Lý Nhuệ - Thư ký Mao

Thứ tư - 04/09/2019 04:38
Đó là một giấy mời mà Lý Nhuệ (Li Rui) không thể bỏ qua. Ông cũng không muốn làm vậy. Khi Mao Trạch Đông gửi một chiếc máy bay tới đón ông đến dự một cuộc gặp riêng lần đầu tiên giữa hai người vào năm 1958, ông mới 41 tuổi và đang lên nhanh. Vị trí thứ trưởng thủy lợi và thủy điện khiến ông trở thành
Lý Nhuệ - Thư ký Mao

Lý Nhuệ: Thư ký Mao Trạch Đông, người phê bình Đảng CSTQ

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Obituary: Li Rui died on February 16th”, The Economist, 02/03/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

Đó là một giấy mời mà Lý Nhuệ (Li Rui) không thể bỏ qua. Ông cũng không muốn làm vậy. Khi Mao Trạch Đông gửi một chiếc máy bay tới đón ông đến dự một cuộc gặp riêng lần đầu tiên giữa hai người vào năm 1958, ông mới 41 tuổi và đang lên nhanh. Vị trí thứ trưởng thủy lợi và thủy điện khiến ông trở thành thứ trưởng trẻ nhất trong chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa còn non trẻ.

Nhưng cũng như lần trước, sự nghi ngờ vẫn phảng phất. Nỗ lực lần trước của ông nhằm tham gia cùng Mao là một kỷ niệm chua chát. Sau khi vất vả trường chinh cuối những năm 1930 từ quê nhà Hồ Nam tới Diên An, thành trì kháng chiến của Mao, ông đã bắt đầu viết các bài xã luận trên tờ Giải phóng của cách mạng.

Nhưng những bài viết này quá sắc nhọn chỉ trích cả hai phe (tên “Nhuệ” của ông có nghĩa là tinh nhuệ, am tường, và ông đã thể hiện được phẩm chất đó), nên ông đã bị tống vào tù vì tội gián điệp, cần “chỉnh huấn”. Mẹ ông đã nói với ông trong nước mắt khi ông rời khỏi nhà rằng “Cộng sản rất tốt, nhưng con có thể bị giết”. Hoặc, rõ ràng, ông đã bị vứt qua một bên.

Bây giờ Mao là chủ tịch nước, và ông được gọi lên để thảo luận về đập Tam Hiệp, một dự án thủy điện khổng lồ được đề xuất xây trên sông Dương Tử. Ông và Mao không có chung quan điểm về dự án này. Là một kỹ sư được đào tạo bài bản, ông đã phản đối một cách quyết liệt, trong khi Mao trong một bài thơ đã tưởng tượng mình đang bơi trong bóng râm của bờ đập, chiêm ngưỡng những “bức tường đá” và mặt hồ tĩnh lặng. Nhưng, kỳ lạ thay, Mao lại thích cách ông tranh luận; và dường như cũng thích con người ông, mặc dù, là một nông dân, Mao ghét các nhà trí thức. Rồi Mao yêu cầu ông làm thư ký riêng phụ trách các vấn đề công nghiệp.

Nhiệm vụ đó chỉ kéo dài một năm. Mao không chấp nhận ý kiến bất đồng nào, khăng khăng đòi kiểm soát tâm trí của mọi người; ông thường tự nhận là hiện thân pha trộn giữa Marx và Tần Thủy Hoàng, một lãnh chúa tàn bạo giúp thống nhất Trung Quốc thời cổ đại. Vị thư ký mới của Mao là kiểu người nói thẳng, ông đã sớm bị thanh trừng vì dám chỉ trích công khai Đại nhảy vọt, thảm họa kinh tế khổng lồ khiến Trung Quốc rơi vào nạn đói khủng khiếp. Sau đó, ông phải ở tù và bị lưu đày tới vùng núi phía bắc trong suốt 20 năm tươi đẹp nhất của cuộc đời. Nhưng sự gần gũi ngắn ngủi đó với Người cầm lái vĩ đại hút thuốc lá như tàu hỏa đó đã giúp ông có được hiểu biết sâu sắc về Mao. Nó cũng cho ông một chỗ đứng trong đảng, để khi thời thế tĩnh lặng hơn, cho phép ông khuyến khích các nhà lãnh đạo khác từ bỏ phương pháp Maoist. Chừng nào đảng còn dung dưỡng chế độ chuyên chế, khi chính phủ, lãnh đạo và hệ tư tưởng vẫn là một lực lượng không bị kiểm soát, thì Trung Quốc sẽ không bao giờ có thể cải cách hoặc tiến lên một cách thực thụ.

Cuối cùng, ông đã viết năm cuốn sách về Mao, từ khi sinh ra cho đến khi chết, biến mình thành một nhà sử học có giá trị trong những năm tháng đó. Tuy nhiên, mục đích của lịch sử là giúp người ra rút ra các bài học và đối mặt với nó, nhưng đảng sẽ không làm vậy. Tất cả các nhà lãnh đạo, kể từ Đặng Tiểu Bình trở đi, đều đối mặt với các ý kiến và yêu cầu của ông. Chúng thường được viết tại “tổng hành dinh” của ông, một phòng làm việc ken đầy sách và nơi ông giận dữ xua đuổi bất cứ ai muốn quay phim những gì ông đang viết. Đôi khi chúng được thể hiện dưới dạng thư ngỏ, đôi khi là các phát biểu tại các kỳ đại hội Đảng. Ông thậm chí đã lên tiếng chỉ trích sự kiện Thiên An Môn, vụ thảm sát vốn là đề tài cấm kỵ, tuyên bố một cách đơn giản nhưng dứt khoát rằng các sinh viên đã đúng và lãnh đạo Đảng đã sai. Là “một đảng viên kỳ cựu có tư tưởng tự do”, ông thường gặp phải sự im lặng, hoặc đôi khi vờ được ghi nhận để rồi bị phớt lờ. Ông đã chọc ngoáy ngay cả Tập Cận Bình trong một bữa tối khi nhà lãnh đạo tương lai mới là bí thư đảng ủy ở Chiết Giang, coi Tập như là một anh chàng học thức kém, không là gì so với người cha đáng ngưỡng mộ của Tập. Ông kinh hoàng khi chứng kiến Tập trở nên độc đoán như thế nào một khi lên nắm quyền.

Danh sách những mong muốn chính trị của ông không dài. Đầu tiên là tự do ngôn luận: đảng phải lắng nghe mọi người. Thứ hai, tự do xuất bản. Ông đã từng là một nhà báo điều tra đáng nể, cũng đồng thời là một nhà văn; nhưng các cuốn sách về Mao của ông đã bị cấm ở đại lục, và tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu (Yanhuang Chunqiu) mà ông ủng hộ mạnh mẽ trong việc đánh giá lại một cách không chính thức lịch sử Trung Quốc, đã bị đình bản và vị tổng biên tập thì bị cách chức. Quan trọng nhất là ông tìm kiếm nền cai trị dựa theo hiến pháp và dân chủ, trong đó Đảng chỉ là một đảng xã hội theo phong cách Tây Âu. Ý nghĩ đó quá mang tính lật đổ, quá phi-Trung Quốc, nên đến năm 2013 nó đã chính thức bị lên án, dù một cách bí mật. Nhưng một người đàn ông đã trải qua chín năm cô độc vì ý kiến phản biện của mình, biết luyện khí công và viết 400 bài thơ bằng thuốc tím sát trùng bên lề các trước tác của Marx sẽ không bao giờ bị đe dọa bởi điều đó. Đúng như tên gọi của mình, ông vẫn sắc sảo, gai nhọn.

Màu đỏ

Vẫn là những câu hỏi đó, cần phải làm gì với Đảng Cộng sản Trung Quốc, và Đảng sẽ trở thành như thế nào? Những câu hỏi đó vẫn thường trực trên miệng ông ngay cả trong những ngày cuối cùng, khi ông nằm trong một bệnh viện hạng nhất dành riêng cho các quan chức của đảng. Bởi ông chưa bao giờ bỏ Đảng, hay thậm chí là nghĩ tới điều đó. Đảng là cuộc sống của ông, kể từ khi ông vào Đảng một cách bí mật vào năm 1937 khi ông mới 20; kể từ khi còn là sinh viên và bị Quốc dân Đảng bỏ tù vì háo hức dúi vào tay mọi người những cuốn sách giáo khoa về chủ nghĩa Marx. Mao đã trục xuất ông, và, nhân danh đảng, phá hủy cuộc hôn nhân đầu tiên của ông và gần như giết chết ông; nhưng cái đảng tư duy tập thể với những cuốn sách đỏ và khăn quàng đỏ đó không chỉ là một tổ chức mà ông vội vàng đón nhận trong tư cách một thanh niên trẻ yêu nước, khẩn thiết muốn đưa Trung Quốc thoát khỏi các lãnh chúa và quân xâm lược Nhật Bản. Khi ông được phục hồi dưới thời Đặng Tiểu Bình vào những năm 1980, ông hy vọng sẽ có một chính đảng của tình huynh đệ, công bằng xã hội, cũng như tự do. Nhưng thay vào đó, như ông đã viết trong một bài thơ, ông chỉ tìm thấy sự kiêu ngạo, thiếu hiểu biết, vô liêm sỉ, vô luật pháp. Ông mặc đồ đỏ – như chỉ dấu của lòng trung thành – nhưng ông đã trở nên chán ghét chính màu đỏ đó. Mọi thứ đều đỏ, đỏ, và đỏ.

Màu đỏ sẽ là màu của lá cờ phủ trên quan tài ông một khi ông nằm trong đó. Điều đó, cũng như việc ông được chôn cất tại Nghĩa trang Bát Bảo Sơn dành cho các nhà cách mạng ở Bắc Kinh, là những đặc quyền dành cho ông với tư cách là một đảng viên lão thành. Khi được hỏi liệu ông có muốn điều đó không, ông chỉ nói rằng ông muốn được chôn cất cùng bố mẹ ông ở Hồ Nam. Ông cảm thấy có lỗi vì đã không thể chăm sóc được mẹ mình khi bà về già. Nó khiến ông thở dài khi nhớ lại những lời đơn giản xưa kia của bà, rằng “Cộng sản rất tốt”.

Đám tang ông diễn ra đúng như Đảng muốn. Không có cơ quan truyền thông nào được phép đưa tin. Ông Tập, giờ đã gỡ được cái gai khó chịu nhất của mình, đã gửi tới đám tang ông một vòng hoa đẹp.
 

Tương lai Đài Loan sau bữa tối giữa Tập và Mã

Print Friendly, PDF & Email

maxi

Nguồn: Chris Patten, “A Chinese Dinner for Two”, Project Syndicate, 10/11/2015.

Biên dịch: Trần Văn Thắng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Một lượng nước lớn đã chảy qua eo biển Đài Loan trong 70 năm qua kể từ khi nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc là Mao Trạch Đông gặp gỡ Tưởng Giới Thạch – thủ lĩnh Quốc Dân Đảng đối lập. Do đó cuộc gặp gần đây ở Singapore giữa những người kế thừa của họ: Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và người đồng nhiệm Đài Loan Mã Anh Cửu có thể đáng được miêu tả là một sự kiện mang tính lịch sử.

Cuộc đàm phán ngoại giao diễn ra trước cuộc gặp này rất phức tạp, thậm chí bao gồm cả việc ai nên trả tiền cho bữa tối (họ đã chia tiền hóa đơn). Tuy nhiên, sau cuộc gặp ngắn đằng sau những cánh cửa khép kín đã không có một tuyên bố chung nào được đưa ra và chỉ có một bài tường thuật được rà soát kỹ lưỡng về cuộc gặp được phát trên các phương tiện truyền thông nhà nước của Trung Quốc. Vậy tại sao cuộc gặp này diễn ra và nó báo trước điều gì?

Kể từ khi những người Cộng sản của ông Mao giành chiến thắng trong cuộc nội chiến (cuộc chiến mà cuộc gặp cuối cùng giữa hai đảng năm 1945 nỗ lực ngăn chặn) và lực lượng Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch rút về Đài Loan, quan hệ giữa hai bên vẫn âm ỉ nóng mà chưa bao giờ thực sự bắt lửa. Mối quan hệ tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và giới lãnh đạo Quốc dân Đảng không hề mất đi, và Hoa Kỳ đã trao cho Đài Loan những đảm bảo về mặt quân sự nhằm ngăn cản Trung Quốc cố gắng thống nhất hòn đảo này với đại lục bằng vũ lực.

Các cuộc phiêu lưu của ông Mao trên bán đảo Triều Tiên nhằm ủng hộ Bắc Triều Tiên chống Nam Triều Tiên và các đồng minh phương Tây của nó đã giúp củng cố trục quan hệ Washington – Đài Bắc; và nhờ một số động thái ngoại giao khéo léo, trục quan hệ này đã tiếp tục tồn tại bất chấp chính sách cải thiện quan hệ với Trung Quốc vào đầu những năm 1970 của Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Hoa Kỳ đã công nhận những người cộng sản ở Bắc Kinh là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc, đồng thời giúp duy trì Đài Loan trong một tình trạng lấp lửng về chủ quyền và địa vị một quốc gia độc lập. Hòn đảo này vận hành công việc riêng của mình, trở thành một nền dân chủ năng động trong những năm 1980, nhưng không bao giờ nhất quyết đòi được quốc tế công nhận là một nhà nước có chủ quyền đầy đủ.

Với những nhà cầm quyền của Trung Quốc, Đài Loan là một “tỉnh nổi loạn” và Trung Quốc kiên quyết không quan hệ ngoại giao với những thành viên của cộng đồng quốc tế cố gắng coi Đài Loan là một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, trong quá trình đó cũng có một sự công nhận trên thực tiễn, đặc biệt là về mặt kinh tế.

Người ta nhớ về năm 1989 vì các vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn. Nhưng vào tháng Năm và tháng Sáu, các bộ trưởng trong đó có tôi đã bay tới Bắc Kinh để tham dự một sự kiện mà dường như đối với tất cả chúng tôi là một cơ hội tích cực và thực sự mang tính lịch sử. Trung Quốc đã lần đầu tiên cho phép Đài Loan tham dự cuộc họp thường niên của Ban Quản trị Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), miễn là nó được gọi bằng cái tên “Đài Bắc, Trung Quốc”.

Vài năm sau, khi tôi là một ủy viên của Liên minh châu Âu (EU), sau khi đàm phán việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Đài Loan, chúng tôi muốn thiết lập một văn phòng EU tại Đài Bắc để theo dõi sự tuân thủ các quy tắc WTO của hòn đảo này. Trước khi làm như vậy, tôi đã nhấn mạnh với chính phủ Trung Quốc rằng những gì chúng tôi đang làm chỉ là mở một cơ quan thương mại chứ không phải là một đại sứ quán.

Đối với cả Trung Quốc và Đài Loan, tiền có sức hút, và nền kinh tế của hai bờ hiện nay được liên kết chặt chẽ, với nhiều người Đài Loan sống và làm việc tại Trung Quốc (đặc biệt ở khu vực Thượng Hải) và các khoản đầu tư rất lớn của Đài Loan vào ngành chế tạo của Trung Quốc. Foxconn của Đài Loan, nhà sản xuất thiết bị điện tử lớn nhất thế giới (bao gồm các thiết bị Blackberry, iPhone, và Kindle), có 12 nhà máy ở Trung Quốc, trong đó một nhà máy ở Thâm Quyến sử dụng hàng trăm ngàn lao động.

Tuy nhiên, mặc dù nền chính trị Đài Loan bị chi phối một cách tự nhiên bởi mối quan hệ của hòn đảo này với đại lục, thực tế quan hệ thương mại sâu sắc giữa Trung Quốc và Đài Loan đã không có sự tương ứng về mặt ngoại giao. Quốc Dân Đảng muốn cải thiện quan hệ mà không từ bỏ sự độc lập của Đài Loan. Đối thủ của nó, Đảng Dân Tiến, lại muốn đạt được một tư thế tự chủ hơn, mặc dù khả năng đảng này có thực sự muốn bất cứ điều gì thực chất tới mức làm Trung Quốc tức giận vẫn là không chắc chắn.

Một cuộc khảo sát ba năm trước đây cho thấy rằng 80% trong tổng số 25 triệu người dân Đài Loan sẽ ủng hộ một tuyên bố độc lập chính thức, miễn là điều này không dẫn đến một cuộc xâm lược của Trung Quốc. Đó là một tỉ lệ khá lớn. Trung Quốc thường xuyên cảnh báo Đài Loan không được tiến hành bất kỳ hành động nào liều lĩnh như vậy, và Hoa Kỳ cũng gây sức ép lên các nhà lãnh đạo của hòn đảo bất cứ khi nào họ có vẻ trở nên quá xem thường đại lục.

Dường như có hai lý do cho cuộc gặp giữa ông Tập và ông Mã. Đầu tiên, họ lo lắng rằng Quốc Dân Đảng, vốn đã thất bại thảm hại trong các cuộc bầu cử địa phương năm ngoái, sẽ tiếp tục thất bại trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng Một (năm 2016). Cả hai hy vọng rằng việc thể hiện Trung Quốc và Đài Loan có thể hòa thuận với nhau mà không gặp quá nhiều rắc rối sẽ mang lại lợi thế bầu cử cho Quốc dân Đảng.

Ngoài ra, tại thời điểm khi mà nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển chậm lại và những căng thẳng trong khu vực đang tăng lên do Trung Quốc đang khoa trương cơ bắp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông, ông Tập có vẻ háo hức muốn thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình của mình. Sau khi làm nhiều nước láng giềng chứ không chỉ người Mỹ bất an, chuyến thăm của ông đến Việt Nam và chuyến thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường tới Hàn Quốc là một phần tương tự với chính sách ngoại giao “ăn tối” với ông Mã.

Những dự định thực sự và về dài hạn của Trung Quốc không hoàn toàn rõ ràng, và có lẽ đó là một phần trong chiến lược của nước này: Những tín hiệu không rõ ràng đóng một vai trò quan trọng trong ngoại giao. Nhưng có hai điều rõ ràng.

Trước hết, sáng kiến của ông Tập thể hiện mức độ mà ông chi phối nền chính trị Trung Quốc. Một nhà lãnh đạo yếu hơn có thể đã không tiến hành một bước đi nhiều tham vọng như vậy, điều cho thấy một sự đột phá khỏi tư duy chính thống của Đảng Cộng sản trước đây.

Thứ hai, việc tái thống nhất hòa bình giữa đại lục và Đài Loan vẫn sẽ không xảy ra trừ phi diễn ra trên cơ sở “một nhà nước, hai chế độ” như Trung Quốc tiếp tục hứa hẹn. Tuy nhiên, người Đài Loan không thể an tâm trước những điều mà họ chứng kiến ngày nay ở Hồng Kông, nơi từng được hứa hẹn điều tương tự trước khi trở về với Trung Quốc đại lục năm 1997.

Hệ thống của Đài Loan là dân chủ, còn của Trung Quốc thì không như vậy. Điều mà trường hợp của Hồng Kông cho thấy là Trung Quốc sẽ phải ép Đài Loan từ bỏ dân chủ và pháp quyền – hoặc tự mình theo đuổi cả hai điều đó – trước khi nước này có thể chào đón “tỉnh nổi loạn” của mình trở về với đại gia đình.

Chris Patten, Thống đốc cuối cùng của Anh tại Hồng Kông và là cựu ủy viên của EU về đối ngoại, là Hiệu trưởng của Đại học Oxford.

Quan hệ Việt-Mỹ: Ý nghĩa chính trị của vũ khí sát thương

Print Friendly, PDF & Email

may_bay_trinh_sat_P3C_Orion

Tác giả: Trương-Minh Vũ & Ngô Di Lân

Quá trình thiết lập mối quan hệ đối tác quân sự “ngầm” giữa Việt Nam và Mỹ đã đạt được một bước tiến quan trọng. Trong chuyến thăm Washington mới đây của Phó thủ tướng Phạm Bình Minh, chính phủ Hoa Kỳ cuối cùng đã đồng ý gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam vì lý do an ninh hàng hải.

Bước tiến này cho thấy rằng cả hai bên đã vượt qua nhiều rào cản trong mối quan hệ song phương. Lâu nay Mỹ luôn cho rằng việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là một vấn đề nhạy cảm bởi sự khác biệt trong hệ thống giá trị và chính trị giữa hai bên. Sự dè dặt trong việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí được thể hiện một cách rõ ràng qua nhiều tiếng nói bày tỏ quan ngại rằng những vũ khí này sẽ được sử dụng với mục đích đàn áp những người “bất đồng chính kiến”.

Những ý kiến như vậy đang được ủng hộ và vận động bởi những người Việt ở Mỹ, những người luôn nhấn mạnh rằng việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam cần đi kèm với cải cách chính trị. Mặc dù vậy, các chính trị gia Mỹ đã phản ứng một cách dè dặt trước những đề xuất này. Ở một chừng mực nào đó đã tồn tại sự nhất trí ngầm giữa hai bên rằng việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là cần thiết, như một phản ứng chiến lược trước những hành động cứng rắn gần đây của Trung Quốc trên biển Đông.

Còn trong nội bộ Việt Nam, bắt đầu có nhiều tiếng nói chỉ trích chính sách quốc phòng “3 không” của nước này (bao gồm không lien minh quân sự với bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia). Những ý kiến phản biện cho rằng cách tiếp cận này không còn hữu hiệu trong việc giúp bảo vệ lợi ích quốc gia và chủ quyền, nhất là sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Bất chấp những sự khác biệt nhất định về lập luận, những tiếng nói này ủng hộ việc Việt Nam xích lại gần Mỹ hơn. Từ góc nhìn của các chiến lược gia Việt Nam, chỉ có Mỹ mới có thể gây thay đổi tính toán của Trung Quốc ở biển Đông, và ngăn chặn việc nước này sử dụng vũ lực để thay đổi hiện trạng. Trong khi đó, nhận được sự hậu thuẫn của một cường quốc về sức mạnh quân sự đồng nghĩa với việc cán cân quyền lực được thay đổi theo chiều hướng có lợi cho Hà Nội.

Trong chuyến thăm Mỹ vừa qua, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đã liên tiếp khẳng định rằng nỗ lực tìm kiếm vũ khí của Mỹ là một chuyện hết sức “bình thường” và không nhắm tới bất kì “nước thứ ba nào”. Tuy nhiên, rõ ràng cả Hà Nội lẫn Washington đang theo đuổi một cuộc chơi cân bằng quyền lực.

Tuy được xem là một bước đột phá quan trọng, vũ khí của Mỹ sẽ khó lòng lật ngược thế cờ trong mối quan hệ tay ba Trung-Việt-Mỹ nói chung và trong cuộc tranh chấp ở biển Đông nói riêng. Đầu tiên, kể cả Mỹ có gỡ bỏ toàn bộ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam thì điều này cũng không giúp thay đổi cán cân quyền lực giữa Trung Quốc và Việt Nam một cách đáng kể.

Dù thế nào đi nữa, hải quân Trung Quốc vẫn sẽ áp đảo hải quân Việt Nam. Hạm đội của Trung Quốc cũng hiện đại và được trang bị tốt hơn so với Việt Nam. Vũ khí của Mỹ còn rất đắt tiền, Hà Nội khó lòng có thể mua đủ vũ khí của Mỹ để thay đổi cấu trúc quân đội hiện nay một cách đáng kể với hi vọng răn đe Trung Quốc. Kể cả trong trường hợp Việt Nam có thể mua một lượng rất lớn vũ khí của Mỹ, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam cũng sẽ mất nhiều năm để tích hợp vũ khí Mỹ vào trong một hệ thống quân đội mà trong đó vũ khí của Nga đã áp đảo từ trước đến giờ.

Quan trọng hơn nữa, vẫn còn tồn đọng một số sự khác biệt và cách hiểu khác nhau giữa hai nước trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng. Về phía mình, Việt Nam muốn hợp tác quốc phòng không chỉ giới hạn trong việc mua bán vũ khí. Lý tưởng đối với Việt Nam là hải quân hai nước sẽ tuần tra chung trên biển và Mỹ sẽ thể hiện cam kết bảo vệ an ninh hàng hải và ổn định trên biển Đông một cách mạnh mẽ hơn trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục hung hăng. Một sự bảo đảm “ngầm” nhưng chắn chắn rằng Mỹ sẽ giúp đỡ và bảo vệ Việt Nam trong trường hợp Trung Quốc tấn công trước vẫn phù hợp với chính sách quốc phòng “3 không” hiện tại.

Mặc dù vậy, đây là những thoả thuận mà Mỹ khó lòng đồng ý, bởi nhiều lý do trong đó có việc cắt giảm ngân sách quốc phòng, các cam kết quân sự của Mỹ ở các nơi khác cũng như việc Mỹ muốn tránh đối đầu quá trực tiếp với Trung Quốc. Thực tế hơn thì Việt Nam hi vọng rằng Mỹ sẽ sớm hỗ trợ Việt Nam trong việc tuần tra trên biển. Điều này lý giải những cuộc thảo luận trước thềm chuyến thăm của ông John Kerry vào tháng 7 vừa qua (2014), như một nguồn tin ngoại giao từ Hà Nội cho hay. Cho đến nay chưa có thoả thuận hay hiệp định nào như vậy được ký kết. Nhưng đây chắc chắn sẽ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Hà Nội.

Không thể phủ nhận rằng việc gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là một bước khởi đầu quan trọng cho sự gia tăng hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Mỹ. Tuy vậy, điều này vẫn chưa thoả mãn được sự trông đợi từ cả hai phía, nhất là trong việc kiềm chế những tham vọng của Trung Quốc ở biển Đông. Không lật ngược thế cờ quân sự, bước đột phá vừa qua vẫn có ý nghĩa biểu trưng và chính trị hết sức quan trọng, và là một giải pháp tạm chấp nhận được đối với cả hai bên trong thời điểm hiện tại.

Trương-Minh Vũ là giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh. Ngô Di Lân nghiên cứu về chính sách ngoại giao, hiện đang theo học tại Đại học Maastricht (Hà Lan). Quan điểm trong bài là quan điểm riêng của các tác giả.

Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên The Diplomat.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

NÊN CÔNG BẰNG VỚI DÂN KHÔNG LẤY AI ĐÁNH GIẶC!

( Nhân vụ kiện của dân Bằng A lên Tòa án quận Hoàng Mai) Nhà thơ Đỗ Hoàng Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Tòa án Quận Hoàng Mai có công văn gửi ông Chủ tịch UBND quận Hoàng Mai về việc nhận đơn khiếu kiện của ông Lưu Bách Thuật và bà Lưu Thị Hợi trú tại cụm dân cư Bằng A, phường Hoàng Liệt, quận...

Thống kê
  • Đang truy cập46
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm45
  • Hôm nay5,123
  • Tháng hiện tại173,568
  • Tổng lượt truy cập3,486,412
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây