09/07/1993: Xác định danh tính các hài cốt nhà Romanov

Chủ nhật - 14/07/2019 08:37
Vào ngày này năm 1993, các nhà khoa học pháp y Anh tuyên bố rằng họ đã xác định được danh tính hài cốt của Sa hoàng cuối cùng, Nicholas II, cùng với vợ ông, Alexandra, và ba cô con gái của họ. Nhóm nhà khoa học này đã sử dụng dấu vết DNA ty thể (mitochondria DNA, mtDNA) để định danh các bộ hài cốt được khai quật từ một ngôi mộ tập thể gần Yekaterinburg vào năm 1991.
09/07/1993: Xác định danh tính các hài cốt nhà Romanov
Nguồn: Romanov remains identifiedHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1993, các nhà khoa học pháp y Anh tuyên bố rằng họ đã xác định được danh tính hài cốt của Sa hoàng cuối cùng, Nicholas II, cùng với vợ ông, Alexandra, và ba cô con gái của họ. Nhóm nhà khoa học này đã sử dụng dấu vết DNA ty thể (mitochondria DNA, mtDNA) để định danh các bộ hài cốt được khai quật từ một ngôi mộ tập thể gần Yekaterinburg vào năm 1991.
Đêm 16/07/1918, ba thế kỷ cầm quyền của triều đại Romanov đã chấm dứt khi quân Bolshevik xử tử Nicholas và gia đình ông. Chi tiết về vụ hành quyết cũng như địa điểm nơi an nghỉ cuối cùng của họ là điều tối mật ở Liên Xô suốt sáu thập niên. Vì không có bằng chứng vật lý cụ thể, sau Cách mạng Bolshevik, tin đồn sớm lan nhanh khắp châu Âu rằng một đứa trẻ nhà Romanov, có lẽ là cô con gái út, Anastasia, đã sống sót sau cuộc tàn sát. Trong những năm 1920, đã có một vài người tuyên bố mình chính là Nữ tước Anastasia. Câu chuyện thuyết phục nhất là của Anna Anderson, người đã đến Berlin năm 1922, tự xưng là Anastasia. Năm 1968, Anderson di cư đến thành phố Charlottesville, Virginia, nơi bà qua đời năm 1984.
Năm 1991, sử dụng một báo cáo của chính phủ mới được công bố về vụ hành quyết Romanov, các nhà điều tra nghiệp dư Nga đã tìm thấy những gì họ nghĩ là nơi chôn cất gia đình Sa hoàng. Chính quyền đã khai quật hài cốt. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu các hộp sọ và tuyên bố rằng Anastasia nằm trong số những người được tìm thấy, nhưng những phát hiện của phía Nga chưa đủ sức thuyết phục. Để chứng minh một cách không thể chối cãi rằng các thi thể trên là của người nhà Romanov, Nga đã tìm đến sự giúp đỡ từ các chuyên gia DNA của Anh.
Đầu tiên, các nhà khoa học đã kiểm tra giới tính và xác định được nhóm hài cốt gồm năm nữ và bốn nam. Tiếp theo họ kiểm tra xem liệu những người này có chung huyết thống hay không. Người cha và người mẹ đã được xác định, cùng với ba cô con gái. Bốn hài cốt khác có khả năng là của những người hầu. Cậu con trai Alexei và một cô con gái còn lại thì mất tích.
Để chứng minh danh tính của Alexandra và các con, các nhà khoa học đã lấy máu của Vương tế Philip, chồng của Nữ hoàng Elizabeth II và là cháu trai của Alexandra. Bởi họ đều có chung một tổ tiên đằng ngoại, họ sẽ có cùng DNA ty thể (mtDNA), được truyền gần như không thay đổi từ mẹ sang con. So sánh giữa mtDNA trong máu Philip và trong hài cốt là tương đồng, chứng tỏ họ là người nhà Romanov. Để chứng minh danh tính của Sa hoàng, người không chia sẻ mtDNA này, người ta cho khai quật thi hài của Thái công George, anh trai Nicholas. So sánh về mtDNA của họ đã chứng minh hai người có cùng huyết thống.
Việc Thái tử Alexei và một Công chúa nhà Romanov vẫn chưa được tìm thấy càng làm dai dẳng thêm đồn đoán rằng Anastasia đã sống sót sau khi bị xử tử. Có phải Anastasia đã trốn thoát và sau đó xuất hiện trở lại với cái tên Anna Anderson? Năm 1994, các nhà khoa học Mỹ và Anh đã cố gắng trả lời câu hỏi này một lần và mãi mãi. Sử dụng mẫu mô của Anderson từ một bệnh viện ở Virginia, nhóm nghiên cứu người Anh đã so sánh mtDNA của bà với mẫu của nhà Romanov. Đồng thời, một nhóm người Mỹ khác đã so sánh mtDNA được tìm thấy trong một sợi tóc của bà. Cả hai nhóm đều đi đến cùng một kết luận: Anna Anderson không phải là người nhà Romanov. Năm 1995, một ủy ban của chính phủ Nga sau khi nghiên cứu các hài cốt đã trình bày những gì họ tuyên bố là bằng chứng cho thấy một trong những bộ xương trên chính là của Anastasia, và trên thực tế, người con gái Romanov bị mất tích là Maria.

Nghiên cứu Quoocstees gửi bản báo
P/v
10/07/1925: ‘Phiên tòa Khỉ’ bắt đầu
Nguồn: Monkey Trial beginsHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào ngày này năm 1925, tại Dayton, Tennessee, “Phiên tòa Khỉ” đã bắt đầu với việc John Thomas Scopes, một giáo viên khoa học trung học trẻ tuổi, bị buộc tội vi phạm luật tiểu bang Tennessee vì đã giảng dạy về thuyết tiến hóa.
Đạo luật này, được thông qua vào tháng 03 năm đó, đã biến việc “dạy bất kỳ lý thuyết nào phủ nhận câu chuyện về Đấng sáng thế thiêng liêng tạo ra con người như được dạy trong Kinh thánh, và thay vào đó dạy rằng con người có xuất thân từ các động vật cấp thấp hơn” là một khinh tội có thể bị phạt tiền. Cùng với vị doanh nhân địa phương George Rappalyea, Scopes đã lên kế hoạch để bị buộc tội vì vi phạm này, và sau khi Scopes bị bắt, họ đã tranh thủ sự hỗ trợ của Liên đoàn Tự do Dân quyền Hoa Kỳ (ACLU) để tổ chức việc biện hộ.
Khi nghe tin về cuộc tấn công phối hợp này vào phong trào Kitô giáo chính thống, William Jennings Bryan, người ba lần là ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ và là một anh hùng của phong trào chính thống, đã tình nguyện hỗ trợ bên công tố. Ngay sau đó, vị luật sư nổi tiếng Clarence Darrow đã đồng ý tham gia về phía ACLU trong quá trình bào chữa, mở ra bối cảnh cho một trong những phiên tòa nổi tiếng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Vào ngày 10 tháng 07, “Phiên tòa Khỉ” đã được tiến hành, và trong vài ngày, hàng loạt khán giả và phóng viên đã tới Dayton trong khi các nhà thuyết giáo dựng các lều dọc theo đường phố chính của thành phố để khuấy động lòng mộ đạo. Bên trong Tòa án Hạt Rhea, phía bị đơn đã sớm gặp phải trở ngại khi Thẩm phán John Raulston phán quyết chống lại nỗ lực của họ nhằm chứng minh rằng đạo luật là vi hiến và sau đó từ chối chấm dứt thói quen bắt đầu phiên tòa hàng ngày của ông bằng việc cầu nguyện.
Bên ngoài, Dayton mang bầu không khí giống như một lễ hội hóa trang khi một cuộc triển lãm với hai con tinh tinh và thứ được cho là “động vật trung gian” đã được khai trương tại thị trấn, và những người bán hàng bày bán Kinh Thánh, khỉ đồ chơi, xúc xích và nước chanh. Động vật trung gian trên thực tế là Jo Viens ở Burlington, Vermont, một người đàn ông 51 tuổi, có tầm vóc thấp, trán hớt ra sau và hàm nhô ra. Một trong những con tinh tinh tên là Joe Mendi, mang một bộ đồ kẻ sọc, mũ phớt màu nâu, và giày ghệt trắng, giúp mua vui cho những người dân thành phố Dayton bằng cách chơi đùa trên bãi cỏ tòa án.
Tại phòng xử án, Thẩm phán Raulston đã phá hủy chiến lược của bị đơn bằng cách phán quyết rằng lời chứng khoa học của các chuyên gia về tiến hóa là không được chấp nhận – với lý do Scopes mới là người đang bị xét xử chứ không phải đạo luật mà anh ta đã vi phạm. Ngày hôm sau, Raulston ra lệnh cho phiên tòa được chuyển đến bãi cỏ tòa án, vì sợ rằng sức nặng của đám đông bên trong có nguy cơ làm sập sàn nhà.
Trước hàng ngàn khán giả ngoài trời, Darrow đã thay đổi chiến thuật của mình và gọi Bryan ra làm nhân chứng duy nhất của ông trong một nỗ lực để làm mất uy tín cách diễn giải nghĩa theo nghĩa đen về Kinh thánh của vị luật sư bên công tố. Trong quá trình kiểm tra, Bryan đã phải chịu sự chế giễu của người xem và buộc phải đưa ra những tuyên bố thiếu hiểu biết và mâu thuẫn trước cứu ự thích thú của đám đông.
Vào ngày 21 tháng 07, trong bài phát biểu bế mạc, Darrow đã yêu cầu bồi thẩm đoàn đưa ra bản án có tội để bên bị có thể kháng án. Theo quy định pháp luật tại Tennessee, trong trường hợp đó Bryan không có cơ hội để đọc bài phát biểu bế mạc mà ông ta đã chuẩn bị trong nhiều tuần. Sau tám phút cân nhắc, bồi thẩm đoàn trở lại với bản án có tội và Raulston ra lệnh cho Scopes phải nộp phạt 100 đô la, mức tối thiểu mà luật pháp cho phép. Mặc dù Bryan đã thắng kiện, ông ta đã bị sỉ nhục công khai và niềm tin chính thống của ông đã mất uy tín. Năm ngày sau, vào ngày 26 tháng 07, ông nằm ngủ trưa vào ngày Chủ nhật và không bao giờ thức dậy nữa.
Năm 1927, Tòa án Tối cao Tennessee đã bác phán quyết của Phiên tòa Khỉ về khía cạnh chuyên môn nhưng để ngỏ vấn đề đạo luật có vi hiến hay không cho đến năm 1968, khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ bác bỏ một đạo luật tương tự ở Arkansas với lý do nó vi phạm Tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ.
Nghiên  cứu Quốc tế gửi bản báo
p/v
ước với người Mỹ bản địa
Nguồn: Confederacy signs treaties with Native AmericansHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào ngày này năm 1861, ủy viên đặc biệt Albert Pike đã hoàn thành hiệp ước với các thành viên của bộ lạc Choctaw và Chickasaw, mang đến cho Hợp bang miền Nam Hoa Kỳ (Confederate States of America) mới thành lập các đồng minh ở Lãnh thổ Người da đỏ. Một số thành viên của các bộ lạc cũng chiến đấu cho Hợp bang.
Là một người gốc Boston, Pike đã đi về phía tây vào năm 1831 và du lịch với những người đánh bẫy và thương nhân buôn lông thú. Ông định cư ở Arkansas và trở thành một nhà thơ, tác giả và giáo viên nổi tiếng. Ông đã mua một đồn điền và điều hành một tờ báo, tờ Arkansas Advocate. Đến năm 1837, ông hành nghề luật sư và thường đại diện cho người Mỹ bản địa trong các tranh chấp với chính phủ liên bang.
Pike đã phản đối việc ly khai nhưng ông cũng đứng về phía tiểu bang nơi mình sinh sống khi nó rời khỏi Liên bang. Với tư cách là đại sứ của Người da đỏ, ông là một sự bổ sung may mắn cho Hợp bang miền Nam khi họ tìm cách hình thành liên minh với các bộ lạc thuộc Lãnh thổ Người da đỏ. Bên cạnh các thỏa thuận với các bộ lạc Choctaw và Chickasaw, Pike còn thiết kế các hiệp ước với người Creek, Seminole, Comanche, và Caddos, bên cạnh những bộ lạc khác.
Điều trớ trêu là nhiều bộ lạc trong số này đã bị trục xuất khỏi các bang miền Nam trong những năm 1830 và 1840 nhưng vẫn chọn liên minh với các bang này trong chiến tranh. Mối ác cảm của họ đối với các tiểu bang thuộc Hợp bang đã nhường chỗ cho sự thù địch của họ đối với chính phủ liên bang. Người Mỹ bản địa cũng cảm thấy bất an trước luận điệu của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 1860. Một số người ủng hộ Abraham Lincoln, như William Seward, lập luận rằng vùng đất của các bộ lạc thuộc Lãnh thổ Người da đỏ nên được chiếm hữu để chia cho những người định cư da trắng. Khi chiến tranh bắt đầu vào năm 1861, Bộ trưởng Chiến tranh Simon Cameron đã ra lệnh di tản khỏi tất cả các vị trí thuộc Lãnh thổ Người da đỏ để giải phóng các nguồn lực quân sự nhằm chống lại Hợp bang miền Nam, để ngỏ khu vực này cho Hợp bang miền Nam chiếm đóng.
Bằng cách ký các hiệp ước này, các bộ lạc đã cắt đứt quan hệ của họ với chính phủ liên bang, giống như cách mà các bang miền nam đã làm bằng cách ly khai khỏi Liên bang. Họ được chấp nhận vào Hợp bang miền Nam và được gửi đại diện đến Quốc hội Hợp bang. Chính phủ Hợp bang hứa sẽ bảo vệ quyền nắm giữ đất của người Mỹ bản địa và thực hiện các nghĩa vụ như thanh toán niên kim của chính phủ liên bang.
Một vài trong số những bộ lạc này thậm chí đã gửi quân đến phục vụ trong quân đội Hợp bang, và một người thuộc các bộ lạc Cherokee hay Stand Watie đã được thăng cấp lên cấp bậc thiếu tướng.
Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo
P/v
13/06/1966: Quyền Miranda ra đời
Nguồn: “The Miranda rights are established,” History.com (truy cập ngày 12/6/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Vào ngày này năm 1966, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra phán quyết về vụ Miranda kiện Arizona, thiết lập nên nguyên tắc là mọi nghi phạm hình sự phải được thông báo về các quyền của họ trước khi tiến hành thẩm vấn. “Anh có quyền giữ im lặng. Bất cứ điều gì anh nói có thể và sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa. Anh có quyền có luật sư. Nếu anh không thể tìm được luật sư, một luật sư sẽ được chỉ định cho anh,” thủ tục thông báo nội dung này của cảnh sát xuất hiện nhiều trên phim ảnh và truyền hình đến nỗi nó gần như trở nên sáo rỗng.
Nguồn gốc của phán quyết Miranda bắt đầu từ ngày mùng 2 tháng 3 năm 1963, khi một cô gái 18 tuổi ở Phoenix, Arizona đến báo cảnh sát rằng cô đã bị bắt cóc và cưỡng hiếp. Các thám tử điều tra vụ án đã tiến hành một bài kiểm tra nói dối đối với cô, nhưng không thể đưa ra được kết luận gì từ kết quả. Tuy nhiên, qua theo dõi biển số xe của một chiếc xe giống như cô mô tả, cảnh sát đã lần tới Ernesto Miranda, người từng có tiền sử nhìn trộm phụ nữ. Tuy nạn nhân không trực tiếp nhận diện ra Miranda, ông vẫn bị cảnh sát giam giữ và thẩm vấn. Những gì diễn ra sau đó gây tranh cãi, nhưng cảnh sát đã kết thúc thẩm vấn bằng một lời thú nhận mà sau này Miranda rút lại, không nhận thức được rằng lẽ ra ông không cần phải nói gì cả.
Lời thú nhận của Miranda rất ngắn và mâu thuẫn ở một số điểm so với lời khai của nạn nhân. Tuy nhiên, luật sư chỉ định của Miranda (được trả tổng cộng 100 đô la) lại không hề triệu tập bất cứ nhân chứng nào trong phiên tòa sau đó, và Miranda bị kết án. Trong khi Miranda bị giam trong nhà tù tiểu bang Arizona, Liên minh tự do dân sự Hoa Kỳ (ALCU) đã kêu gọi kháng án, cho rằng lời thú nhận của Miranda là sai lệch và bị cưỡng ép.
Tối cao Pháp viện đã hủy bỏ bản án của Miranda, nhưng dù sao thì ông cũng vẫn bị xét xử lại và bị kết tội vào tháng 10 năm 1966, bất chấp việc không có đủ bằng chứng chống lại ông. Miranda được thả tự do vào năm 1972, sau đó bị đâm chết trong nhà vệ sinh của một quán ba vào tháng 1 năm 1976. (Chính nghi can sát hại Miranda đã viện dẫn quyền Miranda để giữ im lặng khi bị cảnh sát bắt giữ.)
Sau phán quyết của Tối cao Pháp viện trong vụ Miranda kiện Arizona, mọi người đều phải được thông báo về những quyền hợp pháp của họ khi họ bị bắt giữ.
Nghiên cứu Quốc tế gải bản báo
P/v
10/06/1692: Phù thủy Salem đầu tiên bị treo cổ
Nguồn: First Salem witch hangingHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1692, tại làng Salem, ở bang thuộc địa Vịnh Massachusetts, Bridget Bishop, người dân thuộc địa đầu tiên bị đưa ra xét xử trong các phiên tòa phù thủy Salem, đã bị treo cổ sau khi bị buộc tội là phù thủy.
Rắc rối trong cộng đồng Thanh giáo nhỏ này đã bắt đầu vào tháng 02/1692, khi Elizabeth Parris 9 tuổi và Abigail Williams 11 tuổi, lần lượt là con gái và cháu gái của Mục sư Samuel Parris, bắt đầu thường xuyên bị động kinh và còn mắc các căn bệnh bí hiểm khác. Một bác sĩ kết luận rằng hai đứa bé đang chịu ảnh hưởng của phép thuật, và bọn trẻ đã chứng thực lời chẩn đoán của bác sĩ. Do bị bác sĩ và cha mẹ ép buộc, hai cô bé đã kể ra tên những người bị buộc tội gây bệnh cho chúng.
Ngày 01/03, Sarah Goode, Sarah Osborne, và Tituba, một nô lệ người da đỏ đến từ Barbados, đã trở thành những cư dân đầu tiên của Salem bị cáo buộc là phù thủy. Cuối ngày hôm đó, Tituba đã nhận tội và sau đó đã giúp đỡ chính quyền xác định danh tính nhiều phù thủy Salem khác. Với sự khuyến khích của những người lớn trong cộng đồng, các cô bé, sau đó nhanh chóng được những người Salem “bị phù thủy ám” khác nhập hội, đã lên tiếng cáo buộc rất nhiều cư dân địa phương là phù thủy, chủ yếu là các phụ nữ trung niên, ngoài ra cũng có một số nam giới và thậm chí có cả một đứa bé chỉ mới bốn tuổi. Trong vài tháng sau đó, những cư dân trong khu vực bị ảnh hưởng đã buộc tội hơn 150 phụ nữ và nam giới từ làng Salem và các khu vực lân cận về việc thực hiện các hành vi quỷ dữ.
Tháng 06/1692, Toà án đặc biệt Oyer and Terminer (nghĩa là “nghe và phán quyết”) đã được triệu tập tại Salem, với Chánh án William Stoughton làm thẩm phán. Người đầu tiên được xét xử là Bridget Bishop người Salem, kẻ bị nhiều người cáo buộc là phù thủy hơn bất cứ một nghi can nào khác. Bishop nổi tiếng quanh thị trấn vì tính cách đáng ngờ, thường xuyên ghé các quán rượu, ăn mặc sặc sỡ (nếu so với tiêu chuẩn của Thanh giáo), và đã lập gia đình ba lần. Cô tuyên bố mình vô tội, nhưng vẫn bị kết án có tội, và sau đó bị hành quyết bằng cách treo cổ vào ngày 10/06. Có thêm mười ba phụ nữ và năm người đàn ông với xuất thân khác nhau cũng đã bị treo cổ, và một người đàn ông, Giles Corey, thì bị hành quyết bằng cách nghiền xác bằng đá tảng (crushing). Hầu hết những phiên tòa này đều kết án dựa trên cơ sở hành vi của các nhân chứng trong suốt quá trình tố tụng thực tế, thông thường sẽ là ngất xỉu và bị ảo giác, vốn được cho là do các bị cáo gây ra.
Tháng 10/1692, Thống đốc bang Massachusetts William Phipps đã ra lệnh giải tán Toà Oyer and Terminer và thay thế bằng Tòa án Tối cao (Superior Court of Judicature), theo đó đã cấm kiểu làm chứng giật gân vốn được cho phép trong các phiên xử trước đó. Các đợt hành quyết giảm dần, và Tòa án Tối cao đã cho thả tất cả những người đang chờ xét xử, cũng như tha tội cho những người bị kết án tử hình. Các Phiên tòa Phù thủy Salem, vốn đã kết án 19 phụ nữ và đàn ông vô tội, đã chấm dứt.
Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo
P/v
14/07/1099: Jerusalem bị chiếm trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên
Nguồn: Jerusalem captured in First Crusade, History.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1099, trong cuộc thập tự chinh đầu tiên, các hiệp sĩ Công giáo từ châu Âu đã chiếm được Jerusalem sau bảy tuần bao vây, và bắt đầu tàn sát các cư dân thành phố theo Hồi giáo và Do Thái giáo.
Bắt đầu từ thế kỷ 11, người Công giáo ở Jerusalem ngày càng bị đàn áp bởi những nhà cai trị theo Hồi giáo, đặc biệt là khi quyền kiểm soát thành phố linh thiêng được chuyển từ tay người Ai Cập tương đối khoan dung sang người Thổ của Đế quốc Seljuk vào năm 1071. Cuối thế kỷ đó, Hoàng đế Byzantine Alexius Comenus cũng bị đe dọa bởi người Seljuk nên đã kêu gọi hỗ trợ từ phương Tây. Năm 1095, Giáo hoàng Urban II đã công khai kêu gọi một cuộc Thập tự chinh để hỗ trợ các tín đồ Công giáo Đông phương và giành lại các vùng đất thánh. Người Tây Âu ngay lập tức đáp lại lời kêu gọi này.
Những người lính thập tự chinh đầu tiên thực ra chỉ là những người nông dân Pháp và Đức vô kỷ luật, và đương nhiên, họ chỉ đạt rất ít thành công. Một nhóm, được gọi là “Thập tự chinh của Nhân dân” (People’s Crusade), đã đến được Constantinople trước khi bị người Thổ tiêu diệt. Năm 1096, quân chủ lực của thập tự chinh, gồm khoảng 4.000 kỵ sĩ và 25.000 lính bộ binh, bắt đầu di chuyển về phía đông. Được lãnh đạo bởi Raymond xứ Toulouse, Godfrey xứ Bouillon, Robert xứ Flanders và Bohemond xứ Otranto, đội quân của các hiệp sĩ Công giáo đã đến vùng Tiểu Á vào năm 1097.
Sang tháng 6, quân thập tự chinh đã chiếm được thành phố Nicaea do Thổ Nhĩ Kỳ nắm giữ và sau đó đánh bại một đội quân người Seljuk khổng lồ tại Dorylaeum. Từ đó, họ hành quân đến Antioch, nằm trên sông Orontes, bên dưới núi Silpius, và bắt đầu một cuộc bao vây kéo dài sáu tháng đầy khó khăn. Trong quá trình đó họ đã đẩy lùi thành công một số cuộc tấn công của viện binh Thổ Nhĩ Kỳ.
Cuối cùng, vào sáng sớm ngày 03/06/1098, Bohemond đã thuyết phục được một kẻ phản bội Thổ Nhĩ Kỳ mở cổng cầu Antioch, và các hiệp sĩ đổ vào thành phố. Trong cơn thịnh nộ, lính thập tự chinh đã tàn sát hàng ngàn binh lính và thường dân của kẻ thù, nhanh chóng chiếm toàn bộ thành lũy kiên cố của thành phố. Cuối tháng này, một đội quân lớn của Thổ Nhĩ Kỳ đã đến để cố gắng giành lại thành phố, nhưng họ cũng bị đánh bại, và thành Antioch buộc phải đầu hàng người châu Âu.
Sau khi nghỉ ngơi và chỉnh quân trong sáu tháng, các thập tự quân đã lên đường đến mục tiêu cuối cùng của họ, thành Jerusalem. Quân số của họ giờ giảm xuống còn khoảng 1.200 kỵ sĩ và 12.000 lính bộ binh. Ngày 07/06/1099, họ đến thành phố linh thiêng. Nhận thấy rằng nó được phòng thủ rất nghiêm ngặt, quân thập tự bắt đầu xây dựng ba tòa tháp bao vây khổng lồ. Đến đêm ngày 13/07, các tòa tháp đã hoàn thành và họ bắt đầu tấn công Jerusalem. Sang ngày 14, lính của Godfrey là những người đầu tiên thâm nhập vào tuyến phòng thủ của Jerusalem và mở được Cổng Thánh Stephen. Phần còn lại của đoàn quân thập tự chinh ồ ạt tiến vào thành phố, hàng chục ngàn cư dân ở đó đã bị tàn sát.
Thập tự quân đã đạt được mục đích và Jerusalem rơi vào tay người Công giáo, nhưng một đội quân Ai Cập đã tiến vào thành phố chỉ vài tuần sau đó để thách thức họ. Dù vậy, vào tháng 8, người Ai Cập đã thất bại trước phe Công giáo áp đảo. Sự kiện này đã chấm dứt sự kháng cự của người Hồi giáo đối với người châu Âu ở thời điểm ấy, và năm quốc gia Công giáo nhỏ đã được thiết lập trong khu vực dưới sự cai trị của các nhà lãnh đạo cuộc thập tự chinh.
#265 – Nguồn gốc Leninist của sự đàn áp xã hội dân sự
Nguồn: Anne Applebaum, “The Leninist Roots of Civil Society Repression”,  Journal of Democracy, 26(4), (2015), pp.21-27.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng
Năm 1947, Stefan Jêdrychowski, cựu chiến binh cộng sản, ủy viên Bộ Chính trị Ba Lan, và bộ trưởng trong chính phủ, đã viết một bản ghi nhớ với nhan đề có phần trịch thượng, “Ghi chú về tuyên truyền của các nước Anglo-Saxon.” Ông đưa ra rất nhiều lời chỉ trích – về ảnh hưởng của các dịch vụ tin tức Anh và Mỹ ở Ba Lan, và về thời trang và điện ảnh nước ngoài. Nhưng cuộc tấn công dai dẳng nhất của ông là nhằm vào Polska YMCA, chi hội Ba Lan của Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc (YMCA). Được thành lập ở Warsaw năm 1923 và sau đó bị Hitler cấm hoạt động, Polska YMCA đã khởi động lại vào tháng 4 năm 1945 với sự hỗ trợ của YMCA quốc tế ở Geneva, cùng với sự nhiệt tình trong nước.
YMCA ở Warsaw hiển nhiên là phi chính trị. Nhiệm vụ chính của tổ chức này ở Ba Lan là phân phối viện trợ nước ngoài – quần áo, sách vở, và đồ ăn – và tổ chức các hoạt động và các lớp học cho giới trẻ. Tuy nhiên, Jêdrychowski đã nghi ngờ những động cơ bên trong. Chương trình tuyên truyền của YMCA, ông viết, được tiến hành “một cách cẩn thận… tránh giọng điệu chính trị trực tiếp,” điều đó dĩ nhiên khiến tổ chức này nguy hiểm hơn. Ông đề nghị Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia tiến hành một cuộc kiểm toán tài chính đối với tổ chức này và giám sát cẩn thận những ấn phẩm đang được phát hành và các dạng khóa học đang được giảng dạy. Sau hai năm theo dõi, chính quyền cộng sản cuối cùng quyết định rằng mọi chuyện như vậy đã là quá đủ. Họ tuyên bố YMCA là “công cụ của chủ nghĩa phát xít tư sản” và giải thể nó. Với cơn cuồng nộ mang tính Orwell kỳ quái, các đoàn viên thanh niên cộng sản ùa vào trụ sở tổ chức với búa trên tay và nghiền nát các đĩa than nhạc jazz, và tòa nhà được giao lại cho một tổ chức nhà nước được gọi là Liên đoàn Bằng hữu Binh sĩ.
Việc tổ chức lại YMCA trong giai đoạn hậu chiến là ví dụ điển hình của cái mà ngày nay được gọi là “xã hội dân sự”, một hiện tượng đã tồn tại dưới những tên gọi khác trong quá khứ. Trong thế kỷ 18, các triết gia đã bắt đầu xác định tầm quan trọng của các tổ chức như các phường hội, câu lạc bộ, và các đoàn thể có chức năng tách biệt với các thể chế của nhà nước. Edmund Burke đã viết một cách đầy ngưỡng mộ về các “trung đội nhỏ” – tức là các tổ chức xã hội nhỏ mà ông tin là nơi phát sinh tinh thần công. Trong thế kỷ 19, Alexis de Tocqueville cũng hào hứng không kém khi viết về những “hiệp hội” mà “người Mỹ ở mọi lứa tuổi, mọi địa vị, và mọi khuynh hướng liên tục tạo nên”. Ông kết luận rằng những hiệp hội này giúp đẩy lui chế độ độc tài: “Nếu con người muốn duy trì hoặc trở nên văn minh, nghệ thuật gắn kết với nhau phải phát triển và cải thiện”. Gần đây hơn, Robert Putnam đã định nghĩa lại hiện tượng tương tự là “vốn xã hội” và kết luận rằng các tổ chức tự nguyện nằm ở trung tâm của cái chúng ta gọi là “cộng đồng”.
***
Nhưng trong những năm đầu thế kỷ 20, một nhóm nhỏ các nhà cách mạng sau này trở thành đảng viên Bolshevik Nga đã phát triển một lý thuyết thay thế về xã hội dân sự. Burke, Tocqueville, và ngay cả giới trí thức Nga cũng tin rằng xã hội dân sự là nền tảng của dân chủ; Lenin lại tin rằng việc tiêu diệt xã hội dân sự là tối quan trọng đối với chế độ độc tài toàn trị. Như sử gia Stuart Finkel đã giải thích, Lenin tin rằng “lĩnh vực công cộng trong một xã hội xã hội chủ nghĩa cần phải đơn nhất và đơn nghĩa”, và bác bỏ khái niệm tranh luận mở của “tư sản”. Theo đó, những người Bolshevik coi mọi hiệp hội độc lập, công đoàn, và phường hội là “phần tử ly khai” hay chia rẽ “giai tầng” trong xã hội. Còn với các đảng chính trị tư sản, chúng là vô nghĩa. Lenin viết, “Tên của các đảng phái, cả ở châu Âu cũng như ở Nga, thường được chọn đơn thuần cho mục đích quảng cáo, ‘cương lĩnh’ của các đảng cũng thường được viết với một mục đích duy nhất là lừa gạt công chúng”.[1] Thật ra, những người Bolshevik thù ghét các tổ chức độc lập với cùng lý do mà Burke và Tocqueville ngưỡng mộ chúng: bởi vì chúng cho người dân sức mạnh để kiểm soát cuộc sống của mình, bởi vì chúng khuyến khích tư duy độc lập, và bởi vì chúng khiến người dân trở nên quan trọng hơn quyền lực nhà nước.
Trong lĩnh vực này cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, những người Bolshevik đã áp dụng nhanh nhất có thể lý thuyết của họ vào thực tế. Sau Cách mạng Nga, họ đã tạo ra cái có lẽ là đảng chính trị đầu tiên từng đặt ra một trong những mục tiêu rõ ràng của đảng là phá hoại bất kỳ tổ chức nào không do đảng trực tiếp lập ra và không trung thành với đảng. Ở Liên Xô, ngay cả các tổ chức hoàn toàn phi chính trị cũng bị cấm đoán, bởi Lenin tin rằng mọi tổ chức vốn đều mang tính chính trị: Nếu không phải chính trị công khai thì cũng là chính trị bí mật.
Từ giả định đó, không tổ chức nào là không bị nghi ngờ. Các hiệp hội tuyên bố quan tâm tới bóng đá hay cờ vua cũng có thể là “bình phong” cho điều gì đó nham hiểm hơn. Học giả Dmitri Likhachev của thành phố St. Petersburg – sau này là nhà phê bình văn học nổi tiếng nhất người Nga – từng bị bắt giữ năm 1928 vì ông nằm trong một nhóm thảo luận triết học nơi các thành viên chào hỏi nhau bằng tiếng Hy Lạp cổ đại. Trong thời gian ở tù, Likhachev đã gặp người đứng đầu Hội Nam Hướng đạo Petrograd, một tổ chức sau này cũng được coi là hết sức đáng ngờ ở Đông Âu.
Mối nghi ngờ sâu sắc như vậy về xã hội dân sự là trung tâm của tư tưởng Bolshevik, hơn rất nhiều so với mức độ thường được thừa nhận. Finkel đã chỉ ra rằng ngay cả khi giới lãnh đạo Xô viết đang thử nghiệm tự do kinh tế trong những năm 1920 (trong “Chính sách kinh tế mới” của Lenin), sự hủy hoại mang tính hệ thống đối với các đoàn hội văn học, triết học, và tâm linh vẫn tiếp tục không suy giảm. Ngay cả với những nhà Marxist chính thống, thương mại tự do vẫn thích hợp hơn hiệp hội tự do, bao gồm cả hiệp hội tự do của các nhóm phi chính trị về thể thao hay văn hóa. Điều này là đúng dưới thời Lenin, vẫn đúng dưới thời Stalin, dưới thời Khruschev, và dưới thời Brezhnev. Mặc dù có nhiều điều khác đã thay đổi trong tiến trình lịch sử Xô viết, sự đàn áp xã hội dân sự vẫn tiếp tục sau khi Stalin qua đời, tới tận những năm 1970 và những năm 1980.
Những người cộng sản Đông Âu đã thừa hưởng chứng hoang tưởng này, cho dù là do họ đã quan sát và tiếp nhận nó qua nhiều chuyến thăm Liên Xô, do đồng nghiệp của họ trong các sở cảnh sát mật đã tiếp nhận nó trong quá trình đào tạo, hay trong một số trường hợp là do những tướng lĩnh và đại sứ Liên Xô ở đất nước họ vào cuối thế chiến đã cho họ những chỉ dẫn rõ ràng tới cơn hoang tưởng. Trong một vài trường hợp, các cơ quan Xô viết ở Đông Âu đã trực tiếp ra lệnh cho những người cộng sản địa phương cấm các tổ chức hoặc các loại hình tổ chức cụ thể. Ví dụ, trong Đông Đức thời hậu chiến, họ đã đặt các nhóm leo núi ra ngoài vòng pháp luật.
Cũng như trong nước Nga hậu cách mạng, cuộc đàn áp chính trị các nhà hoạt động dân sự ở các nước cộng sản Đông Âu không chỉ đi trước cuộc đàn áp các chính trị gia thực sự, mà còn được ưu tiên hơn các mục tiêu Xô viết và cộng sản khác. Ngay cả trong giai đoạn 1945 đến 1948, khi các cuộc bầu cử ở Hungary về lý thuyết vẫn còn tự do và Ba Lan vẫn duy trì được một đảng đối lập hợp pháp, một số loại hình hiệp hội dân sự nhất định đã bị đe dọa. Ở Đức, các chỉ huy Xô viết không hề cấm các nghi thức tôn giáo và các buổi lễ tôn giáo trong những tháng đầu tiên chiếm đóng, nhưng họ thường phản đối gay gắt các cuộc gặp giáo hội, các buổi lễ tôn giáo vào buổi tối, và thậm chí cả các hiệp hội tôn giáo và từ thiện có tổ chức gặp nhau ngoài nhà thờ trong nhà hàng hay ở các không gian công cộng khác. Thương mại tư nhân vẫn là hợp pháp ở nhiều nơi trong cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, ngay cả khi thành viên của các nhóm thanh niên Công giáo đã bắt đầu bị bắt giữ và truy tố.
Trong thời kỳ hậu chiến, các nước khác chịu ảnh hưởng của học thuyết Bolshevik đã áp dụng một số chính sách tương tự. Trung Quốc và Bắc Triều Tiên cộng sản là hai ví dụ rõ ràng nhất, và quả thật có thể nói cơn cuồng tiêu diệt các tổ chức độc lập của họ không thua kém gì hoặc thậm chí còn hơn cả cơn cuồng của Bolshevik. Có lẽ ít rõ ràng hơn, một số chế độ độc tài Ả Rập như ở Libya và Iraq cũng theo đuổi các chính sách tương tự. Muammar al-Gaddafi cuồng tín với việc phá hủy xã hội dân sự đến mức ông còn ngăn chặn cả việc thành lập một đảng chính trị nhà nước duy nhất, mà thay vào đó là tự mình quản trị. Việc thiếu vắng các hiệp hội thay thế là một lý do quan trọng dẫn tới sự trỗi dậy của Hồi giáo cực đoan hậu Mùa xuân Ả Rập: Ở nhiều quốc gia, các thánh đường Hồi giáo là tổ chức độc lập duy nhất trong nhiều năm qua còn hoạt động.
Theo một ý nghĩa rất thực tế, việc đàn áp hoàn toàn xã hội dân sự đã khiến Liên Xô, các thuộc địa, và các con rối của nó trở nên độc nhất. Mặc dù có thể có những khát vọng tương tự, Hitler đã không nắm giữ quyền lực đủ lâu để có thể tiêu diệt mọi tổ chức dân sự của nước Đức. Ngược lại, Bolshevik và những người theo gương họ có thừa thời gian để loại bỏ không chỉ các đảng chính trị đối lập và doanh nghiệp tư nhân, mà còn cả mọi loại nhóm thanh thiếu niên, câu lạc bộ thể thao, các xã hội giáo dục, vân vân – và đưa tất cả vào khuôn khổ của nhà nước.
***
Cuối cùng, sự chu đáo của những người Bolshevik có thể lại là một trong những sai lầm nghiêm trọng nhất của họ. Bởi Lenin đã không nhận ra rằng bằng cách cố gắng kiểm soát mọi khía cạnh của xã hội, các chế độ toàn trị cuối cùng đã biến mọi khía cạnh của xã hội thành một nguồn bất đồng tiềm năng. Nhà nước quy định chỉ tiêu công việc hằng ngày của công nhân rất cao – và do vậy một cuộc bãi công phản đối điều kiện lao động tồi tàn của công nhân Đông Đức năm 1953 đã nhanh chóng biến thành một cuộc biểu tình chống nhà nước. Nhà nước quy định nghệ sĩ được vẽ gì hay nhà văn được viết gì – và do vậy những họa sĩ hay nhà văn nào vẽ hay viết điều gì khác đi tự nhiên trở thành một nhà bất động chính trị. Nhà nước quy định không ai được thành lập các tổ chức độc lập – và do vậy bất cứ ai thành lập một tổ chức, bất kể ôn hòa đến đâu, cũng đều trở thành đối thủ của chế độ. Và khi một số lượng lớn người dân tham gia vào một tổ chức độc lập – ví dụ như khi khoảng 10 triệu người Ba Lan gia nhập công đoàn Đoàn kết vào năm 1981 – sự tồn vong của chế độ đột nhiên bị đe dọa.
Theo thời gian, một số đối thủ chính trị của các chế độ cộng sản nhận ra rằng đây là một điểm yếu cố hữu của chế độ toàn trị theo phong cách Xô viết. Trong tiểu luận xuất sắc Quyền lực của kẻ không quyền lực (The Power of the Powerless)năm 1978 của mình, nhà bất đồng chính kiến Václav Havel người Séc đã nổi tiếng thúc giục đồng bào ông bỏ qua những lời giả dối và vô nghĩa để “sống trong sự thật” – nói cách khác, để nói và làm như thể chế độ không tồn tại. Cụ thể hơn, ông cũng kêu gọi đồng bào ông tận dụng sự ám ảnh của những nhà cai trị với sự kiểm soát tuyệt đối. Nếu nhà nước muốn độc chiếm mọi lĩnh vực hoạt động của con người, ông viết, thì mọi công dân biết tư duy phải hành động để giữ gìn “đời sống độc lập của xã hội” mà ông định nghĩa là bao gồm “mọi thứ từ tự giáo dục đến tư duy về thế giới, thông qua hoạt động sáng tạo tự do và chuyển tải đến những người khác, tới những thái độ đa dạng, tự do, và dân sự nhất, bao gồm cả trường hợp của các tổ chức xã hội độc lập tự phát”.
Đến thời điểm thích hợp, một số phiên bản “đời sống độc lập của xã hội” – “xã hội dân sự” – bắt đầu phát triển bằng các cách khác thường. Người Hungary tham gia các câu lạc bộ thảo luận học thuật. Người Séc thành lập các ban nhạc jazz. Người Ba Lan ngầm tổ chức lực lượng hướng đạo sinh và cuối cùng là các công đoàn độc lập. Ở mọi nơi, mọi người chơi nhạc rock, tổ chức các buổi đọc thơ, thành lập các doanh nghiệp bí mật, tổ chức các hội thảo triết học ngầm, bán thịt ở chợ đen, và tới nhà thờ. Họ kể cả chuyện cười, thường là rất nổi loạn. Trong một loại xã hội khác, những hoạt động này có thể đã được coi là phi chính trị, và ngay cả ở châu Âu chúng cũng không nhất thiết tạo ra “sự đối lập”. Nhưng chúng đã cho người dân quyền kiểm soát một số khía cạnh của đời sống riêng tư – và trên thực tế đã cho họ cái mà họ cảm thấy là các lĩnh vực tự do và độc lập với nhà nước.
Đôi lúc, chúng cũng có tác động rất sâu sắc đối với chính trị. Năm 1956, các nhóm thảo luận học thuật nhỏ bé của người Hungary dần lớn lên, trở thành các cuộc gặp mặt công cộng, và cuối cùng dẫn tới Cách mạng Hungary. Năm 1980, công đoàn Đoàn kết đã giành được quyền tồn tại hợp pháp trong một thời gian ngắn trước khi bị nghiền nát một năm rưỡi sau đó bằng thiết quân luật. Và đến năm 1989, các nhóm Tin lành và các nhà hoạt động độc lập Đông Đức đã tổ chức một loạt các buổi tuần hành ở Leipzig, giúp đẩy nhanh sự sụp đổ của Bức tường Berlin.
Sau khi chủ nghĩa cộng sản đi đến hồi chấm dứt, một lần nữa tự do ngôn luận và tự do hội họp được lập lại ở Trung và Đông Âu. Nhưng ở nhiều nơi điều đó nói thì dễ hơn làm: Các tổ chức tư nhân, dân sự, và từ thiện từng được người dân dùng để thúc đẩy các sáng kiến độc lập về tri thức, chính trị, thiện nguyện, hoặc thể thao đã không còn tồn tại. Hệ thống pháp lý để hỗ trợ chúng cũng vậy. Người ta đã viết rất nhiều về sự mất mát đạo đức làm việc ở châu Âu cộng sản và sự thiếu vắng các thể chế tư bản chủ nghĩa và thị trường chứng khoán. Nhưng đến năm 1989, các thói quen, tập quán, pháp luật, và thậm chí cả phép lịch thiệp gắn liền với tất cả mọi thứ từ văn hóa của một tòa soạn có trách nhiệm tới tổ chức từ thiện thường niên cũng đã biến mất khỏi phần lớn Liên Xô đã 70 năm, và khỏi Trung Âu đã 40 năm. Không dễ gì thay thế được chúng.
Tệ hơn, một số bộ phận dân cư ở gần như tất cả các nước thuộc khối Xô viết cũ lại phản ứng trái ngược với sự hồi sinh của họ, ít nhất là lúc đầu. Năm 1989, khái niệm về một tờ báo xuất bản những bài chỉ trích chính phủ là thật kỳ quái, thậm chí đáng ngờ, đối với nhiều công dân Xô viết cũ. Ý tưởng về trường học được tổ chức theo một triết lý khác hoàn toàn với các trường công có vẻ thật xa lạ. Ý tưởng về một tổ chức từ thiện có thể được tài trợ hoàn toàn bởi các cá nhân, đối với nhiều người, là không thể chấp nhận được và thậm chí còn đáng ngờ: Động cơ của những người đóng góp là gì? Các đảng chính trị tham gia vào cuộc tranh luận không kiểm soát là viễn cảnh đáng sợ nhất trong tất cả. Cảnh tượng mọi người bất đồng nơi công động, đôi khi còn hét vào mặt nhau, có vẻ thật khó chịu, chia rẽ, và thậm chí nguy hiểm.
Đúng là nếu thiếu vắng cả nhà nước và xã hội dân sự, những từ ngữ như “tự do” đôi khi dường như chỉ là những câu khẩu hiệu rỗng tuếch. Anh có thể tự do dành thời gian làm gì anh muốn, nhưng câu lạc bộ bóng đá địa phương của nhà nước đã sụp đổ vì thiếu kinh phí, không có gì để thay thế, và cộng đồng anh đã quên mất cách tự mình tổ chức một đội bóng. Anh có thể tự do tham gia chính trị, nhưng các đảng và tổ chức chính trị đã suy yếu, mục nát, và tổ chức kém. Anh có thể cảm thấy bất bình cho những người nghèo quanh anh, nhưng anh không còn biết làm thế nào để quyên tiền giúp đỡ.
Dĩ nhiên, theo thời gian, nhiều công dân của các nước cộng sản trước đây đã điều chỉnh theo những thực tế mới, dần quen thuộc với tư tưởng tự do cá nhân, và nhiệt tình tái thiết xã hội dân sự. Nhưng những người khác thì không. Trên khắp khu vực, kích thước của hai nhóm này vẫn khác biệt khá nhiều, tùy vào lịch sử và văn hóa của từng quốc gia cụ thể. Quả thật, sức nặng tương đối của họ là đặc biệt quan trọng: Trong thế giới hậu cộng sản, thái độ của người dân đối với xã hội dân sự giúp xác định tình hình chính trị của đất nước họ đến một mức độ đáng ngạc nhiên. Ở Ba Lan, xã hội dân sự “bất hợp pháp” đã phát triển mạnh trong hai thập niên cuối của chủ nghĩa cộng sản, sản sinh ra không chỉ công đoàn Đoàn kết mà còn cả hàng chục tổ chức độc lập khác: các nhóm nghệ sĩ và nhà văn, các tổ chức giáo hội, thậm chí cả một phong trào hướng đạo sinh bí mật. Đến năm 1989, người Ba Lan không chỉ đã sẵn sàng hợp pháp hóa các tổ chức dân sự, mà còn có một số kinh nghiệm điều hành chúng.
***
Ngược lại, ở Nga, nơi quyền tự do lập hội đã bị đàn áp trong suốt 70 năm – và thậm chí trước đó cũng rất hạn chế – người dân nói chung tỏ ra thận trọng hơn với ý tưởng về các tổ chức dân sự tự do. Tệ hơn, người lên nắm quyền vào đầu những năm 2000, sau khoảng trống ngắn ngủi sau Yeltsin, một lần nữa tỏ ra thù địch một cách trắng trợn với chúng. Cuộc thập tự chinh của chính quyền tổng thống Putin chống lại chính khái niệm xã hội dân sự độc lập tại Nga đã phản ánh một phần sự trở lại với quyền lực của KGB trước đây, tổ chức có mục tiêu chính là phá hủy mọi tổ chức độc lập ở Liên Xô. Trong quá trình đào tạo, họ đã học được rằng các sự kiện không được phép cứ thế diễn ra, mà phải bị thao túng; các thị trường không thể cứ thế mở, mà phải được quản lý từ đằng sau; các cuộc bầu cử không thể đoán trước được, mà phải lên kế hoạch từ trước. Tương tự, họ cũng được dạy rằng các tổ chức mà họ không kiểm soát theo định nghĩa là tổ chức thù địch.
Bản thân Putin đã có kinh nghiệm cá nhân về mối nguy mà các nhóm độc lập đặt ra đối với một nhà nước chuyên chế. Là một sĩ quan KGB trẻ ở Dresden năm 1989, ông đã chứng kiến các cuộc biểu tình của quần chúng trên đường phố và việc lục soát trụ sở của Stasi, cảnh sát mật Đông Đức. Ông cũng không đơn độc. Hầu hết những người thân cận của Putin hiện nay đều được đào tạo và giáo dục trong cùng một hệ thống, và có vẻ hầu hết đều nghĩ theo cùng một cách. Có lẽ không ngạc nhiên khi sự trở lại với quyền lực của KGB được đánh dấu bằng việc loại bỏ chậm nhưng có hệ thống mọi loại hình nhóm và tổ chức độc lập khỏi xã hội Nga. Tháng 11 năm 2012, Duma Nga đã thông qua một đạo luật về cơ bản quy định rằng bất kỳ tổ chức nào nhận tài trợ của phương Tây cũng đều phải đăng ký như một “đại diện nước ngoài” – nói cách khác, một đại diện tình báo. Việc kiểm tra đột xuất và kiểm toán đối với phạm vi rộng các nhóm, trong đó có cả các nhóm làm việc trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe, đã khiến nhiều nhóm phải đóng cửa văn phòng hoặc rời khỏi nước Nga. Trong số hơn 50 tổ chức buộc phải đăng ký đại diện nước ngoài có Memorial, tổ chức vận động nhân quyền và bảo tồn lịch sử của chủ nghĩa Stalin, và Dynasty Foundation, tổ chức từ thiện của Nga nhằm hỗ trợ toán học và khoa học. Người sáng lập và nhà tài trợ duy nhất của Dynasty Foundation đã tuyên bố hồi đầu năm nay là ông sẽ ngừng tài trợ cho tổ chức này nếu việc đăng ký đại diện nước ngoài không được dỡ bỏ, và đến tháng 7 ban điều hành tổ chức đã quyết định đóng cửa nó.
Một đạo luật gần đây hơn cho phép nhà nước Nga có quyền đóng cửa mọi loại hình tổ chức nước ngoài “không mong muốn”. Trong số các nhóm được nhắc đến như những mục tiêu khả dĩ có Human Rights Watch và Ân xá Quốc tế. Theo luật, những tổ chức của Nga có “hợp tác” với những tổ chức nước ngoài “không mong muốn” cũng có thể bị phạt tiền hoặc phạt hình sự. Xã hội Nga, vốn từ lâu đã không quen tham gia các tổ chức dân sự, giờ đây sẽ tiếp tục không được khuyến khích làm như vậy bởi nỗi sợ hãi. Trong thời gian rất ngắn, việc thành lập, điều hành, hoặc tham gia vào một tổ chức độc lập ở Nga sẽ trở nên rất khó khăn; các tổ chức “chính danh” duy nhất sẽ do nhà nước điều hành. Chừng nào nước Nga còn bị cai trị bởi những người chưa bao giờ từ bỏ yếu tố này trong tư tưởng Bolshevik, điều đó nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn.
Vấn đề hiện nay là liệu các xã hội hậu cộng sản khác – và quả thật là có rất nhiều xã hội khác chịu ảnh hưởng nặng nề của ý thức hệ Xô viết – có dẫm vào vết xe đổ này hay không. Hầu hết các nước Trung Âu và vùng Baltic đã gia nhập Liên minh châu Âu có vẻ nhiều khả năng sẽ duy trì quyền tự do lập hội (mặc dù thủ tướng Hungary Viktor Orbán đã de dọa phản đối sự tồn tại của một số tổ chức độc lập ở Hungary nhận tài trợ từ nước ngoài). Lĩnh vực dân sự cũng rất vững chắc ở Ukraine, dựa trên truyền thống của các tổ chức nông dân và tự cứu của người dân Ukraine tiền Xô viết.
Nhưng ở Belarus, Trung Á, Trung Quốc, Cuba, một phần châu Phi, và phần lớn thế giới Ả Rập, những người cầm quyền vẫn gắn bó với tư tưởng Bolshevik cũ rằng các tổ chức dân sự độc lập là mối đe dọa đối với nhà nước. Có một điều trớ trêu ở đây là những người Bolshevik đã thất bại trong những mục tiêu quan trọng nhất của họ. Họ chưa bao giờ thành công trong việc thực hiện một cuộc cách mạng cộng sản quốc tế, lý thuyết kinh tế của họ đã đánh mất uy tín, và các kế hoạch tập trung đã chấm dứt. Nhưng những tư tưởng hạn hẹp của Lenin về xã hội dân sự vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi như Bắc Kinh, Cairo, Havana, Minsk, Bình Nhưỡng, và Tashkent – chứng tỏ rằng ciêncwushúng có lẽ là luôn vững chắc và nguy hiểm nhất trong tất cả.
Anne Applebaum là nhà báo người Ba Lan và Hoa Kỳ, nổi tiếng với những bài viết về chủ nghĩa cộng sản và sự phát triển của xã hội dân sự ở Trung và Đông Âu. Bà được trao giải Pulitzer cho tác phẩm phi hư cấu năm 2004 cho cuốn Gulag: A History (Doubleday, 2003).
————–
[1] V.I. Lenin, được trích trong The Communist Party of the Soviet Union (Bolsheviks) Is the Leading and Guiding Force of Soviet Society (Moscow: Foreign Languages Publishing House, 1951).
Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo
P/v
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

NÊN CÔNG BẰNG VỚI DÂN KHÔNG LẤY AI ĐÁNH GIẶC!

( Nhân vụ kiện của dân Bằng A lên Tòa án quận Hoàng Mai) Nhà thơ Đỗ Hoàng Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Tòa án Quận Hoàng Mai có công văn gửi ông Chủ tịch UBND quận Hoàng Mai về việc nhận đơn khiếu kiện của ông Lưu Bách Thuật và bà Lưu Thị Hợi trú tại cụm dân cư Bằng A, phường Hoàng Liệt, quận...

Thống kê
  • Đang truy cập57
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm55
  • Hôm nay6,568
  • Tháng hiện tại175,013
  • Tổng lượt truy cập3,487,857
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây