THƠ ĐẠT GIẢI THƯỞNG CỦA NGUYỄN THỤY KHA QUÁ DỞ, QUÁ CŨ, QUÁ LỖI THỜI, HÔ KHẨU HIỆU SUÔNG!

Thứ bảy - 02/01/2021 18:12
Thơ Nguyễn Thụy Kha đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2014 đáng ra không nên động bút vì vừa mất thì giờ, vừa mất tâm sức, vừa mất lòng anh em! Nhưng không nóí không đựợc vì thơ Kha quá dở, quá cũ, quá lỗi thời - hô khẩu hiệu muộn màng, quá sượng sùng không đem đến cho độc giả một thẩm mỹ nào hết!
Trong trường ca ngắn viết nhớ về Quàng Trị mùa hè năm 1972 có ba đoạn Cát trắng, Đất đỏ , Cây xanh, đoạn nào cũng lê thê, kể lể, nhạt nhẽo gần như vô cảm, không có một câu hay, một ý hay, toàn là những vấn đề, những việc cũ rich mà cách đây 40, 50 năm những người lính miền Bắc đã nói, đã kể hết mà lại hay hơn thơ Nguyền Thụy Kha viết sau 50 năm (!)
THƠ ĐẠT GIẢI THƯỞNG CỦA NGUYỄN THỤY KHA QUÁ DỞ, QUÁ CŨ, QUÁ LỖI THỜI, HÔ KHẨU HIỆU SUÔNG!
THƠ ĐẠT GIẢI THƯỞNG CỦA NGUYỄN THỤY KHA QUÁ DỞ, QUÁ CŨ, QUÁ LỖI THỜI, HÔ KHẨU HIỆU SUÔNG!
 
Đỗ Hoàng  

 
  
Thơ Nguyễn Thụy Kha đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2014 đáng ra không nên động bút vì vừa mất thì giờ, vừa mất tâm sức, vừa mất lòng anh em! Nhưng không nóí không đựợc vì thơ Kha quá dở, quá cũ, quá lỗi thời -  hô khẩu hiệu muộn màng,  quá sượng sùng không đem đến cho độc giả một thẩm mỹ nào hết!
   Trong trường ca ngắn viết nhớ về Quàng Trị mùa hè năm 1972 có ba đoạn Cát trắng, Đất đỏ , Cây xanh, đoạn nào cũng lê thê, kể lể, nhạt nhẽo gần như vô cảm, không có một câu hay, một ý hay, toàn là những vấn đề, những việc cũ rich mà cách đây 40, 50 năm những người lính miền Bắc đã nói, đã kể hết mà lại hay hơn thơ Nguyền Thụy Kha viết sau 50 năm (!)
 
Có một mùa hè
Mùa hè 1972
Cát trắng Quảng Trị in bóng những người lính trẻ măng trinh trắng
Những người lính đôi mươi, mười tám
Từ những miền quê phương Bắc tụ quần
Họ nói cười họ hát vang vang
Những hành khúc ra trận
Cát trắng nơi đây ngàn năm xưa cũng đã từng in bóng
Những người lính thời Lý vàng son
(Cát trắng – Nguyễn Thụy Kha)


   

 
  Sau 50 người ta đã đủ ,bình tĩnh để nhìn lại cuộc chiến của hai miền Nam, Bắc, Việt Nam biết được cái bi kịch của dân tộc Việt trong cuộc huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, bị các thế lực nước lớn giật dây thao túng, chi phối. Thế mà  Nguyễn Thụy Kha còn viết cũ, dở, lỗi như một anh lính bị đạn vào sọ não:

Họ nói cười, họ hát vang vang
Những hành khúc ra trận
  Thật thua cả Hoàng Nhuận Cầm viết năm 1971 trên núi non:
“Mùa thu này ta hát khát khắp Trường Sơn”
Thua cả Gia Dũng viết cách đây 50 năm đang giữa cuộc chiến::
“Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”
Có chú nai vài giương đôi tai ngơ ngác
Dừng ở lưng đèo mà nghe suối hát…”
Càng thua xa nghìn dặm Nguyễn Duy viết ngay trước mùa hè đỏ lửa năm 1972:
 

Thắng rồi - trận đánh thọc sâu 
Lại về với mái tăng - bầu trời vuông 
Sục sôi bom lửa chiến trường 
Tâm tư yên tĩnh vẫn vuông một vùng 

Khoái nào bằng phút ngả lưng 
Mở trang thư dưới bóng rừng đung đưa 
Trời tròn còn lúc rơi mưa 
Trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh 

(Bầu trời vuông – Nguyễn Duy)
Nhan nhản những câu văn xuôi xơ cứng sáo mòn, lỗi thời, hô khẩu hiệu muộn màng:
 

Cát trắng nơi đây bắt đầu chứng kiến cuộc hòa huyết
Đại Việt với Chăm Pa
Cát trắng phau muối trắng mặn hạnh phúc lẫn xót xa
Đã tạc nên gương mặt tổ tiên kiêu hãnh
Cát trắng vun lên những huyền thoại bi tráng
Hay:
Ôi cát trắng Quảng Trị có một ngày ai hay
Hai bờ ôm một Hiền Lương giới tuyến
Giới tuyến ấy chảy một dòng oán hận
Khi cát trắng bờ Nam hóa một vành đai trắng
Một hàng rào điện tử Mắc Na Ma Ra
(Thơ đã dẫn)
 
Kể lể một cách nhạt nhẽo:

Họ như những cánh chim của rừng núi biên cương
Của Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc
Của đất Tổ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Bắc
Họ là những cánh cò trắng châu thổ sông Hồng
Của Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình
Của đất Cảng Hải Phòng trắng những làn khói trắng
Của Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Nam
Của xứ Nghệ sông Lam Hà Tĩnh
Của Quảng Bình địa đạo Vĩnh Linh
Những cánh cò từ những cây sao đen
Phố Lò Đúc một ngày Hà Nội
Họ là cháu con những người lính Trung đoàn Thủ đô thuở ấy
Ba mươi sáu phố phường dâng chiến lũy hôm nay
Họ bay về phương Nam theo đội hình mùa hè 1972
(Thơ đã dẫn)
Hay:

Họ vào trận mang theo bao khát vọng
Khát vọng trong trắng tâm hồn trong trắng và máu họ cũng trắng phải không
Họ thảnh thơi không hề biết sợ giữa trùng điệp đoàn quân
***
Đấy là Nguyễn Thế Thường, Phạm Hải Triều,
Hoàng Nhuận Cầm, Phùng Huy Thịnh khoa ngữ văn
Đào Chí Thành, Trần Quốc Hoàng khoa toán Đại học Sư phạm
Lê Việt đại học Kinh tế Quốc dân
Lê Trí Dũng, Phạm Mai Châu, Lê Duy Ứng Đại học Mỹ thuật
Nguyễn Văn Bằng Đại học Bách Khoa
Hoàng Trần Cương Đại học Tài Chính
Đấy là … đấy là … đấy là
Tất cả đều gọi chung là lính sinh viên
(Thơ đã dẫn)
 
Nhà thơ Phạm Tiến Duật ngay “ở chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ” tuy phải viết theo trách nhiệm công dân, tuyên truyền nhưng cũng chan chứa tình đồng đội, không kể lể cũ kỷ, nhạt thếch vô cảm như Nguyễn Thụy Kha:
Phạm Tiến Duật viết:

“Cả sư doàn bộ binh
Đi dài trong rừng khộp
Anh nhìn mà đột ngột
Rừng gìa khi thu sang

Ao ước gặp bộ binh
Thì bây giờ đã gặp
Anh rưng rưng nước mắt
Muốn ôm lấy từng người
 
Thằng Khánh ở đâu rồi?
Tìm thằng Cường chẳng thấy
Thằng Triều con anh Hoan (*)
Có trong đoàn quân ấy!
(Những vùng rừng không dân – Trường ca Phạm Tiến Duật)
(*) Phan Lai Triều con nhà thơ Chế Lan Viên)
 
Tiếp theo là Biến tấu Souliko viết tặng chị Thùy cũng dở hơn cả trường ca Quảng Trị (!)
  Cũng sáo mòn, cũ kỷ, kể lể dong dài, nhat nhẽo, lê thê, chưa nói một cô gái Việt có cả một nguồn cội dân ca, ca dao, Quan Họ, Hát Dặm, Hò Huế, Cải Lương, Chèo Bắc… không nhớ bài nào mà chỉ có nhớ độc nhất dân ca Grudia (!)
  Nhớ dân ca Grudia thì quá tốt, nhưng người Việt thì cũng phải nhớ dân ca Việt và bài hát Việt nữa chứ?
hỡi các thuỷ thủ tàu không số ít lời
những anh hùng đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
chắc các anh không ngờ giữa tuyệt vọng tử sinh đã có một phép màu chợt hiện
đưa các anh tới bệnh xá này

để lại được an lành để được phục sinh
điều thần kỳ của chiến tranh nhân dân
ta đã biết không bao giờ biết hết
ta đã hiểu để sẵn sàng dám chết
(Thơ đã dẫn - Biến tấu Souliko )
  Thơ Nguyễn Thụy Kha không tắc tỵ, vô lối hủ nút như các cây viết được giải thưởng khác, nhưng thơ Nguyễn Thụy Kha quá cũ ríc, quá lạc hậu, quá lỗi thời,quá thiển cận ở tầm nhìn, tầm nghĩ của loại móc cống Hải Phòng!!
  Cha ông ta có nói: “Dốt hay nói chữ”. Điều này rất đúng với Nguyễn Thụy Kha. Đã trường ca là thơ dài rồi mà còn viết thêm 
trường ca ngắn như thuốc tân dược (!) – nửa nôm, nửa Hán – Việt, không hiểu ra làm sao (!)
   Ai cũng bết trường ca theo cha ông là bài thơ, bài ca dài; theo định nghĩa chung là một thuật ngữ văn học chỉ các tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình. Sang thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ttrường ca phát triển theo hướng trữ tình, tâm lý, triết lý, yếu tố cốt truyện được giảm xuống…
   Đã trường ca lại còn trường ca ngắn thì lố bịch quá mức!
  Rồi còn 
Biến tấu Souliko. Công chúng không học lý thuyết âm nhạc, không là nhạc sỹ thì làm sao hiểu nổi biến tấu Souliko?
 Nếu các nhà thơ viết toàn thuật ngữ chuyên ngành không có ai hiểu được:

Ta love you bằng ngấp nghé góc anpha
Mắt madam Eva long story tích phân định hạn chuỗi hàm Phurie
Nếu viết nguyên tiếng Nga mọi người đa số có hiểu không? -  Cylico? (Chữ I Nga thay bằng chữ I – la tinh)
 Và viết nguyên câu tếng Anh không dịch thì ai hiểu (Nếu không học tiếng Anh, tiếng Pháp?)
 Colder thy kiss
Truly that hour foretod
Sorrow to this!
(Byron – Wen we two parted - Poet  Englan)
 
Hay:
 

BALLADE DES DAMES DU TEMPS JADIS

Dites-moi où, n'en quel pays
Est Flora la belle Romaine,
Archipiadès, ne Thaïs
Qui fut sa cousine germaine,
Echo parlant quant bruit on mène

(Francois Villon  1431 – Fance)
 
 Xin lỗi độc giả tôi đã làm mất thì giờ của mọi người vì cái thơ quá dở, quá lỗi thời này!
 
                                            Hà Nội, ngày 28-1-2015
                                                       Đ - H               


 
 ĐƯỜNG GIÓ – VÔ LỐI CỦA GIÁNG VÂN – PHI THƠ CA


Đỗ Hoàng
Cách đây mấy thập kỷ những người làm thơ cố gắng chối bỏ những hình thức được lưu hành, họ quyết bức phá và tìm cách thể hiện sao cho khác tiền nhân. Đó là việc đáng khuyến khích. Nhưng qui luật xã hội hay tự nhiên thì mọi việc phát triển đều phải có tính kế thừa và phát huy. Những người tự xưng mình cách tân thơ không hiểu điều đó. Ngôn ngữ phương Đông và ngôn ngữ Việt đều là đơn âm, phát ra từ răng, gọi là xỉ âm, nên nói không có vần điệu, không có lối thì không thể nhớ được, làm thơ đã không vần không điệu, không có tứ lạ, tứ mới, không có một triết lý sâu sắc, viết như người nước ngoài học 3 tiết tiếng Việt rồi làm thơ Việt thì ai ngửi được. Không như ngôn ngữ Xlavơ và La tinh, Âu Mỹ… Mỗi từ của nó như là một khúc ca ngắn, nên thơ họ vần điệu có thể đặt xuống thư yếu.
   Rồi trào lưu làm thơ văn xuôi nảy nở khắp thế giới, khiến cho nhiều người có đất dụng võ cứ viết lung tung lang tang và gọi nó là thơ.
  Những người làm Vô Lối (chữ của Đỗ Hoàng) không chỉ phe nhóm mình tung hê mà được các cơ quan tư nhân và công quyền tung hê nên họ càng tin tưởng mình thiên tài mở ra một chân trời thi ca (!)
 Hàng loạt người làm Vô Lối từ thời miền Nam tạm bị chiếm như: Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Phú Trạm  - In na sa ra…miền Bắc như: Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, , Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Văn Cẩm Hải, Mai Văn Phấn, Hoàng Vũ Thuật… nẩy nở như nấm mọc sau mưa!
  Giáng Vân cũng viết Vô Lối như các bậc đàn anh của mình như vì chưa thành danh nên Đỗ Hoàng tôi không muốn mất thì giờ.
  Nay xem thấy cái tập Đường Gió của Giáng Vân được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải, tôi cũng phải viết vài lời phản biện.
  Đường Gió là một tập viết phi thơ ca, Vô Lối toàn tòng, nó chối bỏ tất tật truyền thống cha ông. Nó là một một thứ quái thai không ra chuột không ra mèo. Nó ngô ngô ngọng ngọng, dở dơi dở chuột, khô khan đại hạn, cũ kỹ, giả cầy tây tàu, thừa lời thiếu chữ, thiếu lời, thừa chữ, thiếu chữ thừa lời, nhạt nhẽo vô nghĩa, gái già làm duyên không phải lối, xơ cứng, tù mù, tịt mịch, gượng gạo, vô cảm, lãnh cảm, sáo mòn, sáo rỗng, nhạt thếch, vô vị,  hô khẩu hiệu suông, biểu hiện rất kém văn hóa, kém từng trải…
 Trong 74 bài của Đường Gió, bài Lời của suối nguồn được đưa lên đầu tiên.  Đây là bài không có thang điểm nào mà cho, nó phản thơ ca một trăm phần trăm.
 Hãy chảy đi, chảy đi
 
Bởi vì ta cần mang cho
Bởi vì ta không khi nào cạn
Bởi vì ta không khi nào tính đếm…
Một con suối nhỏ nhoi ồn ào quá đáng. Loại suối cóc léo nhéo suốt đêm ngày làm người ta mất ngủ, còn:
Sông to không chảy ồn ào.
(Sa Di )
Nó thuộc loại thùng rỗng thì kêu to (ngạn ngữ)
 Một kẻ lên gân như con bọ ngựa đá nhau. Con Người vỹ đại như thế mà còn run sợ trước thiên nhiên. Sao con suối nhỏ như mắt muỗi dám cao ngạo mình không khi nào cạn?
Thi sỹ Tản Đà tài danh mới dám viết:
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
 
 Người ta viết đầy hình ảnh lấp lánh, đa chiều, hàm súc. Đây Giáng Vân viết vừa thô thiển, vừa cạn cợt, vừa chủ quan:
Hãy chảy đi
Đừng hỏi nước khổi nguồn từ đâu?
Đừng hỏi Tình yêu khởi nguồn từ đâu
 
Chưa hết Giáng Vân  lại còn đại ngôn, sáo rỗng tiếp:
“Nước là tình yêu ta
Tình yêu là nước nên ta mãi mãi”
 
“Hãy chảy đi
Đừng bào giờ ngoảnh lại
Nước lên hương ban mai
Nước mát rượi ban trưa
Nước dịu dàng chiều hôm
Khi đêm về hư ảo
 
Hãy chảy đi..”
 Thôi miễn bàn nhưng lời đại ngôn có cánh.
Chùm Vô lối viết ở nước Lào vô cùng kém, không có một tí gì là mới, phát hiện mới, cũ càng cũ kỷ, cảm xúc, gượng gạo, triết lý vặt:
“Lặng im hát
Bài hát giữ cho những vẻ đẹp được sống
Đã được tạo tác như vậy.”
(Viết ở Viêng Chăn)
 Nhà thơ Phạm Tiến Duật – một cổ động viên cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhưng có những bài thơ về nước Lào hay:
“Ai nói Lào không có biển đừng tin
Tôi đã thấy biển Lào trong vùng giải phóng
Là khi đi giữa Sê pôn, Sê kông lổng lộng
Biển là em,
Thăm thẳm mắt em nhìn.”
 Đọc hết cả tập Đường Gió, tôi mới thấy kiểu viết Vô Lối phá nát văn chương. Giáng Vân có mấy bài viết về Mẹ và con là những bài Vô Lối nhạt nhẽo, cứng nhắc, đơn điệu vô cùng:
“Bên ngoài những định giới hạn hẹp
Mẹ về bên con bằng thứ ánh sáng xanh biếc vô hình
Niềm vui sáng dịu dàng khôn tả…”
(Thơ dâng Mẹ)
 Viết về Mẹ mà giống như thầy giáo dạy bài vật lý  “Ánh sáng truyền theo đường thẳng”
Giáng Vân không học ca dao tục ngữ sao:
“Chiều chiều ra đứng ngõ chiều
Nhìn lên mả Mẹ chín chiều ruột đau”
(Xin xem bài Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt phần sau)
 Trong một bài viết về mẹ “Thơ dâng Mẹ” rất đầu Ngô mình Sở, tiền hậu bất nhất.
“Mẹ đã hóa vào cao xanh kia
Cao sang và hư ảo

Đó là gương mặt thật của mẹ
Gương mặt của người mẹ vỹ đại đã sinh ra con
Tiếp đoạn sau lại rất thủ phận, người mẹ vỹ đại biến mất, chỉ còn:
“Bởi vì mẹ ơi mẹ con mình thật nhỏ bé
Chỉ như cái bòng côi cút trong cuộc đời”
Hai bài thơ viết cho con vừa sơ sài, vừa nhạt vừa lê thê. Không một rung động.
“Tôi ôm con gái tôi
Khi nó nhắm nghiền mắt và mơ
Trong cái thân hình ấm nóng và sống động
Nó tựa hẳn vào tôi tin tưởng.”
Câu dở hơn cả câu văn xuôi
(Thơ viết cho con)
Tiếp:
Con ơi
Có nhiều lúc mẹ rất nhăn nhó con không nhớ sao?
Đầy là những lúc con hư làm mẹ bực mình
Nhưng đây là vì mẹ lo cho con mẹ nhỉ.
(Trò chuyện với con)
Nói bộ dở thua một bà nông dân nói với con gái.
 
 
 Những cây bút đương đại hay né tránh những hiện thực đau đớn đè lên thân phận người phụ nữ. Họ bốc thơm người phụ nữ lên:
“Chị em ta tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời mà cũng nắng cho thơ.”
(Huy Cận)
Thực ra phụ nữ thời nào cũng là nạn nhân của quyền lực và đồng tiền. Phụ nữ dưới các chế độ độc tài, toàn trị lại càng đau khổ hơn.
 Trong văn chương cũ người ta đã lên án việc này rất mạnh mẽ:
Bộ binh, bộ Hộ, bộ Hình
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi”
(Ca dao)
“Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao”
(Ca dao)
“Trách móc làm chi chi
Ơi người là người ơi! Ơi chàng là chàng ơi
Sao tệ tệ rứa chàng
Sao bạc bạc rứa chàng!”
(Ca dao)
Rồi thì:
“Đẻ ra đứa con chẳng biết nó giống ai
Cái đầu thì ông xã, cái tai thì của ông trùm.
(Cao dao)
 Bây giờ:
Đẻ đứa con ra là biết nó giống ai
Cái đầu của bí thư chủ tịch, cái rái khoai của đảng đoàn…”
(Ca dao mới)
Hay:
 Đời thì Sở Khanh nhiều hơn rắn
Hệ lụy  bao nhiêu kiếp thân kiều
Trinh nữ làm sao mà lành lặn
Mỗi bước ma bầy kéo tiểu yêu!
(Đỗ Hoàng)
 
 Các cây bút nữ chỉ kêu gào nữ quyền, nhưng chỉ đòi hỏi quyền sex. Quyền sex cũng đáng đòi nhưng nó thứ yếu. Quyền lớn hơn là quyền làm mẹ, quyền nuôi con, quyền được lấy chồng, quyền có chồng, quyền được chồng chăm sóc. Người ta hiểu sai quyền làm mẹ là quyền thoải mái chửa hoang đẻ hoang, một mình người đàn bà phải chịu đựng nuôi con nuôi cái. Mà cái nữ quyền là phải đòi giống đực phải có trách nhiệm việc gây ra hậu quả cho người phụ nữ. Phải như con bò cạp, nếu giao hoan thì phải đổi cả tính mạng để làm nguồn thức ăn cho đứa con sơ sinh sắp ra đời.
 Giáng Vân đáng ra phải viết thay cho những người không chồng mà chửa mới ngoan thì sẽ thực hơn và xúc động hơn.
  Ngoài ra tác giả dùng tràn làn những từ Hán Việt chưa được việt hóa hoặc cũ mòn như: hoan ca, linh giác, an nhiên, thống khổ,  mê dụ, cô tịch, ngẫu cảm…
Những bài viết trước đây và tập Đường Gió là một cách viết hoàn toàn thật bại phi thơ ca.
   Không chỉ Hội Nhà văn Hà Nội mà Hội Nhà văn Việt Nam cũng liên tục trong nhiều thập kỷ qua cổ súy, lăng xê – trao giải cho những cách viết phi thơ ca như thế này. Đã có nhiều bài Vô Lối đưa vào sách giáo khoa cho học sinh học, đó là việc vô cùng tai hại mà cần warninh - cảnh báo.
  Lấy tiền ngân sách – tiền thuế dân đóng hoặc là tiền tư nhân đi nữa cũng là có tội với người đọc và nhân dân!
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2013
Đ -H
Phụ lục:
Dịch thơ Việt ra thơ Việt:
Nguyên bản:
Ký ức mưa 
 (Giáng Vân)
 
Bao bọc ngôi nhà mẹ
Những cơn mưa dài hằng đêm
Vách đất nhà mình ẩm lạnh
Ếch kêu vang đồng ngoài
 
Chúng con ngủ
Mơ thấy những dòng sông mưa
Cùng cá tôm đi bơi lội
Đồng làng mênh mông
 
Bao bọc giấc mơ con
Gương mặt mẹ muộn phiền
Bàn tay có những ngó
Những sợi len hay những n dài xanh
Không ngừng đan, nối sợi mưa
Xuyên vào nhau thành áo ấm
Mà mẹ không có áo ấm bao giờ
Con còn nhỏ
 
Không biết mẹ ước gì
Chỉ thấy
 
 
Bao bọc đời chúng con
Mà sao mẹ nhỏ nhoi, yếu đuối
Những mùa mưa không tạnh
Đến giờ..
 
13-12-Bính Tuất
Ngày giỗ mẹ
 Đỗ Hoàng dịch:
 
NHỚ MƯA
 
Bao bọc ngôi nhà mẹ
Hằng đêm mưa kéo dài
Phên đất nhà mình lạnh
Ếch kêu vang đồng ngoài!
 
Lũ chúng con mê ngủ
Mơ những dòng sông mơ
Cùng cá tôm bơi lội
Đồng rộng không thấy bờ.
 
Bao bọc giấc mơ con
Gương mặt mẹ muộn phiền
Tay mẹ xanh từng ngón
Mẹ đan ngày nối đêm!
 
Sợi len như sợi mưa
Kết nhau thành áo ấm
Mẹ có ấm bao giờ
Con thì còn nhỏ lắm.
 
Không biết mẹ ước gì
Đêm mưa mẹ hay khóc
Bao bọc lũ con thơ
Mẹ nhỏ nhoi gầy gộc!
 
Những mùa mưa thấm lạnh
Mẹ ơi! Còn đến giờ!
 
Hà Nội ngày 19 – 11 -2013
                  Đ – H
 
Nếu Giáng Vân viết thay cho những người phụ nữ nạn nhân của giống đực thì sẽ được chị em và người đọc đồng tình hơn!
 
VIẾT CHO CON
(Viết hộ cho những người phụ nữ nhẹ dạ, bất hạnh)
*
Con à, con ạ!
Nước mắt mẹ sung sướng ướt cả dải yếm khi bồng con trên tay.
Con của mẹ bé bỏng nhường này.
Con đã hiện hữu cùng đất trời trong cõi vô cùng rộng lớn
Có con, bây giờ đời  mẹ không còn cô đơn trống rỗng.
Có con phòng mẹ rộng rinh sống động cả một bầu vũ trụ chứa trăng sao
Ôi cái má hồng đào
Thơm thơm mùi sữa.
Có con những ngày buồn thiu của mẹ không còn nữa.
Những ngày lạnh tanh đêm năm canh, ngày sáu khắc vò võ một thân mình.
Những ánh mắt soi mói như kim xuyên qua da thịt của mẹ xuyên qua con tim.
Người ta nói bóng nói gió rằng con là đứa bé không có ai thừa nhận
Là đứa con hoang như chó hoang ngoài đồng cuộc đời sẽ vô vàn bất hạnh.
Mẹ đau suốt tháng ngày mang thai!
 
Con à, con ạ.
Cha con là những người đàn ông đại tài
Họ vô cùng đẹp trai
Như cầu thủ bóng đá Platini của Pháp
Họ giàu như ông Binget
Làm chính trị gia như Obama
Làm thơ giỏi như Lý Bạch, Lok ca
Con đã thừa hưởng tất cả các gien tài năng vỹ đại
Cho con tất để làm nên phận gái.
 
*
Nhưng con ơi!
Mẹ đâu ngờ
Cái giống đực loài nào cũng thế
Nó vô cùng bạc tình, bạc nghĩa.
Nó đánh trống bỏ dùi
Nó mất hút tăm hơi.
Cái giống đực con người thì nó vô cùng tệ bạc.
Nhất là những thắng có chức tước quyền lực.
Nó biến đàn bà thành thú chơi trăng hoa.
Bao nhiêu cô con gái tan cửa nát nhà
Mà không sao vùng vẫy.
 
Hàng ngày,
Nó cũng vào ra nơi cơ quan mẹ đấy
Nhưng nó làm như không bao giờ nhìn thấy đứa con của nó đang lớn dần.
Nó không có một ánh nhìn thiết thân
Cái ánh nhìn mà nó từng vung ra để chiếm đoạt mẹ.
Ôi cái giống đực, loài nào cũng tệ.
 
Con à, con ạ!
Đàn bà cạn lòng như đĩa
Đàn ông bạc nghĩa như vôi.
Ông ngoại từng dạy mẹ rồi
Đi đêm với đàn ông thì phải buộc lưng quần cho chặt.
Mẹ luôn ghi nhớ và nghe lời khi mẹ đã là con gái hồng hào sắc mặt.
Nhưng con ơi.
Làm ở cơ quan đâu chỉ có đi một đêm
Đi nghìn đêm
Lần ấy thì mẹ không mặc quần.
Khổ thân mẹ, mẹ mặc váy.
Cơ sự ra như thế ấy.
 
*
Nhưng mẹ còn may hơn ngàn lần bà ngoại.
Bà ngoại chửa hoang, ông ngoại phải mổ lợn tạ làng.
Họ bắt bà lột hết quần áo dông khắp chợ thôn hết dọc đến ngang.
Sai mõ đào lỗ vừa bỏ bụng thai vào nằm sấp cho hương vệ thi nhau đánh.
Bà con xóm chòm, làng nước gặp ai họ cũng xa lánh
Sợ người chửa hoang như sợ người bị hủi.
Cả một cuộc đời buồn tủi
Bà ngoại đã nuôi mẹ lớn lên như vầy.
 
*
 
Cuộc đời bây giờ đã đổi khác nhiều thay.
Người con gái có quyền làm mẹ.
Nhưng con ơi, sự đời không chỉ thế
Sau này lớn lên con mới biết người con gái có quyền lấy chồng
Người con gái có quyền bắt đàn ông chăm sóc vợ con.
Người đàn ông không được bỏ của chạy lấy người
Người phụ nữ có quyền bắt có trách nhiệm với cuộc đời.
 
*
 
Con à con ơi!
Mẹ biết con thiếu tình thương của cha.
Tình thương của ông bà.
Tình thương cha như núi non cao rộng
Tình thương ông bà như biển đông điệp trùng ngọn sóng.
Vô biên vô cùng.
Con thiếu hụt tình thương ấy như đồng quê thiếu những con sông
Như mái nhà thiếu đi tranh lợp
Như con người chỉ đi một bước.
Vì thế mẹ thương con nhường này!
 
*
Con lớn lên
Xã hội càng đổi thay
Con thay mẹ đòi cho bằng được cái quyền mẹ
Và cái quyền được lấy chồng
Quyền trói buộc đàn ông
Tuân phục nữ quyền muôn thuở.
 
*
Mẹ mong cái ngày ấy không xa nữa
Khi con của mẹ lớn lên.
Con à, con ơi!
 
Hà Nội, ngày 25 – 11 -2013
Đ – H

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập10
  • Hôm nay3,514
  • Tháng hiện tại72,296
  • Tổng lượt truy cập6,215,286
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây