: BỮA CƠM CHIỀU TRONG DINH ĐỘC LẬP - Rất tấu hài, tò he!

Chủ nhật - 06/06/2021 22:26
Bài “ Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập” của Hữu Thỉnh nó chỉ là tầm bài bích báo dán lên tờ báo liếp đại đội cho anh em lính đọc. Đọc qua một lần rồi quên đi, bởi nó chẳng để lại một âm vang nào cả. Thế mà nhiều người ca ngợi nó là bài thơ hay của thời chống Mỹ cứu nước. Thực ra không phải thế ! Nó sơ sài , đơn giản, kể lể còn thua một tin in báo.
: BỮA CƠM CHIỀU TRONG DINH ĐỘC LẬP - Rất tấu hài, tò he!
Bình giảng: BỮA CƠM CHIỀU TRONG DINH ĐỘC LẬP - Rất tấu hài, tò he!
Đỗ Hoàng
Nguyên bàn:
BỮA CƠM CHIỀU TRONG DINH ĐỘC LẬP


Cơm dã chiến nấu bằng bếp điện
Rau muống xanh như hái tự ao nhà
Trời còn đầy ắp hoa và pháo
Nhìn nhau chưa vội mở vung ra.

Màu xanh – sân cỏ xanh mải miết
Quây quần đồng đội đến vui chung
Hàng cây so đũa cùng ta đó
Ăn bữa cơm ở đích cuối cùng

Khách thường: thương mấy anh nhà báo
Theo tăng băng dốc mấy mươi ngày
Sáng chiếm núi Bông, chiều cửa Thuận
Vượt đèo Phước Tượng buổi nhiều mây

Tăng vẫn dàn theo đội hình chiến đấu
Xích còn vương đất đỏ Phan Rang
Vừa mới vào mâm, anh nuôi bận
Chia thêm Tổng-thống-nguỵ-đầu-hàng

Kìa gắp đi anh, ai nấy giục
Có gắp chi đâu, mải ngắm trời
Tự do xanh quá, mênh mông quá
Vượt mấy ngàn bom mới tới nơi

Bỏ lại đằng sau bao trận đánh
Kịp vào thành phố sáng tên Người
Độc lập theo trăng vào cổng chính
Cờ treo trên đỉnh nước non ơi!

Ta trẻ như cờ ta trẻ lắm
Ta reo trời đất cũng reo cùng
Ta no cười nói, say đôi mắt
Bát canh ngày hẹn cũng mênh mông.

                       Hữu Thỉnh
(Rút trong tập “Nửa thế kỷ thơ”, nhà xuất bản QĐND, 2006)
Bản hai:

BỮA CƠM CHIỀU TRONG DINH ĐỘC LẬP
In báo Văn nghệ số 18 + 19 ( 1 - 5 - 2021) – mục Sổ tay thơ
Cơm dã chiến nấu bằng bếp điện
Rau muống xanh như hái tự ao nhà
Trời còn đầy ắp hoa và pháo
Nhìn nhau chưa vội mở vung ra.

Màu xanh – sân cỏ xanh mải miết
Quây quần đồng đội đến vui chung
Hàng cây so đũa cùng ta đó
Ăn bữa cơm ở đích cuối cùng

Khách thường: thương mấy anh nhà báo
Theo tăng băng dốc mấy mươi ngày
Sáng chiếm núi Bông, chiều cửa Thuận
Vượt đèo Phước Tượng buổi nhiều mây

Tăng vẫn dàn theo đội hình chiến đấu
Xích còn vương đất đỏ Phan Rang
Nhớ hôm nghe lệnh trên thần tốc
Gạo sấy quanh người chẳng kịp ăn

Kìa gắp đi anh, ai nấy giục
Có gắp chi đâu, mải ngắm trời
Tự do xanh quá, mênh mông quá
Vượt mấy ngàn bom mới tới nơi

Ta trẻ như cờ ta trẻ lắm
Ta reo trời đất cũng reo cùng
Ta no cười nói, say đôi mắt
Bát canh ngày hẹn cũng mênh mông.

Ngày giải phóng Sài gòn

   Bài “ Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập” của Hữu Thỉnh nó chỉ là tầm bài bích báo dán lên tờ báo liếp đại đội cho anh em lính đọc. Đọc qua một lần rồi quên đi, bởi nó chẳng để lại một âm vang nào cả. Thế mà nhiều người ca ngợi nó là bài thơ hay của thời chống Mỹ cứu nước. Thực ra không phải thế ! Nó sơ sài , đơn giản, kể lể còn thua một tin in báo.
“Cơm dã chiến nấu bằng bếp điện
Rau muống xanh như hái tự ao nhà
Trời còn đầy ắp hoa và pháo
Nhìn nhau chưa vội mở vung ra….”
“Cơm dã chiến nấu bằng bếp điện” thì lạ lẫm với người lính chiến ở rừng, chứ một thằng bé lên ba ở đô thị thì là điều quá bình thường không để ý tới như việc quen thuộc  mở máy computer!  Và “Rau muống xanh như hái tự ao nhà” cũng là chuyện quá đổi bình thường ở thành phố đủ điện nước! Chỉ mấy anh “Vệ túm” ở rừng ở rú lâu ngày mới tưởng mình lạc giữa thiên đường “Sao Hỏa” khi sắp hàng nghiêm chỉnh chờ một anh thanh niên Sài Gòn đến mở ti vi cho mà xem (!)
 Không có một tí gì gọi là “chất” thơ (!) Viết thơ về bữa cơm cũng được thôi, nhưng bữa cơm trong hoàn cảnh nào. “Bữa cơm thường trong bản nhỏ” của Chế Lan Viên, “Bữa cơm ngày mùa” của Trần Nguyên Đào:
“Đôi đũa thừa trong rỗ….
Nhắc tới người đi xa…”
Thơ âm vang, tình người đằm thắm, ấm áp! Ở đây thơ Hữu Thinh
rất “sến”, nhạt, cải lương:
“Trời còn đầy ắp hoa và pháo
Nhìn nhau chưa vội mở vung ra….”
   Chất sáo, dở, nhạt nhắng… đặc trưng thơ Hữu Thỉnh đậm đặc trong bài này! Gần nửa thế kỷ (46 năm), ngày kỷ niệm 30 tháng 4 năm nào cũng in lại bài này với nhiều cây bút tụng hô đủ mọi lứa tuổi! Họ hồ hởi với chiến thắng nhưng dân tộc muôn đời đau tận tâm, gan!
 Giải phóng miền Nam Việt Nam đến như cỡ nguyên thủ Võ Văn Kiệt cũng xót xa nói: “ Một triệu người vui thì có một triệu người buồn”.  Còn bậc cha mẹ là Nhà nhân ái, nhà thơ thì họ cho rằng: “Ai cũng buồn cả”! Miền Bắc Việt Nam đánh miền Nam Việt Nam ví như hai anh em ruột giếtt nhau. Thằng anh học Tàu thâm hơn, thằng em học Mỹ khờ hơn và bị thằng anh gian manh bóp cổ giết chết. Đau muôn đời. Thời hiện đại nước Đức, Ấn Độ …là những gương sáng ngời vè thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc!!
 Cần gì mà phải sát thát nhiều thế lại rất bích báo:
“Theo tăng băng dốc mấy mươi ngày
Sáng chiếm núi Bông, chiều cửa Thuận
Vượt đèo Phước Tượng buổi nhiều mây
Tăng vẫn dàn theo đội hình chiến đấu
Xích còn vương đất đỏ Phan Rang”…
Trên đường tiến về Sài Gòn bao nhiêu xác lính, xác dân, máu vương xích xe tăng, đâu chỉ bụi đỏ?

山雪河冰野蕭瑟,
青是烽煙白人骨
悲青阪
Sơn tuyết, hà băng dã tiêu sắt,
Thanh thị phong yên, bạch thị cốt.
Bi Thanh Bản
Núi, tuyết, sông băng, đồng xơ xác, , ,
Chỗ trắng xương khô, xanh là khói
(Thương trận Thanh Bản – Đỗ Phủ - Đỗ Hoàng dịch thơ)
Câu thơ cuối khổ hai là câu thơ không trọn vẹn, không chính xác! Tác giả đã kém học, kém nghe và nói lấy được. Tại sao “ở đích cuối cùng?
“Hàng cây so đũa cùng ta đó
Ăn bữa cơm ở đích cuối cùng”
 Từ ấu trò, học sinh miền Bắc Việt Nam đã được học về Chủ nghĩa Cộng sản, ai cũng biết đích cuối cùng là “dân giàu, nước mạnh”, làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Khi nhà nước, chính phủ, đảng phái không còn trên hành tinh này, thì con người muôn đời sung sướng!
 Thứ gì mới chiếm được “thủ đô” của thằng em mà là “đích cuối cùng” , không ra làm sao cả? Mấy năm sau cả miền Nam đi kinh tế mới, đói meo, vượt biển, thuyền nhân chết nửa triệu người trên biển,  tai họa muôn đời dân tộc!
 Tầm nghĩ, tầm đọc của người viết không được tầm “báo liếp”!
 Sau giải phóng Sài Gòn, không chỉ người thường lo vận mệnh dân tộc trăn trở mà những bậc khai quốc công thần, con cháu của họ đều lo cho vận mệnh nguy nan của dân tộc. Chỉ một số hưởng vinh hoa phú quý trên chiến thắng, còn đại đa số đấu tranh. Đất nước thống nhất rồi, độc lập rồi nhưng tự do, giàu mạnh thì chưa có. Mà còn phảiđấu tranh tiếp!
  Bài học về sự hòa hợp dân tộc của Hoa Kỳ vẫn còn tươi rói cho chúng ta:
“Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt (Hoa Kỳ) , hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.
Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là Confederate Memorial.
Cũng phải nói rằng, thực sự sau nội chiến, dư vị cay đắng giữa Nam Bắc Hoa Kỳ vẫn còn nhiều. Dễ gì mà trút bỏ hận thù ngay sau khi hai bên chết cả gần một triệu người mà một số lớn đã giết nhau khi giáp mặt bằng gươm dao. Hai phe cùng đốt nhà của nhau và cùng tàn phá đô thị và nông trại, đôi khi có cả những hành động dã man như hãm hiếp phụ nữ và tàn sát trẻ em. Cuộc chiến nào mà không có những lần quá độ.
Năm 1900 tức là gần 40 năm sau cuộc chiến, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1991 thì các liệt sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện.
Trên đỉnh của chân bệ hình vòng cung như nóc Tòa Quốc Hội là hình tượng cao 32 feet của một thiếu phụ tượng trưng cho miền Nam. Ðây là hình ảnh bà mẹ của phe bại trận đã có con trai hy sinh cho cuộc chiến. Phía dưới là bài thơ đại ý như sau:
“Ở đây chẳng có vinh quang hay tưởng lệ.
Ở đây chẳng phải binh đoàn hay cấp bậc.
Ở đây chẳng có tham vọng hay mưu cầu.
Ở đây chỉ đơn thuần là nhiệm vụ.
Những người nằm ở đây đã hiểu rõ
là họ trải qua gian khổ, đã hy sinh
đã liều thân và sau cùng đã chết.”
Ðó là câu chuyện về các tử sĩ của phe thua trận tại Hoa Kỳ.
Bảo tàng viện “Ðầu hàng” và nghĩa trang phe thua trận ở Arlington. Nơi đó thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.
   Xem lại lịch sử, chiến cuộc Nam Bắc Hoa Kỳ trong 4 năm rất khốc liệt, máu lửa và ghê gớm vô cùng. Trong một thời gian ngắn các trận đánh dồn dập, các đô thị bốc cháy lửa cao ngút trời. Cũng tản cư, cũng loạn lạc và chiến tranh để lại các cánh đồng toàn xác chết trong các trận giáp lá cà, đâm chém nhau mặt đối mặt. Nhưng rồi vết thương nào cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt để chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng.
Tổng thống Obama đến viếng nghĩa trang chung cả thắng và thua
Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo quân tử là phải biết xưng tụng các bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch. Nước Mỹ ngày nay còn hùng mạnh bởi vì biết tôn trọng giá trị của phe đối nghịch.
Trước khi chết, Tổng Thống Lincoln đã nói: “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống.”
Ðó là những bài học mà chiến tranh, giết người, đốt nhà, nồi da nấu thịt và sau đó là hành sử của người chiến thắng biết tôn trọng giá trị của kẻ thù đã đem lại cho thế hệ nối tiếp.”
 Cha ông ta gần nghìn năm trước đối với quân thù ngoại bang vẫn rất nhân ái, chưa nói đến đối với anh em “máu đỏ da vàng” đồng tộc:
“神武不殺,予亦體上帝孝生之心。
參將方政,官馬騏,先給艦五百餘艘,既渡海而猶且魂飛魄散;
總兵王通,參政馬瑛,又給馬數千餘匹,已還國而益自股慄心驚。
Thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.
Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, ký độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.”

 Cần nói thêm cái chất “sáo, dở, nhạt , nhắng” trong bài “Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập” của Hữu Thỉnh người làm thơ đủ các thứ bệnh thi y!
“Bỏ lại đằng sau bao trận đánh
Kịp vào thành phố sáng tên Người
Độc lập theo tăng vào cổng chính
Cờ treo trên đỉnh nước non ơi!”
  Phép làm thơ rất xoàng, hai câu đã lặp hai chữ “vào”: “vào thành phố”, “vào cổng chính”. Rất hô khẩu hiệu: Độc lập theo tăng vào cổng chính”, “sáng tên Người”. Đa phần các nhà thơ “mậu dịch” miền Bắc Việt Nam mỗi bài thơ đều phải có câu “cúng cụ” (tôn vinh lãnh tụ) như vậy. Hữu Thỉnh càng đậm đặc hơn (!)
“Tự do xanh quá, mênh mông quá’. Còn lâu nhé! Đến hôm này “tự do” còn đấu tranh chán!
  Khổ cuối là khổ cải lương nhất, gào thét nhất, sến nhất, nhạt nhẽo nhất, tấu hài , tò he nhất:
« Ta trẻ như cờ ta trẻ lắm
Ta reo trời đất cũng reo cùng
Ta no cười nói, say đôi mắt”
  Đúng là : “Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập” chỉ là bài bích báo đại đội!

                                    Hà Nội ngày 7 tháng 6 năm 2021
                                                     Đ - H

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập14
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm13
  • Hôm nay1,586
  • Tháng hiện tại71,172
  • Tổng lượt truy cập7,178,700
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây