy lùi man tộc Visigoth lúc bấy giờ đang cướp bóc trên khắp bán đảo Balkan.
16/06/1961: Ngôi sao ba lê Nureyev đào thoát khỏi Liên Xô


Nguồn: Russian ballet star Nureyev defects, History.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1961, Rudolf Nureyev, ngôi sao trẻ từ vũ đoàn Kirov Opera Ballet của Liên Xô, đã đào thoát trong chuyến dừng chân tại Paris. Vụ trốn chạy này là một đòn chí mạng cho uy tín của Liên Xô và gây ý chú lớn trên trường quốc tế.
Nureyev trở thành một ngôi sao ballet ở Liên Xô vào năm 1958, khi vừa mới 20 tuổi, lúc mà anh trở thành một trong những nghệ sĩ solo của Kirov Opera Ballet. Hai vũ đoàn ballet, Kirov và Bolshoi, là hai trong số những món trang sức của ngoại giao văn hoá Liên Xô. Các màn trình diễn của họ đã giành được nhiều danh hiệu nổi tiếng trên toàn thế giới và giúp nghệ thuật Liên Xô nhận được sự tôn trọng.
Ngày 16/06/1961, Kirov vừa hoàn thành một tua diễn ở Paris và khi đang chuẩn bị lên máy bay, Nureyev đã tách khỏi đoàn và khăng khăng rằng mình sẽ ở lại Pháp. Theo các nhân chứng, những thành viên khác trong đoàn đã cầu xin Nureyev nhập đoàn và trở lại Liên Xô cùng họ. Nhưng nam vũ công đã từ chối và chạy đến lực lượng bảo vệ sân bay và hét lên “Hãy bảo vệ tôi!” Các quan chức an ninh đã bắt giữ Nureyev, sau đó thì anh ta xin tị nạn chính trị. Vũ đoàn Kirov rất bực bội vì mất đi ngôi sao sáng, còn các nhân viên an ninh của Liên Xô thì tức giận trước cuộc đào tẩu của Nureyev. Cuối cùng, đoàn đã bay về Liên Xô mà không có nam vũ công này.
Việc đào thoát của Nureyev là một cú đúp bất ngờ với Liên Xô. Thứ nhất, nó đã làm giảm chất lượng của Vũ đoàn Kirov, vốn đã quảng bá về sự xuất hiện của thần đồng trẻ tuổi trong các buổi biểu diễn trên khắp thế giới. Thứ hai, nó đã tàn phá nặng nề chiến dịch tuyên truyền của Liên Xô về tự do chính trị và nghệ thuật ở nước này.
Nureyev đã tiếp tục sự nghiệp của mình sau khi đào thoát. Trong 30 năm tiếp theo, ông trở thành nghệ sĩ cho Royal Ballet của Anh và American Ballet Theatre của Mỹ. Ông rất được yêu thích trên cương vị vũ công và biên đạo múa, và thậm chí còn từng diễn trong một vài bộ phim (bao gồm cả một lần hóa thân tệ hại vào vai ngôi sao phim câm Rudolf Valentino). Năm 1983, Nureyev đảm nhận vai trò giám đốc ballet của Paris Opera. Năm 1989, ông quay trở lại Liên Xô để biểu diễn ngắn hạn. Ông qua đời ở Paris năm 1993.

Burger và phần còn lại của nhóm phá hoại Long Island đã bị tóm gọn vào ngày 22/06, đến ngày 27/06, toàn bộ nhóm phá hoại Florida đã bị bắt giữ. Để giữ kín các bí mật thời chiến, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã ra lệnh thành lập một tòa án quân sự đặc biệt bao gồm bảy vị tướng để xét xử những kẻ phá hoại. Cuối tháng 7, Dasch bị kết án 30 năm tù, Burger bị kết án khổ sai suốt đời và sáu người Đức khác bị kết án tử hình. Sáu kẻ phá hoại này bị xử tử bằng ghế điện ở Washington, D.C., vào ngày 08/08/1944, hai điệp viên Đức khác đã bị bắt khi vừa đến Maine. Sau đó, không còn trường hợp người Đức phá hoại nào khác trong thời chiến được Mỹ đưa ra ánh sáng.
Sự chia rẽ tả – hữu đã đi đến hồi kết?


Nguồn: Ian Buruma, “The End of the Left/Right Divide?” Project Syndicate, 08/05/2017.
Biên dịch: Phạm Hồng Anh | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Sau Cách mạng Pháp năm 1789, những nghị sĩ Quốc hội ủng hộ các thành quả cách mạng ngồi phía bên trái, trong khi những người phản đối cách mạng và khao khát trật tự cũ của chế độ quân chủ và nhà thờ thì tập hợp phía bên phải. Từ đó thuật ngữ chính trị “cánh tả” và “cánh hữu” ra đời. Nhiều nhà bình luận về cuộc bầu cử tổng thống Pháp đã chỉ ra rằng cách phân loại như vậy không còn phù hợp nữa với nền chính trị đương đại ở Pháp – hay ở bất cứ đâu. Emmanuel Macron tự hào rằng mình không thuộc cánh hữu cũng như cánh tả.
Marine Le Pen thuộc Đảng Mặt trận Dân tộc liên kết với cánh cực hữu thì phản đối: với bà, Macron, cựu bộ trưởng trong một chính phủ của Đảng Xã hội – là người cánh tả. Tuy nhiên, giống như Donald Trump, bà Le Pen mới chính là người tranh cử với tư cách “tiếng nói của nhân dân” (hàm ý tả khuynh – NBT) trong khi Macron, giống như Hillary Clinton, được mô tả là con rối của các ông trùm nhà băng, giới tinh hoa văn hóa, và các nhà tài phiệt quốc tế (hàm ý hữu khuynh – NBT).
Vậy thì cánh tả và cánh hữu nếu còn có chút ý nghĩa nào đó, thì ý nghĩa đó là gì?
Chắc chắn đã có một sự chuyển biến nào đó trong những thập niên cuối của thế kỷ 20. Các đảng cánh tả bắt đầu mất dần sự ủng hộ của tầng lớp lao động công nghiệp – với tốc độ ở một số quốc gia nhanh hơn hẳn so với các quốc gia khác. Việc tái phân phối của cải dần trở nên ít quan trọng bằng sự giải phóng xã hội của các nhóm thiểu số sắc tộc và giới tính. Liên minh cũ giữa giới trí thức theo chủ nghĩa lý tưởng và công đoàn đã nhường chỗ cho các liên hiệp đa dạng của giới trí thức, người da màu, giới nữ quyền, và người đồng tính.
Trong khi đó, các đảng cánh hữu, như Đảng Cộng hòa ở Hoa Kỳ, hứa hẹn đãi bôi với chủ nghĩa bảo thủ xã hội, và đôi khi hoàn toàn làm ngơ giới cử tri ít đặc quyền ở các vùng nông thôn và tỉnh lẻ, trong khi lại làm mọi thứ tốt nhất cho các tập đoàn lớn một khi họ lên nắm quyền.
Những gì có lợi cho các tập đoàn lớn – hợp tác quốc tế, các thể chế xuyên quốc gia, và sự cởi mở với người nhập cư – không phải lúc nào cũng đi ngược lại lợi ích của các đảng cánh tả vẫn đang trong quá trình tiến hóa. Các tập đoàn lớn hưởng lợi từ lao động giá rẻ, và cánh tả thì ủng hộ chủ nghĩa đa văn hóa.
Như vậy, cũng phần nào có lý khi các nhà dân chủ xã hội châu Âu thường xuyên hình thành các chính phủ liên minh với những người bảo thủ ôn hòa ủng hộ thương mại hay những người theo đảng Dân chủ Cơ Đốc giáo. Xu hướng này được đẩy mạnh nhờ sự sụp đổ của đế chế Xô viết, do các nền dân chủ tự do phương Tây không còn phải chịu áp lực trước đây là phải chống lại mô hình Cộng sản bằng những dàn xếp bình quân chủ nghĩa của phương Tây. Những thành công trong bầu cử như Bill Clinton ở Mỹ và Tony Blair ở Anh nhờ phần nhiều vào việc họ có chủ ý nghiêng về những người trung lập thực dụng, tân tự do, và thân thiện với thương mại.
Về khía cạnh này, sự khác biệt giữa cánh tả và cánh hữu đã sụp đổ. Ý tưởng cũ về một cánh tả đại diện cho giai cấp vô sản bị áp bức chống lại lợi ích của các tập đoàn lớn và giai cấp tư sản đã biến mất. Một lý do làm Công đảng Anh gặp tình trạng lộn xộn như vậy là đảng này được dẫn dắt bởi Jeremy Corbyn, một người mà tư duy chính trị chưa hề thay đổi kể từ những năm 1970.
Nhưng sự khác biệt truyền thống giữa cánh tả và cánh hữu không chỉ đơn giản là vấn đề kinh tế. Còn có một sự chia rẽ sâu sắc hơn bên trong Quốc hội Pháp, được xác định bởi sự chia rẽ giữa phe ủng hộ Dreyfus và phe chống Dreyfus trong những năm 1890, hay giữa liên minh Mặt trận Bình dân của Léon Blum và phong trào Người Pháp Hành động (Action française) trong những năm 1930. Sự chia rẽ này vẫn tồn tại cho đến thời của Macron và Le Pen.
Những người bảo vệ nền Cộng hòa Pháp, coi trọng Tự do, Bình đẳng và Bác ái, xem quyền công dân là một khái niệm pháp lý, chứ không phải là một thứ quyền dựa trên “máu và đất.” Họ tin tưởng các thể chế hơn những truyền thống thiêng liêng, và tin vào chủ nghĩa quốc tế hơn chủ nghĩa sô vanh. Đại úy Alfred Dreyfus, sĩ quan người Do Thái bị kết oan tội phản quốc năm 1894, là một nhân vật gây phân cực tại Pháp bởi những người đối địch coi ông là biểu tượng của sự suy đồi dân tộc, của một dân tộc mà bản sắc thiêng liêng bị dòng máu ngoại lai làm mất chất.
Những người theo chủ nghĩa bài Do Thái, và những người khác có cái nhìn kiểu máu và đất về xã hội, luôn luôn coi “những ông chủ nhà băng máu lạnh” (cách bà Le Pen gọi đối thủ của mình trong cuộc tranh luận tranh cử tổng thống) là kẻ thù của “nhân dân thực sự… những người bình thường, tử tế” (lời của Nigel Farage trong một cuộc vận động tranh cử của Donald Trump ở Mississippi). Theo ý nghĩa này, Macron, người quả thật từng làm việc tại ngân hàng Rothschild và là người tin vào các đường biên giới mở và các thể chế quốc tế, là một con người cánh tả. Và Le Pen, người đấu tranh cho La France profonde (“Nước Pháp sâu sắc”), “nước Pháp đích thực” của những người Cơ Đốc giáo ở nông thôn và những người da trắng giận dữ, những người tin rằng người Pháp và người Hồi giáo là một sự đối lập lẫn nhau, là hậu duệ đích thực của những người chống Dreyfus và phong trào Người Pháp Hành động.
Macron đã đánh bại được Le Pen lần này. Nhưng cánh tả dân chủ xã hội vẫn đang ở trong tình trạng khủng hoảng. Công đảng Anh đang hấp hối. Những người thuộc Đảng Dân chủ Xã hội Hà Lan đã bị xóa sổ. Và Trump, một kẻ ái kỷ kém hiểu biết với kinh nghiệm chính trị bằng không, đã trở thành Tổng thống Hoa Kỳ bằng cách khuấy động sự phẫn nộ của dân chúng đối với giới tinh hoa trí thức, giới ngân hàng, người nước ngoài, người nhập cư, và các thể chế quốc tế.
Vấn đề của các nhà dân chủ xã hội hiện nay là làm sao tồn tại được nếu một số lượng lớn những người chịu thiệt thòi quyền lợi nghiêng sang cánh hữu thay vì cánh tả. Liệu có khả năng hình thành một liên kết mới hay không? Khoảng cách ngày càng lớn giữa người giàu và người nghèo có thể đưa ít nhất một phần tầng lớp lao động da trắng xích lại với người nhập cư và các nhóm thiểu số khác hay không? Liệu một Chính sách kinh tế mới (New Deal) nữa có khả thi? Làm sao hòa hợp được với lợi ích của các doanh nhân và chủ nhà băng theo chủ nghĩa quốc tế?
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng của cánh hữu cũng không kém phần nghiêm trọng. Trump có thể đã tập hợp được các cựu nhân viên của Goldman Sachs và những người tài giỏi từ các tập đoàn làm việc cho mình, ngay cả khi ông tuyên bố phục vụ lợi ích của những người dân thường. Và nhiều người thuộc Đảng Cộng hòa vẫn đứng về phía ông với hy vọng đạt được mục tiêu chính sách của họ. Nhưng Trump về cơ bản đã chiếm được đảng bảo thủ cũ kỹ ủng hộ thương mại và chủ nghĩa quốc tế. Liệu thương hiệu chủ nghĩa dân túy sô vanh, bản địa bài ngoại của riêng ông có thể cùng tồn tại với kiểu chủ nghĩa tư bản vốn phát triển mạnh mẽ nhờ vào dòng người nhập cư liên tục, quyền tự do đi lại, và các thể chế toàn cầu hay không?
Nước Pháp đã may mắn tránh được viên đạn bài ngoại lần này, nhưng mọi chuyện vẫn chưa kết thúc. Cánh tả và cánh hữu có thể đang thay đổi, nhưng những sự chia rẽ cũ xuất hiện sau năm 1789 vẫn còn đó, và có lẽ còn sâu sắc hơn bao giờ hết. Macron có nhiều thiện ý. Nhưng nếu chính quyền của ông thất bại, phe chống Dreyfus thời hiện đại sẽ quay trở lại báo thù.
Ian Buruma là Giáo sư về Dân chủ, Nhân quyền, và Báo chí tại BardCollege. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có “Murder in Amsterdam: The Death of Theo Van Gogh and the Limits of Tolerance” và “Year Zero: A History of 1945.”
Copyright: Project Syndicate 2017 – The End of the Left/Right Divide?

23/09/1969: Phiên tòa ‘Chicago 8’ mở tại Chicago


Nguồn: Chicago 8 trial opens in ChicagoHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1969, phiên tòa xét xử tám nhà hoạt động chống chiến tranh với cáo buộc chịu trách nhiệm cho các cuộc biểu tình bạo lực tại Đại hội Quốc gia của Đảng Dân chủ vào tháng 08/1968 tổ chức tại Chicago đã diễn ra. Các bị cáo bao gồm David Dellinger của Ủy ban Huy động Quốc gia (National Mobilization Committee, NMC); Rennie Davis và Thomas Hayden của tổ chức Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ (Students for a Democratic Society, SDS); Abbie Hoffman và Jerry Rubin, những người thành lập Đảng Thanh niên Quốc tế (Youth International Party, “Yippies”); Bobby Seale của đảng Báo Đen (Black Panthers); và hai nhà hoạt động ít được biết đến, Lee Weiner và John Froines.
Tám người này bị buộc tội âm mưu vượt qua ranh giới giữa các tiểu bang nhằm kích động bạo loạn. Ngoại trừ Seale, bảy người còn lại đều được đại diện bởi hai luật sư William Kunstler và Leonard Weinglass. Phiên tòa do Thẩm phán Julius Hoffman chủ trì đã trở thành một “rạp xiếc” vì các bị cáo và luật sư của họ đã dùng phiên tòa để tấn công Nixon, chiến tranh, phân biệt chủng tộc và áp bức.
Chiến thuật này đã gây hỗn loạn đến mức có lúc Thẩm phán Hoffman phải ra lệnh cho bịt miệng Seale và trói anh ta vào ghế. Khi phiên tòa chấm dứt vào tháng 02/1970, Hoffman đã kết luận rằng các bị cáo và luật sư của họ đã phạm 175 tội khinh miệt tòa án và đã kết án họ từ hai đến bốn năm tù.
Mặc dù tuyên bố các bị cáo không có tội âm mưu bạo loạn, nhưng bồi thẩm đoàn đã nhận định tất cả các bị cáo, trừ Froines và Weiner, đều có ý định gây bạo loạn. Mỗi người đều bị án tù 5 năm và phạt 5.000 đô la. Tuy nhiên, không ai phải thụ án vì năm 1972, Toà Phúc thẩm đã bác cáo trạng trước đó, và cuối cùng thì hầu hết các cáo buộc khinh miệt tòa án đã bị bỏ.








 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập11
  • Hôm nay7,729
  • Tháng hiện tại351,969
  • Tổng lượt truy cập3,954,430
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây