Vô lối ngu độn Nguyễn Bình Phương

Chủ nhật - 03/01/2021 04:10
HAI THÌ (I- Tiếng thơm muôn thuở II- Tiếng xấu ngàn đời)

Ngày trước:

Chưa bao giờ xuất hiện một tâm hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, mơ màng như Lưu Trọng Lư, quê mùa như Nguyễn Binh, ảo nảo như Huy Cận, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu.
(Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam)

Ngày nay:

Chưa bao giờ trong cõi Việt cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, sau cuộc chiến huynh đệ tương tàn lại xuất hiện một kiểu viết vô lối phi văn chương nhạt nhẽo dài dòng gượng gạo như Nguyễn Quang Thiều, cụt lủn vô tâm vô cảm như Thanh Tâm Tuyền, lòng thòng kể lể báo công xu thời như Lê Văn Ngăn, kệch cởm khệnh khạng khô khan như Nguyễn Khoa Điềm, ngô ngọng giả cầy quái gỡ đau ghẻ như Phú Trạm Inrasara, tù mù uốn éo hời hợt nông cạn thô thiển như Nguyễn Bình Phương, tắc tỵ như Văn Cầm Hải, hủ nút như Hoàng Vũ Thuật, dục cảm bệnh hoạn như Vi Thùy Linh…
Vô lối ngu độn Nguyễn Bình Phương
HAI THÌ (I- Tiếng thơm muôn thuở II- Tiếng xấu ngàn đời)                                               
 
Ngày trước:
 
  Chưa bao giờ xuất hiện một tâm hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, mơ màng như Lưu Trọng  Lư, quê mùa như Nguyễn Binh, ảo nảo như Huy Cận, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu.
(Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam)
 
Ngày nay:
 
  Chưa bao giờ trong cõi Việt cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, sau cuộc chiến huynh đệ tương tàn lại xuất hiện một kiểu viết vô lối phi văn chương nhạt nhẽo dài dòng gượng gạo như Nguyễn Quang Thiều, cụt lủn vô tâm vô cảm như Thanh Tâm Tuyền, lòng thòng kể lể báo công xu thời như Lê Văn Ngăn, kệch cởm khệnh khạng khô khan như Nguyễn Khoa Điềm, ngô ngọng giả cầy quái gỡ đau ghẻ như Phú Trạm Inrasara, tù mù uốn éo hời hợt nông cạn thô thiển như Nguyễn Bình Phương, tắc tỵ như Văn Cầm Hải, hủ nút như Hoàng Vũ Thuật, dục cảm bệnh hoạn như Vi Thùy Linh…



Dịch thơ Việt ra thơ Việt - Dịch Vô lối Nguyễn Bình Phương
 
TỰ BẠCH THỜI BÌNH CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG – MỘT KIỂU VIÊT
-          VÔ LỐI NÔNG CẠN, HƠI HỢT -  KÉM HỌC - PHI VĂN CHƯƠNG – BÔI NHỌ HÌNH ẢNH ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ
 
        Đỗ Hoàng

 
 
Nguyên bản

http://vannghecuocsong.com/uploads/news/2014_12/a-b-phuong-1.jpg
 
Nguyễn Bình Phương
 
 
TỰ BẠCH THỜI BÌNH (*)
                                              
Tôi lính mới
Biết con mắt là con mắt của gió
Biết bàn tay là bàn tay của gió
Xanh thế kia chắc chắn là cây đấy
Chậm và cồng kềnh như thế sẽ là mây
 
Tôi yêu mến xiết bao thời thơ bé
Chạy say mê suốt cả mùa hè
Giờ nhìn núi nghiêng trôi dần nhớ
Người của trời cao thì vỗ cánh trong mơ
Người của đất lầm lỳ như bóng tối
Và bóng tối thông minh đứng cùng tôi
 
Trong phiên gác đêm đêm tôi thường thấy
Trắng bồng bềnh như vậy đúng là em
Em chẳng nhớ chút gì về mưa cả
Mưa thuở ấy như một người xa lạ
Ngồi miên man tự vấn trái tim mình
 
Tôi anh lính phong tình
Ngắm sương núi vờn quanh thân súng
Lòng cồn cào vũ điệu giao long
 
 
 (* In trên tạp chí Nhà văn & Tác phẩm số 7 - 2014
 
     Đây là một loại bài điển hình cho Vô lối Nguyễn Bình Phương – môt thứ Vô lối uốn éo, nhạt nhẽo, nông cạn, thô thiển, kém cõi vô văn hóa trong sử dụng từ ngữ tiếng Việt, trong đặt câu chọn từ, trong sắp xếp câu cho có logic, hỏng trong tư duy đời thường, trong tư duy thơ ca. Nói một cách khiên cưỡng, định nghĩa lung tung, không chính xác. Không một thông tin gì mới, không một biểu cảm tình người, không một nghệ thuật thi pháp, lại đầy lỗi trong cuộc đời dù vô tình hay hữu ý. Nó là một quái thai trong sáng tạo văn chương Việt đương đại!
 Trước hết là việc đặt tựa đề. TỰ BẠCH THỜI BÌNH không có gì sai, nhưng nó không hay vì nó dùng toàn âm Hán Việt, dù từ Thời bình đã Việt hóa. Nghĩa của bài và tựa đề ở đây là tác giả muốn bày giải cái u tình đời lính của mình trong thời bình  –  Tự bạch là - sướng tự u tình- Bày giải.  Có thể đặt TÌNH LÍNH BUỔI YÊN. Tôi đã nhắc rất nhiều lần đặt tựa đề hay là thành công 50% bài thơ, cách đặt tựa đề dở thì ngược lại.
   Vào bài tác giả đưa ra hai câu vô cùng tối nghĩa không biết đâu cua tai nheo ở đâu  ra:


Tôi lính mới
Biết con mắt là con mắt của gió
Biết bàn tay là bàn tay của gió
 
Từ đó đến cuối bài tác giả liên tục đưa ra định nghĩa những mệnh đề, khái niệm không nên định nghĩa, những mệnh đề khái niệm chí có mô tả thế mà tác giả viết rất xơ cứng không có một chút chất thơ, như câu nói phán đoán chính trị:
Xanh thế kia chắc là cây đấy.
Có thật không? Hết chưa?
- Xanh thế kia chắc chắn là biển ở độ sâu một nghìn mét!
- Xanh thế kia chắc chắn là cô du kích mang dù ngụy trang màu lục.
Tiếp:
- Chậm và cồng kềnh như thế sẽ là mây.
 Hết chưa? Đúng chưa?
- Chậm và cồng kềnh như thế sẽ là người gánh rơm
- Chậm và cồng kềnh như thế là người gánh đăng đó đi đơm
- Chậm và cồng kềnh như thế là xe bò chở củi
 
Tiếp:
- Trắng bồng bềnh như vậy đúng là em
Thật không, còn nữa không?
-          Trắng bồng bềnh như vậy đúng là mây
-          Trắng bồng bềnh như vậy đúng là bệnh viện…
Rồi lại liên tiếp nói tù mù, ú ớ vô nghĩa, uốn éo rất vô duyên:
-          Người của trời cao thì vỗ cánh trong mơ
-          Người của đất thì lầm lỳ như bóng tối
 
Có nhiều câu thể hiện sự kém cỏi trong nhận thức:
Và bóng tối thông minh đứng cùng tôi.
Thông minh, tiếng thuần Việt là sáng dạ. Người ta dùng từ này để chỉ sự phát triển của não đối với các loài động vật, không ai dùng để chỉ cho thực vât, lại càng không dùng chỉ những khái niệm hư vô, khía niệm phi vật thể. Nếu dùng bóng tối thông minh thì dùng được ánh sáng thông minh, âm thanh thông minh…
Trong Tự bạch thời bình – Nguyễn Bình Phương tự thú:
Tôi anh lính phong tình
Ngắm sương núi vờn quanh thân súng
Lòng cồn cào vũ điệu giao long
    Khổ kết bài vô lối này làm tai hại cho tác giả và cho triệu người lính khác và độc giả, nó chả để lại bài học gì cả. Nó chỉ là sự ẩn ức sinh lý của người lình trẻ thời bình không đạn bom, không giặc giã khi nghĩ đến sex làm tình kiểu rồng nhào lộn (vũ điệu giao long) trong ảnh hình hoặc ngoài đời thực.
   Người lình trẻ sung sức đời nào chả thế, họ thèm khát tình dục, thèm sex vô vùng, nhìn chó giao hoan họ cũng cường dương. Đàn bà vô cùng hiếm trong quân đội, nên nhìn lợn sề cứ tưởng là gái tơ!
Tam niên tại ngũ
Trư lão như tiên
(Ba năm ở linh
Lợn sề gái xinh)
Người lính phương Đông như vậy, người lình phương Tây cũng không khác gì, nhìn quả đạn ngỡ vú người yêu, nhìn mông ngựa tưởng mông người tình:
Tes seins sont les seuls obus que j’aime
Ton souvenir est la lanterne de repérage qui nous sert à pointer la nuit
En voyant la large croupe de mon cheval j’ai pensé à tes hanchcs
 
(FUSÉE – Apollinaire, poèmes, France )
 
(Cặp vú em là những quả đạn duy nhất anh yêu
Kỷ niệm em là cây đàn định vị giúp các anh ban đêm hướng súng
Nhìn cái mông con ngựa của mình anh nghĩ tới hông em
 
(Hỏa châu – Appllinaire, nhà thơ Pháp – Hoàng Hưng dịch)
 
  Họ viết thơ thật hay hơn vượt lên sự ẩn ức sinh lý của Nguyễn Bình Phương.
 
   Quân đội các nước từ cổ chí kim, dù thế chế nào đi nữa không có ai đi tuyển quân đám thanh niên phong tình ngoài đời. Quân đội bệ rạc như ngụy Sài Gòn, IS… cũng không chấp nhận anh lính nào được sống phong tình phóng đãng, gái trai, rượu chè, tứ đốm tam khoanh…. Quân đội không phải là nhà chứa, nhà thổ!
  Quân đội các nước tư bản như Mỹ ngụy trước đây chẳng hạn sau những giờ giao tranh quyết liệt với đối phương họ có thể chở gái điếm các nơi về cho quan lính chơi hoặc đưa lính, sỹ quan đến nghỉ các nhà thổ bãi biển, núi rừng chứ không có mở nhà thổ trong trại lính thì dù lính quý tộc đi nữa cũng không thể có chỗ mà sống phong tình.
Nếu mai đụng độ ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia bớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một giờ vui
(Nguyễn Bắc Sơn – quân dội Sài Gòn )
 Sau phút huy hoàng rồi chập tối ấy họ phải trở về đơn vị chiến đấu!
  Lính Đại Hàn, lính Mỹ đen từng là ổ bệnh lậu, giang mai một thời làm kinh hoàng gái miền Nam Việt Nam cũng chưa dám xưng mình là anh lính phong tình.
 Kẻ phong tình trong đời thực chỉ kể trên đầu ngón tay. Một Lý Thân nhà thơ đời Tống lấy hành viện làm nhà, lấy gái điếm giải quyết tình dục, chết được gái điếm làm ma đưa tang là đặc biệt hiếm. Còn Dong Juan, Mã Giám Sinh chỉ là hình tượng văn học. Kẻ phong tình chỉ thích ăn chơi về gió trăng, về trai gái phải được đời công nhận chứ không phải tự mình tấn phong như Nguyễn Bình Phương –Tôi anh lính phong tình!
     Mã Giám Sinh đâu nhận mình là kẻ phong tình, nhân gian chỉ ra chất nhà thổ của lão đấy chứ:
Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh
Vẫn là một đứa phong tình đã quen
Quá chơi lại gặp hồi đen
Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
Hay:
Mã Quy tôi kẻ rượu chè
Chơi bời nên để miều nghè tan hoang
Cũng vì kiếm bữa cơm xoàng
Gây nên bao nỗi án oan cho người!
(Kiều Thơ – Đỗ Hoàng)
 
  Quân đôi các nước Xã hội Chủ nghĩa, nhất là quân đội nhân dân Việt Nam vấn đề phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của người lính có thể nói tốt nhất thế giới. Họ hy sinh tình dục để hoàn thành công vụ. Bởi thế họ được nhân dân kính trọng, dễ dàng trong thăng tiến quân sự, chính trị, trong hôn nhân tình yêu.
  Nhiều nhà thơ quân đôi nhân dân Việt Nam viết về người lính gác của họ rất chân thật, rất hay:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo!
(Chính Hữu)
Hoặc viết về đề tài binh thường nhưng đặt ra việc muôn đời nêu bật thân phận người lính vừa gian khổ vừa sang trọng với tình yêu cao đẹp chứ không loại phong tình rác rưởi  :
Ác bút đề thi dị
Hạ qua chinh thú nan
Quán tòng uyên bị noãn
Khiếp hưứng Nhạn Môn hàn
Sấu tận khoan y đái
Đề đa tí chẩm đan
Thí lưu thanh đại trước
Hồi nhật họa mi khan!
(Ký gia nhân – Vô danh thơ cổ Trung Quốc)
 
Cầm bút viết thơ dễ
Khó vô cùng cầm gươm
Từng ngủ trong chăn ấm
Cửa Nhạn lạnh thấu xương
Thân gầy đai áo lỏng
Bên gồi lệ như sương
Dành một chút son phấn
Ngày về nàng điểm trang!
(Gửi người nhà – Đỗ Hoàng tạm dịch thơ)
  Còn -  Tôi anh lính phong tình Nguyễn Bình Phương thì sớm bị tước quân tịch đuổi ra khỏi Quân đội nhân dân Việt Nam!
  Thật ra Nguyễn Bình Phương không thể phong tình được như Mã Giám Sinh, Dong Juan, Lý Thân…và những kẻ thời 8x bây giờ, họ đã từng: they fuck two thousand woman – họ từng ngủ 2 000 đàn bà. Nguyễn Bình chưa được một phần nghìn của họ, lấy đâu phong tình, trác táng.
  Nhưng anh không ai khảo mà xưng, tự mình bày giải khối u tình ẩn ức sinh lý thì sẽ bị người đời phê phán. Anh không có như vậy thì lỗi lớn của anh là anh không am hiểu ngôn ngữ tiếng Việt, nhất là âm Hán Việt khi dùng để viết, để nói. Anh lại sính dùng âm Hán Việt (vũ điệu, giao long, tự vấn, phong tình…) nên gây nhiều tai hại  cho thơ.
  Nguyễn Bình Phương phải thực sự cầu thị đi học lại một cách nghiêm túc chương trình tiếng Việt từ cấp một đến cấp 3 (phổ thông trung học), chương trình lớp 2 cấp một  trở lên có học âm Hán Việt, để khi nói khi viết, khi đặt câu cho chính xác, tránh sơ suất như vừa nêu trên! Sau đó rồi hãy làm thơ. Vì làm thơ không phải làm xiếc chữ viết tù mù hỗ lốn uốn éo, kém học như vậy
:
Như quả dục học thi
Công phu tại thi ngoại
(Lục Du)
Nếu con muốn học thơ
Thơ hay ở trong đời)
 
Hà Nội ngày 1 – 12 - 2014
              Đ - H
 
 
Đỗ Hoàng
 
Dịch ra thơ Việt:
 
TÌNH LÍNH BUỔI YÊN
 
Tôi lính mới, con mắt của gió
Bàn tay tôi nối những bàn tay.
Xanh mút mùa màu xanh cây lá
Bồng bềnh ngăn ngắt tận chân mây!
 
Tôi yêu mến xiết bao thời bé
Chạy suốt hè nồng cháy tình thơ
Giờ nhìn núi nghiêng trôi dần nhớ
Người của đất trời vẫn vỗ cánh mơ
 
Trong phiên gác đêm đêm tôi thấy
Trong trắng hồng ảo ảnh có em
Mưa thuở ấy như một người xa lạ
Trong miên man anh hỏi trái tim mình!
 
Hà Nội, ngày 29-11-2014
 HÌNH ẢNH CUỐI CÙNG – Bài Vô lối phi thơ ca của NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG  (*)


Nguyên bản:

http://vannghecuocsong.com/uploads/news/2015_08/a-b-phuong-1.jpg

Nhà thơ Nguyễn Bình Phương
 
HÌNH ẢNH CUỐI CÙNG
 
Những cô gái đến với anh
Rồi lặng lẽ ra đi
Họ mang theo chút buồn làm kỷ niệm
Chỉ còn lại bóng những hàng cây
Anh biết mình dần dần khô cạn
 
Đừng buồn em ơi, người yêu cuối cùng
Sau khoảng trrống là cánh đồng của khói
Ở nơi ấy tiếng chim
Và cùng tận sự trầm ngâm kiếp đá
Vẫn đợi chờ hai ta
 
Em sẽ cầm bàn tay anh khô héo
Băng qua ao hồ, băng qua dải bùn đen
Chậm rải hàng cây về xanh lại
Xanh liên miên…
(*) Bài in trên báo Người Hà Nội năm thứ 30, xuân Ất Mùi, số : 5+6+ 7+8+9 - 2015
 
 
Đỗ Hoàng
 

    Cũngg như Phú Tram-Inrasara - tiếng Việt rất kém, dân tộc Chăm luôn nhờ  Đảng  và Chinh phủ cứu đói, học sinh đi học được ưu tiên cấp sách vở,  thế mà lúc nào Inrasara cũng to tiếng ta là người cách tân tthơ  Việt (!);  Nguyễn Bình Phương là người Kinh nhưng tiếng Viêt cũng không hơn Phú Trạm Inrasara bao nhiêu mà trong cách viết, cách lập ngôn cũng điệu đàng tỏ ra ta đây là ngọn cờ cách tân thơ Việt (!)
   Khát vọng cách tân thơ Việt là điều đáng trân trọng, nhưng cách tân như thế nào, đóng góp cá nhân, đóng góp phong trào, vận hội, thời cơ….ra sao? Không thể tự nắm tóc mình nhảy qua vũng nước(!) Điều này nhiều chuyên luận, tiểu luận tôi đã viết và cũng nhiều người viết.
    Riêng Nguyễn Bình Phương tôi đã viết về tập vô lối phi thơ ca “ Buổi câu hờ hững”, và  dịch ra thơ Việt một vài bài lẻ. Đáng ra không nên mất thì giờ công sức cho một việc vô bổ này, nhưng vì tôi thấy quá nhiều người lăng xê Nguyễn Bình Phương, coi Nguyễn Binh Phương là người cách tân thơ Việt(!) nên tôi phải vào cuộc, phải đi bình một bài vô lối vớ vẩn “Hình ảnh cuối cùng” của Nguyễn Bình Phương  .
  Đây là một bài viết dị dạng thơ không ra thơ, văn không ra văn, phú không ra phú, vè không ra vè…nó là tự sự, của một cán bộ có chức quyền, của một quan tham thời nhũng nhiễu  Nó là loại “vô lối” đang thịnh hành!
  Thế mà Nguyễn Bình Phương được nhiều học giả học thật, tiến sỹ bò lăng xê lên mây xanh, lại được sinh viên chọn làm luận văn Thạc sỹ (!)
 Quay lại với bài “Hình ảnh cuối cùng”. Bài này nó mới ở chỗ nào, nó hay ở chỗ nào, có hình ảnh, ý tứ nào mới, từ dùng nào mới hợp văn cảnh. Sự cách tân thể hiện ở đâu?
Mấy câu mở đầu:
“Những cô gái đến với anh
Rồi lặng lẽ ra đi
Họ mang theo chút buồn làm kỷ niệm
Chỉ còn lại bóng những hàng cây
Anh biết mình dần dần khô cạn….”
 Nếu viết ra câu văn xuôi nó sẽ thế này: “Những cô gái đến với anh, rồi lặng lẽ ra đi. Họ mang theo chút buồn làm kỷ nệm. Chỉ còn lại bóng những hàng cây. Anh biết mình dần dần khô cạn.”
   Một câu kể cụ thể dở hơn cả câu văn xuôi, như một câu nói vo của một tay cán bộ tổ chức hay một tay có quyền lực nhận người và sa thải người. Câu này sao lại nói với người yêu cuối cùng được? Có chàng trai nào nói với người yêu rằng mình đã có rất nhiều đàn bà đi qua mang buồn làm kỷ niệm? Không có tay cán bộ tổ chức hay có chức quyền nào đi kể mình đã có nhiều cô gái đến có chửa và mang nỗi buồn ra đi! Ngay cả vợ chồng, không có ông chồng nào lại đi tâm sự như thế với vợ!
   Tác giả nói vậy đâu có chinh xác. Anh rất võ đoán. Anh có chắc chắn ai cũng mang buồn làm kỷ niệm? Sao anh biết được? Chứng cớ ở đâu? Anh rất chủ quan, anh không hề học tâm lý. Nếu học vui, họ được giải thoát  thì sao? Bởi ‘mắc phải anh như mắc nhành mọ tró, gỡ cho  rồi óc trọ chẳng còn”
Hay:
“Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”
(Hồ Xuân Hương)
 Câu tiêp: “ Chỉ còn lại bóng những hàng cây”. Anh đưa hình ảnh bóng những hàng cây để nói ý gì?  Hay trong số họ đã  cùng anh đi dưới bóng hàng cây để liên hệ công viêc, và làm tình nếu có thể xảy ra,  để bây giờ anh nhớ lại một cách rời rạc, lảnh cảm như vậy?
Câu tiếp: “ Anh biết mình dần dần khô cạn”. Một câu rất đây giải phẩu học. Một câu không mang một ý vị gì thơ ca. Một câu nói của một quan tham thời nay. Tay có chức quyền có thể làm hại nhiều cô gái nhưng trả lại thì thân thể anh ta cũng như Tây Môn Khánh, cũng bị bòn rút hết xương tủy để đến nỗi khô cạn:
“Thương thay yểu điệu phận liễu bồ 
Tay không cũng giết được ngu phu
Không cần dao búa, cần gươm giáo
Khiến vạn anh hủng tuỷ cốt khô”
(Kim Bình Mai)
 Chỉ có Tây Môn Khánh và đám quan tham bây giờ than như vậy!
Và em út của đám ấy cũng than như vậy:
Các bâc thi nhân tiền nhân đã nói rất nhiều và rất thơ về sự chia ly mong chờ, tiếc nuối thất vọng mà là thơ:
“Non cao những ngóng cùng mong
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”
(Tán Đà)
Với người thường chia ly đã đau đớn một, thì thi nhân đau đớn mười:
“Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”
(Hàn Mặc Tử ) 
 
 Viết về trạng huống nay thi nhân cổ kim đều có bao tuyệt tác. :
Các nhà thơ đương đại đã viêt:
“Khi người không yêu ta
Buồn đâu đã một nhẽ.
Khi ta không yêu người
Sao cũng buồn đến thế!
(Anh Ngọc)
Hay sự chia xa mà đẹp:
 
KÝ VIỄN
Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường
Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng
Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
Chí kim tam tải văn dư hương
Hương diệc cánh bất diệt
Nhân diệc cánh bất lai
Tương tư hoàng diệp lạc
Bạch lộ thấp thanh đài
(Lý Bạch)



 GỬI PHƯƠNG XA
 
Khi còn người đẹp nhà đầy hoa
Người đẹp đi rồi còn gối ra
Gối ra, giường đệm không ai cuốn
Ba năm nay hương vẫn thơm đậm đà
Hương thơm thơm mãi mãi
Người xa vẫn vợi vời
Nhớ nhung lá vàng rụng  
Rêu xanh trắng sương rơi!
(Đỗ Hoàng dịch)
 
 
Hay chia xa kỷ niệm làn hương:
 

LES ROSES DE SAADI


Les noeuds ont éclaté. Les roses envolées
Dans le vent, à la mer s'en sont toutes allées;
Elles ont suivi l'eau pour ne plus revenir;
*
La vague en a paru rouge et comme enflammée.
Ce soir, ma robe encore en est tout embaumée...
Respires-en sur moi l'odorant souvenir.

HOA HỒNG CỦA SAADI

Nút dây đã đứt. Từng bông hoa lìa
Bay theo gió cuốn ra biển xa kia
Hoa trôi theo nước khôn mong trở về.
*
Làn sóng đỏ rực nhuộm sắc hoa sinh
Chiều về áo em còn thơm hương lành
Làn hương kỷ niệm, hít vào đi anh!
(Hoàì Anh dịch)
(Marceline Desbordes – Valmore (1786-1859)


Khổ thứ nhất của bài "Hình ảnh cuối cùng" là sự lập luận không chính xác, võ đoán, không hiểu tâm lý, thể hiện một cách khệnh khạng tự bạch sự kiệt quệ thân xác của mình không phải lối. Nó không có một chút gì thi sỹ.
Khổ thứ hai: “Đừng buồn em ơi, người yêu cuối cùng”. Đến đây người đọc mới biết chính xác tác gỉả nói với người yêu cuối cùng của mình. Người yêu cuối cùng chắc cũng tưởng tượng ra vì làm sao biết ai là người yêu cuối cùng, ngay cả người sống trên 100 tuổi!
 Đáng ra người yêu cuối cùng phải nói lời này chứ. Họ tha thứ cho anh những tháng ngày hoang dại  “đừng buồn anh ơi đã có em đây”. Sao mình đã vơ bèo vợt tép nhiều như thế, đã chôn biết mấy cành phù dung mà mình có quyền gì lại khuyên người yêu đoan chính đừng buồn. Sao anh có quyền khuyên người ta như vậy, khi anh là kẻ nhúng chàm.
 Và từ khổ thứ hai về kết là một kiểu nói ông chằng bà chuộc, không đầu không cuối với nhiều mệnh đề, định nghĩa không chính xác, lòng thòng với một kiến thức nông cạn làm dáng, làm duyên, uốn éo, kệch cởm.
“Sau khoảng trống là cánh đồng của khói”
Sau khoảng trống nào? – Khoảng trống rừng cây hay khoảng trống ô cửa, hay khoảng trống trời xanh. Thơ thì có thể không cụ thể nhưng đưa ra mệnh đề phải chính xác, không thể tù mù và không chính xác  như vậy được. Trong toán học đây là phạm trù bao hàm ngoài, còn hang vạn cái bao hàm trong  nữa, kể sao xiết.
Độc giả đã không biết khoảng trống nào, lại càng không biết vì sao sau khoảng trống lại có cánh đồng của khói? Khói nào đây? Sao lại viết vô bổ như thế này nhỉ?
Thế sau khoảng trống có nhiều thứ khác thì sao?
Như:
-          Sau khoảng trống là trùng trùng cột điện cao thế 500klovol
-          Sau khoảng trống là các trung đoàn xe tăng Liên Xô xông lên diệt bầy quân Đức
-          Sau khoảng trống là các cô gái Thái ở truồng tắm suối…
Và tiếp đến : “sự trầm ngâm của đá” . Tự dâng ở đâu đưa sự trầm ngâm của đá vào đây. Vào đây đẻ nói ý gì? Một loạt mệnh đề câu cú rất là viết ở nhà thương Trâu Quỳ (!) 
 Nhà thơ phải biết làm mới chữ, Nguyễn Bình Phương không biết làm chữ mà lại còn lạm dụng chữ cũ làm cho nó càng tối mù hơn.
Câu kết:
“chậm rải hàng cây về làm xanh lại
xanh liên mien…”
 Liên miên là hai chữ Hán phát âm theo âm Hán – Việt và chưa Việt hóa được nhều.
  Người Việt bình thường không biết xanh liên miên là xanh gì?
Tiếng Việt có hàng vạn tính từ  phẩm chất  chỉ xanh:
-          Xanh nguýt, xanh rì, xanh lam, xanh ngọc bích, xanh ngắt, xanh Quàng Trị…
-          “Trời thu xanh ngắt, ơ kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai”
(Thế Lữ)
“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe…”
(Nguyễn Khuyến) 
“Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị
Tận chân trời mây núi có chia đâu”
Chế Lan Viên)
Dùng xanh liên miên khác gì đánh đố người đọc. Trong Hán tự chứ liên có 7 chữ, chữ miên có 5 chữ; mối chữ có từ 3 đên 5, 6 nghĩa. Vậy hai chứ này kết hợp với nhau đã gần 100 nghĩa. Nghĩa đúng của nó là xanh xa vời.
Thế sao tác giả không viết:
“Về xanh lại hàng cây
Xanh xa vợi vời!
Có phải hay và dễ hiểu hơn không.
Còn viết xanh liên miên đến người đọc thông thạo cũng không luận ra đúng xanh liên miên là xanh gì, huống gì người đọc bình thường.
 Nguyễn Bình Phương cũng như nhiều tác giả khác không biết chữ Hán nhưng lại sính dùng chữ Hán để đánh đố bạn đọc mà chính mình không hiểu, một việc làm vô cùng tai hại, không nói là ngu dốt!
 
                                   *
                                  * *
 
    Nguyễn Bình Phương viết không có gì mới về nội dung và nghệ thuật, một thứ Vô lối chính hãng. Một đời viết không có một bài thơ nào cho đời, một đời quân ngũ không có bài thơ nào cho bộ đội, đó là điều rất đáng trách. Nhưng đáng trách và đáng lo hơn khi những bài vô lối của Nguyễn Bình Phương và nhiều người khác được đưa vào sách giáo khoa, (đã đưa một vài tác giả rồi), rồi nhiều người sẽ làm luận án tiến sỹ về “nghệ thuật thơ Nguyễn Bình Phương” thì văn chương đất nước này không nói cũng biết rồi!
  
 
                                 Hà Nội ngày 2 - 8 -2105\
                                                 Đ - H

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

G???ng g???i

Truy??n ng??n c??a ???? Ho??ng                                          H??n th??ng n??y, m??a nh??ng...

Thống kê
  • Đang truy cập13
  • Hôm nay3,514
  • Tháng hiện tại72,341
  • Tổng lượt truy cập6,215,331
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây