Về vụ máy bay quân sự Trung Quốc bỏ trốn sang Liên Xô

Thứ hai - 09/09/2019 09:19
Chiều ngày 25/8/1990, khi tôi đang trực tại Ban Chính trị bộ đội không quân quân khu Đông Bắc thì bỗng nhận được thông báo điện thoại của Sở Chỉ huy cho biết một chiếc máy bay J-6 của đội bay thuộc trung đoàn không quân tỉnh Hắc Long Giang mất tích không lâu sau khi cất cánh vào lúc khoảng 12 giờ trưa. Người lái máy bay là Vương Bảo Ngọc (Wang Baoyu).
Về vụ máy bay quân sự Trung Quốc bỏ trốn sang Liên Xô

Về vụ máy bay quân sự Trung Quốc bỏ trốn sang Liên Xô

Print Friendly, PDF & Email

Shenyang_J-6

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Tường thuật của sĩ quan trực ban

Chiều ngày 25/8/1990, khi tôi đang trực tại Ban Chính trị bộ đội không quân quân khu Đông Bắc thì bỗng nhận được thông báo điện thoại của Sở Chỉ huy cho biết một chiếc máy bay J-6 của đội bay thuộc trung đoàn không quân tỉnh Hắc Long Giang mất tích không lâu sau khi cất cánh vào lúc khoảng 12 giờ trưa. Người lái máy bay là Vương Bảo Ngọc (Wang Baoyu). Qua rà soát trên bầu trời chưa phát hiện bất cứ dấu vết nào, dù là máy bay hay phi công đều không biết kết cục ra sao, hiện đang mở rộng phạm vi tìm kiếm. Đề nghị các đại đội không quân chú ý hướng phát triển của vụ mất tích này, có tin gì lập tức báo ngay lên cấp trên.

Lúc ấy tôi đoán khả năng lớn nhất là xảy ra tai nạn máy bay, bởi lẽ hôm ấy đội bay này tiến hành tập bay tầm thấp kỹ thuật đặc biệt, là một bài tập khó và độ rủi ro lớn, cũng hay xảy ra trục trặc, nếu không cẩn thận có thể xảy ra tai nạn.

Khi tôi báo cáo lại tin nói trên cho thủ trưởng Ban Chính trị, phản ứng đầu tiên của thủ trưởng là e rằng tuyến phòng thủ trên bầu trời có vấn đề gì đó; ông đề nghị tôi lập tức báo cho Phòng Bảo vệ nắm chắc tình hình tuyến phòng thủ, đồng thời xem xét lại hồ sơ lý lịch phi công và làm tốt việc chuẩn bị ứng phó.

An toàn tuyến phòng thủ bầu trời là vấn đề rất nhạy cảm, chẳng ai muốn động chạm nhưng lại không thể né tránh. Giả thiết phi công lái máy bay bỏ trốn có vẻ không hợp lý, vì hiện nay các quốc gia xung quanh Trung Quốc đều không có điều kiện để phi công làm việc này. Quốc gia gần Trung Quốc nhất có Triều Tiên và Hàn Quốc. Triều Tiên là nước bạn hữu hảo, dù trốn sang đấy thì cũng có thể dẫn độ về Trung Quốc. Hàn Quốc hồi ấy tuy chưa lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc nhưng cũng đang xúc tiến việc này. Trước đây từng xảy ra chuyện người Trung Quốc vượt biển trốn sang Hàn Quốc, sau khi hai bên bàn bạc cuối cùng cũng giải quyết ổn thỏa. Như vậy con đường trốn sang Hàn Quốc coi như đã bị bịt kín. Còn nói tới chuyện trốn sang Đài Loan thì máy bay J-6 không đủ lượng xăng để bay xa thế.

Như vậy hướng cuối cùng là Liên Xô, nước ở phía Bắc Trung Quốc. Nhưng từ tháng 5/1989, sau khi Tổng Bí thứ đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev thăm Bắc Kinh, Trung Quốc và Liên Xô đã thực hiện bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Ai có chút đầu óc chính trị đều hiểu rằng Liên Xô chẳng dại gì coi việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao rất khó khăn ấy là trò trẻ con, đánh đồng giá trị một phi công bình thường ngang với lợi ích quốc gia mình. Bởi vậy phần lớn mọi người trong cơ quan tôi đều cho rằng khả năng Vương Bảo Ngọc bỏ trốn là rất thấp, chỉ có thể xảy ra tai nạn gì đó thôi.

Thế nhưng sự việc “không thể” ấy lại đã xảy ra. Ngay tối hôm đó, Thông tấn xã TASS phát đi bản tin nói vào 12 giờ 45 phút chiều hôm nay, một chiếc máy bay quân sự Trung Quốc đã hạ cánh xuống sân bay quân sự Knevchev ở gần Vladivostok, phi công yêu cầu được sang Mỹ tị nạn chính trị.

Lúc bấy giờ chúng tôi mới ngã người xác nhận việc Vương Bảo Ngọc bỏ trốn là sự thực. Cơ quan Không quân Quân khu lập tức khởi động dự án đối phó tình hình khẩn cấp. Một mặt báo cáo ngay lên cấp trên sự kiện chính trị nghiêm trọng này; một mặt Không quân Quân khu thành lập Nhóm công tác tới ngay đơn vị có Vương Bảo Ngọc để điều tra giải quyết vấn đề.

Một vụ “hạ cánh trên Quảng trường Đỏ” nữa chăng?

Sau khi xảy ra vụ đào tẩu nói trên, mọi người bất giác nghĩ ngay tới sự kiện máy bay nước ngoài hạ cánh trên Quảng trường Đỏ ở Moskva ngày 28/5/1987.

Tối hôm ấy một thanh niên Tây Đức mới 19 tuổi tên là Mathias Rust lái chiếc máy bay thể thao hạng nhẹ kiểu Cessna 172B Skyhawk vượt qua hệ thống phòng không của Liên Xô được coi là tốt nhất thế giới, hạ cánh như một trò đùa ngay trên Quảng trường Đỏ, làm cho chính quyền Liên Xô sửng sốt, lúng túng và tức giận.

Theo đánh giá của Mỹ, Liên Xô hồi ấy có 14 nghìn bệ phóng tên lửa phòng không, 10 nghìn giàn ra-đa phòng không và 2.100 máy bay tiêm kích sẵn sàng cất cánh bất cứ lúc nào. Đặc biệt hệ thống phòng không xung quanh thủ đô Moskva lại càng kín kẽ hơn bất cứ ở đâu, một giọt nước cũng không thể lọt vào đây, có thể ngăn chặn được mọi vụ tấn công hạt nhân.

Tháng 5/1960 một chiếc máy bay trinh sát trên cao kiểu U-2 của Mỹ khi bay vào bầu trời Liên Xô từng bị tên lửa Liên Xô bắn hạ. Tháng 8/1983 một máy bay hàng không dân dụng Hàn Quốc kiểu Boeing-747 bay chệch đường vào không phận Liên Xô liền bị máy bay chiến đấu Liên Xô phóng tên lửa bắn rơi.

Thế mà lần này một tay lái máy bay không chuyên mới có lý lịch 40 giờ bay lại dễ dàng chọc thủng lưới phòng không chặt chẽ nhất thế giới của Liên Xô bình yên vô sự hạ cánh giữa trái tim thủ đô Liên Xô – điều đó không thể không làm các nhà lãnh đạo Liên Xô toát mồ hôi. Một nhà bình luận quân sự phương Tây nói: “Chưa từng có sự việc nào làm cho chính quyền Liên Xô bẽ mặt như vụ máy bay hạ cánh tại Quảng trường Đỏ này.”

Ngày 30/5, Bộ Chính trị đảng Cộng sản Liên Xô họp khẩn cấp, ra quyết nghị cách chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh lực lượng phòng không không quân Liên Xô Aleksandr Koldunov; Bộ trưởng Quốc phòng, nguyên soái Sergey Sokolov 75 tuổi cũng bị cho về hưu. Từ sau Thế chiến II, những quyết định như vậy cực kỳ hiếm khi xảy ra tại Liên Xô. Sau đó khoảng hơn 300 sĩ quan bộ đội phòng không bị bãi chức; một số người còn bị bắt giam.

Cùng ngày, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Liên Xô nói Mathias Rust đã xâm phạm bầu trời Liên Xô và do đó bị bắt giam để xét xử. Hôm sau Giám đốc Hãng Thông tấn TASS nói sự kiện Quảng trường Đỏ không ảnh hưởng tới mối quan hệ Liên Xô với CHLB Đức, và nói: “Nên cảm ơn Mathias Rust đã nhắc nhở chúng tôi chú ý tới các lỗ hổng trong hệ thống phòng không”.

Lần này phi công Trung Quốc Vương Bảo Ngọc lái máy bay trốn sang Liên Xô chắc hẳn sẽ làm thế giới ngạc nhiên.

Hôm 25/8/1990, Vương Bảo Ngọc lái máy bay cất cánh bình thường, tiến hành tập bay kỹ xảo ở độ cao thấp. Sau khi tới tọa độ quy định, anh ta ngoặt sang bên phải, bay với độ cao 100 mét được một thời gian thì vượt biên giới. Thoạt tiên Vương định bay thẳng tới sân bay Ugrov của Liên Xô nhưng khi đến nơi mới phát hiện sân bay đang sửa chữa nên không thể hạ cánh. Vương bay tiếp đến sân bay quân sự Knevchev. Do bay cực thấp nên rất tốn xăng, khi đến sân bay này thì thấy xăng đã sắp cạn. May sao đây là sân bay của máy bay ném bom, đường băng vừa rộng vừa dài, Vương liền cho máy bay hạ cánh, lúc ấy là 12 giờ 45. Hạ cánh xong, Vương lái máy bay ra khỏi đường băng ngoặt vào bãi đỗ máy bay, tắt máy rồi mà vẫn chưa thấy phía Liên Xô để ý đến mình. Vì không có thang nên Vương không thể xuống đất, đành mở nắp cửa máy bay để thông gió. Lúc này Vương mới thấy bộ đồ bay ướt đẫm mồ hôi.

Khoảng 10 phút sau thì thấy một binh sĩ Liên Xô tiến lại, Vương bèn giơ tay vẫy, lúc này phía Liên Xô mới chú ý tới chiếc máy bay lạ này. Người lính kia liền quay lại, chắc là về báo cáo cấp trên. Lát sau, một chiếc ô tô chạy đến. Một sĩ quan và mấy binh sĩ xuống xe. Khi xác nhận đây là máy bay Trung Quốc, họ hết sức ngạc nhiên, trố mắt như muốn hỏi: “Sao anh lại có thể bay từ Trung Quốc tới đây được thế?”.

Rồi họ lắp cầu thang, giúp Vương Bảo Ngọc ra khỏi máy bay. Khi có phiên dịch đến, họ biết được ý định của Vương Bảo Ngọc và thấy đây là chuyện lớn, bèn lập tức báo cáo cấp trên. Viên sĩ quan cười gượng gạo nói: “Việc anh đến đây sẽ trở thành một vụ hạ cánh trên Quảng trường Đỏ. Sẽ có không ít sĩ quan chúng tôi bị mất chức vì anh đấy!”

Sự kiện Vương Bảo Ngọc hạ cánh trên sân bay Liên Xô đã gây ra sự kinh hoàng và tác động lớn vượt xa vụ Mathias Rust hạ cánh trên Quảng trường Đỏ. Đó là vì năm xưa khi Mathias Rust bay vào không phận Liên Xô đã bị bộ đội phòng không Liên Xô phát hiện và có phản ứng ngay, còn lần này khác hẳn, tính chất nghiêm trọng thể hiện ở chỗ một chiếc máy bay chiến đấu Trung Quốc dễ dàng hạ cánh xuống sân bay của Liên Xô mà hệ thống phòng không của Liên Xô không có bất cứ phản ứng nào cả. Đồng thời vụ này còn cho thấy phi công quân sự Trung Quốc có kỹ thuật bay rất cao siêu. Sự kiện ngày 25/8/1990 đủ chứng minh “Các lỗ hổng trong hệ thống phòng không của Liên Xô” chẳng những chưa được lấp kín mà đúng là còn lớn hơn trước. Do vụ việc này mà một loạt tướng lĩnh cấp cao của Liên Xô và một số sĩ quan có trách nhiệm trực tiếp đã bị cách chức.

Trong thời gian dài trước khi đào tẩu, Vương Bảo Ngọc giả vờ tỏ ra tiến bộ trong công tác và học tập, thực ra Vương đã bí mật chuẩn bị mọi việc cho ngày trốn chạy. Lợi dụng các dịp huấn luyện và diễn tập, Vương thu thập, ghi nhớ, nghiên cứu kỹ số liệu và đường bay tới sân bay của các nước xung quanh Trung Quốc.

Ngày 25 tháng 8, cuối cùng Vương Bảo Ngọc đã có dịp lợi dụng chuyến bay huấn luyện để thực hiện nguyện vọng của mình. Lúc này Vương đã hạ quyết tâm chạy sang thế giới “tự do” của phương Tây. Trước khi lên máy bay, Vương tặng chiếc đồng hồ đeo tay của mình cho người đồng đội giao máy bay lại cho mình. Anh này là bạn học của Vương ở trường hàng không. Sau đó Vương lên máy bay, cất cánh bình thường. Sau khi đến vùng trời dự định, Vương đột nhiên chuyển hướng bay, tách khỏi biên đội, hạ xuống độ cao cực thấp bay thẳng về phía Vladivostok.

Dẫn độ và ra tòa

Hồi ấy, vì Trung Quốc và Liên Xô đã phục hồi quan hệ ngoại giao bình thường, cho nên sau khi xảy ra vụ Vương Bảo Ngọc lái máy bay bỏ trốn sang Liên Xô, hai nước liền lập tức khởi động trình tự tiếp xúc ngoại giao nhằm giải quyết thỏa đáng sớm nhất vụ rắc rối này bằng con đường ngoại giao.

Ngày 26 tháng 8, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham và người cùng cấp phía Liên Xô là Sevarnatdze đến Khác-bin (thuộc Trung Quốc) gặp nhau bàn bạc khẩn cấp. Hồi ấy Liên Xô đang bức thiết mong muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc, vì thế họ muốn sử dụng vụ này để thể hiện nguyện vọng đó.

Qua bàn bạc, hai bên nhất trí quyết định xử lý vụ này một cách nhẹ nhàng. Phía Liên Xô tích cực ủng hộ và phối hợp giải quyết vấn đề do Trung Quốc nêu ra là dẫn độ người lái máy bay về Trung Quốc. Hai bên đạt được thỏa thuận về việc này. Theo văn bản thỏa thuận đó, phía Trung Quốc sẽ cho một chiếc TU-154 sang sân bay Knevchev dẫn độ Vương Bảo Ngọc về Trung Quốc và đưa chiếc máy bay J-6 (do Vương lái sang Liên Xô) về nước.

Tuy thế, trên các chi tiết cụ thể vẫn có một số rắc rối. Phía Liên Xô cho rằng vì Vương Bảo Ngọc đã nêu yêu cầu tị nạn chính trị, cho nên vấn đề an toàn của Vương trước khi dẫn độ sẽ do phía Liên Xô phụ trách, đồng thời không được để cho Vương Bảo Ngọc biết chút nào về việc sẽ bị dẫn độ về Trung Quốc. Ngoài ra phía Trung Quốc không được bắt giữ Vương khi còn ở trên lãnh thổ Liên Xô.

Hai bên thỏa thuận ranh giới chính thức bàn giao người là cửa khoang chiếc máy bay TU-154 của Trung Quốc; mọi việc bên ngoài cửa máy bay này do phía Liên Xô phụ trách, mọi việc bên trong cửa máy bay không liên quan gì tới phía Liên Xô.

Để bảo đảm việc bàn giao dẫn độ được thuận lợi, phía Liên Xô sẽ nói với Vương Bảo Ngọc là các cơ quan hữu trách của quân đội Liên Xô đang nghiên cứu cách giải quyết yêu cầu của Vương xin tị nạn chính trị ở Mỹ; xét tới tư cách đặc biệt của Vương thì không được giữ Vương ở lại căn cứ quân sự này; để bảo đảm an toàn, quyết định đưa Vương tới một địa điểm khác chờ giải quyết. Do nguyên nhân bảo mật, trong quá trình di chuyển, Vương cần được bịt mắt. Nghe nói vậy, Vương Bảo Ngọc vui vẻ đồng ý.

Riềng về chiếc máy bay J-6, vì Vương Bảo Ngọc hạ cánh một cách cưỡng ép nên thân máy bay bị xước nhẹ, hai tấm cánh giảm tốc không trở về vị trí cũ được, nhưng sân bay này là sân bay của máy bay ném bom, không có cơ sở sửa chữa máy bay. Phía Liên Xô đã cố gắng giúp sửa chữa ngay trên đường băng không có mái che mà không lấy tiền công. Tuy thế cuối cùng vẫn không thể nào làm cho hai tấm cánh giảm tốc trở về vị trí cũ. Phía Trung Quốc cho rằng dù thế nào cũng không thể để máy bay của mình lưu lại trên đất Liên Xô.

Rốt cuộc một trung đoàn phó không quân Trung Quốc quả cảm quyết định tự lái chiếc máy bay J-6 có hai cánh giảm tốc mở này về Trung Quốc. Cho dù giả thử bay không tới được nơi cần tới mà bất đắc dĩ phải bỏ máy bay rơi trên đất Trung Quốc cũng được chứ nhất thiết không được để lại trên đất Liên Xô. Vì đây là chuyện liên quan tới sự tôn nghiêm của không quân Trung Quốc, nhất là sự tôn nghiêm của một quốc gia có chủ quyền.

Rốt cuộc, với tay lái điệu nghệ và ý chí quả cảm, vị trung đoàn phó này đã lái chiếc máy bay trục trặc ấy về tới Trung Quốc.

Riêng về Vương Bảo Ngọc, sau khi dẫn độ về nước liền lập tức bị khai trừ đảng tịch, quân tịch. Sau đó tòa án binh không quân xét xử, khép Vương vào án tử hình vì tội phản bội tổ quốc, được hoãn hai năm thi hành án, tước đoạt quyền lợi chính trị suốt đời.

Ít lâu sau, bộ đội không quân Trung Quốc đã thông qua vụ việc nói trên tiến hành một đợt giáo dục toàn quân, đồng thời đặt ra một loạt quy chế liên quan, từ đó trở đi đã chặn đứng khả năng xảy ra vụ việc tương tự. Bởi thế, có thể coi vụ Vương Bảo Ngọc là vụ lái máy bay đào tẩu cuối cùng trong lịch sử nước CHND Trung Hoa.

Nguyễn Hải Hoành dịch theo tài liệu Trung Quốc
 

Câu chuyện về những phụ nữ chiến đấu cho Hà Nội

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Elizabeth D. Herman, “The Women Who Fought for Hanoi”, The New York Times, 06/06/2017.

Biên dịch: Minh Châu | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Ba mươi sáu năm sau lần cuối cùng nhắm bắn với khẩu AK-47, điện thoại của bà Ngô Thị Thương đổ chuông.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tổng tư lệnh quân đội Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh, đã tìm kiếm người phụ nữ Việt Nam đã bắn hạ một máy bay ném bom của Mỹ vào tháng 6 năm 1968. Gần bốn thập niên trôi qua, người phụ nữ ấy đã trải qua biết bao công việc và nuôi ba đứa con khôn lớn. Chỉ có một số người bên ngoài gia đình từng được nghe những câu chuyện thời chiến của bà.

Những nữ anh hùng hay những nữ chiến binh không phải là mới ở Việt Nam – họ đã là những nhân vật quan trọng của lịch sử Việt Nam từ hàng nghìn năm nay. Vào thế kỷ I sau Công nguyên, Hai Bà Trưng, thường được coi là những nhà yêu nước đầu tiên của Việt Nam, đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy kéo dài ba năm nhằm chống lại nhà Hán của Trung Quốc vốn đang trị vì đất nước của họ. Di sản của các vị nữ anh hùng vẫn còn tồn tại đến tận kỉ nguyên hiện đại; trong tất cả những cuộc xung đột hiện đại của Việt Nam, phụ nữ luôn đóng một vai trò quan trọng. Họ chiến đấu bên cạnh những người đàn ông và vận chuyển hàng tiếp tế dọc đường mòn Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, như nhà sử học Karen G. Turner viết trong cuốn “Even the Women Must Fight”: “Những chiến binh nữ là cốt lõi đối với lịch sử lâu dài của Việt Nam và là phần quan trọng trong cuộc chiến tranh được ghi lại bằng hình ảnh nhiều nhất trong lịch sử, nhưng họ vẫn vô hình.”

Dưới đây là câu chuyện của những người phụ nữ từng là những người lính chiến đấu cho Quân đội Bắc Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Hầu hết trong số họ còn rất trẻ khi tham gia quân ngũ – chỉ ở độ tuổi thanh thiếu niên hay vừa ra trường, hoặc quá nghèo không thể đi học. Một vài người đã chứng kiến chiến tranh nhưng không hề tưởng tượng được trải nghiệm thực tế lần này sẽ như thế nào. Vài người đã là mẹ của những đứa trẻ trước khi chiến đấu, trong khi nhiều người khác đến tận khi về nhà sau chiến tranh mới lập gia đình.

Những trải nghiệm của họ đã định hình nên phần còn lại của cuộc đời họ và con cháu họ – những đứa trẻ được chăm sóc và nuôi dưỡng trở thành thế hệ người Việt Nam kế tiếp, những người giúp tạo nên bộ mặt đất nước những năm sau chiến tranh. Chính qua những câu chuyện của những người phụ nữ này, chúng ta có thể hiểu được làm thế nào một quốc gia bị tàn phá vì xung đột trong nhiều thập niên đã xây dựng lại chính mình, hay một cái nhìn thoáng qua về những kí ức của những người đã từng cống hiến để nuôi dưỡng đất nước này – và bản thân họ – để cố gắng được trở nên trọn vẹn một lần nữa.

Lê Thị Mỹ Lệ

Tôi được sinh ra năm 1946, bên dòng sông Nhật Lệ, cách Huế 150km. Đó là lí do vì sao tôi tên là Mỹ Lệ. Nó có nghĩa là “Xinh đẹp”.

Tháng 7 năm 1965, tôi nghe theo lời kêu gọi của Chính phủ cần thêm thanh niên xung phong vì chiến tranh ngày càng khốc liệt. Tôi rất muốn làm thanh niên xung phong nên đăng ký. Họ đã nhận dù tôi còn trẻ.

Đại đội thanh niên xung phong của tôi có khoảng 200 người, 2/3 trong số đó là nữ. Tôi phụ trách một đơn vị 10 người, chỉ có tôi là nữ. Khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc năm 1968, tôi đã lập gia đình. Sau đó, tôi quay lại chiến trường.

Tôi sinh con gái đầu lòng năm 1971. Có con thời chiến rất vất vả – cảm xúc của tôi sau khi có con cũng có nhiều thay đổi. Trước khi làm mẹ, tôi không sợ gì nhưng khi có con, tôi sợ chết. Tôi có thêm hai cháu: một cháu trai năm 1973 và một cháu nữa năm 1975. Khi sinh đứa út, tôi nói với chồng, “Chiến tranh giờ đã kết thúc rồi, mình ạ, nên anh sẽ không phải hi sinh nữa”, và tôi đặt tên con là Đại Thắng. Chồng tôi là sĩ quan chuyên nghiệp nên đóng quân ở đảo Cồn Cỏ sau chiến tranh và sống xa nhà đến khi nghỉ hưu vào năm 1988.

Nuôi con một mình thực sự rất cực và tôi không thể diễn tả thành lời rằng việc đó khó như thế nào. Khi ra trận, ai cũng gặp nguy hiểm và có thể hi sinh bất cứ lúc nào. Nhưng nuôi con một mình còn khó hơn. Đôi khi tôi chỉ biết ngồi khóc. Thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ về chiến tranh. Tôi mơ thấy bom nổ và ra lệnh cho đồng đội nằm xuống. Tôi mơ thấy nhiều thứ, thấy 8/10 người trong đơn vị bị thương hoặc chết ngay lập tức. Chiến tranh thật tàn nhẫn. Khi có chiến tranh, mọi người và gia đình bị ly tán – giữa chồng và  vợ, giữa bố mẹ và con cái. Tôi ước sao không có chiến tranh trên thế giới, chúng ta có thể giúp nhau thay vì đánh nhau. Đó là thông điệp của tôi. Tôi muốn hòa bình.

Nguyễn Thị Hoa

Chiến tranh thật khủng khiếp – đặc biệt là bởi sự tàn ác của lính Mỹ. Chẳng hạn, một lần lính Mỹ vào làng và thấy một phụ nữ có bầu mà họ cho rằng có quan hệ với bộ đội, chúng đổ xà phòng và tương ớt vào miệng cô ấy, rồi đứng lên bụng cô ấy cho đến khi đứa bé tuột ra.

Khi đó tôi mới 15 tuổi. Tôi biết người phụ nữ và đứa bé trong bụng cô ấy chẳng liên quan gì đến chiến tranh. Khi tôi nghe chuyện và tận mắt chứng kiến sự tàn ác của lính Mỹ, tôi căm thù chúng. Vì tôi độc thân và mới 15 tuổi, tôi nghĩ: “Nếu tôi hi sinh, nếu tôi chết, thì điều đó còn dễ dàng hơn so với việc kết hôn và có con”. Vì vậy, tôi vào bộ đội.

Sự hi sinh của một người phụ nữ chỉ giống như một hạt cát. Nhưng nhiều phụ nữ, nhiều hạt cát, có thể góp rất nhiều và những đóng góp đó có thể giúp Tổ quốc. Theo truyền thống văn hóa Việt Nam, phụ nữ tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Thậm chí, sau khi kết hôn, dù nhà chồng nói gì họ cũng phải nghe theo, mặc dù đôi khi họ bị đối xử tàn tệ và bị đánh. Là phụ nữ, nghĩa là hoàn toàn phụ thuộc vào những người khác.

Từ khi còn trẻ, tôi đã biết mình phải tìm cách thoát khỏi sự đè nén đó. Và cách duy nhất chính là đi theo Cách mạng. Chiến tranh đã thay đổi vị thế của người phụ nữ trong xã hội. Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, đất nước đã cố gắng xây dựng những chuẩn mực mới cho phụ nữ. Chúng tôi gọi đó là Phụ nữ Thời đại mới; họ thủy chung với gia đình, nhưng cũng có cơ hội học tập và thành công. Bây giờ, chúng tôi vừa có thể góp sức xây dựng xã hội và vừa có thể chăm sóc con cái. Chiến tranh đã làm tôi trở thành một người mẹ tốt hơn, chiến tranh đã dạy tôi cách nuôi con – như một phụ nữ được giải phóng.

Ngô Thị Thương

Tôi là một du kích ở miền Bắc Việt Nam, đó là công việc rất quan trọng. Chúng tôi tải gạo, vũ khí và đạn dược cho bộ đội miền Nam. Vào một ngày tháng 6 năm 1968, khi đang tải hàng, ba máy bay Mỹ phát hiện ra chúng tôi và bắt đầu bắn. Chúng tôi lấy súng và bắn trả. Phát thứ nhất không trúng máy bay. Vì vậy, tôi nằm xuống, gác súng lên cây và ngắm bắn. Tôi bắn phát thứ hai trúng thùng xăng, cả máy bay phát nổ và đâm xuống ngọn đồi cạnh đó.

Khi thấy có gì đó từ trên trời rơi xuống, tôi nghĩ đó là bom nhưng thực ra là phi công nhảy dù. Thế là tôi chạy theo dù. Khi phi công tiếp đất, anh ta chưa tháo hết một bên dù, tôi đã áp sát và đặt súng lên bên phải cổ anh ta và nói: “Đứng yên”. Anh ta giơ tay lên, tôi bảo đồng đội cắt dây dù để có dây trói anh ta.

Ba mươi sáu năm sau, một cán bộ Trung ương gọi cho tôi: “Chị làm gì trong chiến tranh, có đạt thành tích nào không?” Sau khi nghe tôi kể chuyện, ông ấy nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tìm tôi ba mươi sáu năm qua. Khi tôi gặp Đại tướng, ông hỏi: “Sao cô giỏi vậy?” và tôi trả lời: “Đó là may mắn, cháu chỉ theo hướng dẫn đã được dạy thôi”.

Dĩ nhiên không ai muốn chiến tranh cả. Sinh mệnh con người là thiêng liêng. Không ai muốn chiến tranh, không ai muốn chiến đấu nhưng khi quân thù đến, không có sự lựa chọn nào khác cả. Chúng tôi phải bảo vệ Tổ quốc, phải bảo vệ cuộc sống của đồng bào.

Hoàng Thị Nở

Tôi sinh năm 1949 ở ngoại thành Huế, nơi tôi sống cùng với ba mẹ. Tôi tham gia chiến tranh khi mới khoảng 15 tuổi. Ở tuổi đó, tôi có thể hiểu, có thể thấy người Mỹ đến và cố gắng kiểm soát và xâm chiếm đất nước tôi. Lúc đó, nam hay nữ đều tham gia chiến đấu, vì vậy, tôi cũng muốn tham gia.

Ban đầu, tôi gia nhập nhóm thu thập tin tức. Chúng tôi đi lòng vòng, xem người Mỹ làm gì rồi gửi tin cho lãnh đạo. Một thời gian ngắn sau đó, tôi tham gia đội vận động các phụ nữ khác tham gia kháng chiến. Ở thời điểm đó, chúng tôi còn rất trẻ và không thực sự hiểu chiến tranh là gì và những kế hoạch về nó. Chúng tôi chỉ tin vào Chính phủ, tin rằng mọi thứ rồi sẽ ổn. Nếu chúng tôi có bất kì vấn đề gì, dù chúng tôi không biết kế hoạch tổng thể hay các bước kế tiếp, chúng tôi vẫn luôn hạnh phúc vì được chiến đấu cho Tổ quốc. Chúng tôi sẵn sàng hi sinh.

Đã có rất nhiều khó khăn. Mọi người đều nghèo nhưng yêu thương và tin tưởng nhau. Bây giờ chúng tôi có tự do, cuộc sống cũng dễ dàng hơn nhưng tiền lại kiểm soát nhiều thứ. Vì vậy, khi tôi nói với các con gái về chiến tranh, tôi kể cho các cháu thế nào là tình yêu và lòng tin vào người khác. Tôi kể về việc mọi người tuân theo luật pháp và các qui định của Chính phủ như thế nào.

Nguyễn Thị Hiệp

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập12
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm11
  • Hôm nay5,316
  • Tháng hiện tại173,761
  • Tổng lượt truy cập3,486,605
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây