Chiến dịch ngoại giao giải cứu nhà khoa học Tiền Học Sâm

Chủ nhật - 25/08/2019 20:26
Viện sĩ Tiền Học Sâm (Qian Xue-sen) là một nhà khoa học lớn của Trung Quốc, nổi tiếng về tài năng và lòng yêu nước, đạo đức chân thành, giản dị khiêm tốn. Ông còn được gọi là Cha đẻ ngành tên lửa và hàng không vũ trụ Trung Quốc.
Chiến dịch ngoại giao giải cứu nhà khoa học Tiền Học Sâm

Chiến dịch ngoại giao giải cứu nhà khoa học Tiền Học Sâm

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Viện sĩ Tiền Học Sâm (Qian Xue-sen) là một nhà khoa học lớn của Trung Quốc, nổi tiếng về tài năng và lòng yêu nước, đạo đức chân thành, giản dị khiêm tốn. Ông còn được gọi là Cha đẻ ngành tên lửa và hàng không vũ trụ Trung Quốc.

Tiền Học Sâm qua đời ngày 31/10/2010, thọ 98 tuổi. Toàn bộ các nhà lãnh đạo cao nhất ở Trung Quốc như Hồ Cẩm Đào, Giang Trạch Dân, Ngô Bang Quốc v.v… đã đến dự đám tang ông, điều đó cho thấy ông từng có một vai trò rất quan trọng ở Trung Quốc.

Tiền Học Sâm sinh ra trong một gia đình trí thức có cha là một nhà giáo. Năm 1935 sau khi tốt nghiệp Đại học Giao thông Thượng Hải ông đi Mỹ du học. Năm 1939, Tiền Học Sâm giành học vị tiến sĩ tại Học viện Công nghệ California (Caltech) dưới sự hướng dẫn của giáo sư Von Karman (người Mỹ gốc Hungary), sau đó ông ở lại trường giảng dạy và tham gia nhóm nghiên cứu thiết kế chế tạo tên lửa, còn được gọi là Nhóm cảm tử, vì việc thí nghiệm tên lửa rất nguy hiểm. Bài báo của ông viết lý thuyết “Chế tạo tên lửa có vận tốc 10 nghìn km” đã làm giới khoa học tên lửa thế giới biết đến tên tuổi Tiền Học Sâm.

Trong thời gian Thế chiến II, Tiền Học Sâm tham gia công tác làm bom nguyên tử trong dự án tuyệt mật Manhattan của chính phủ Mỹ. Sau đó ông được phong giáo sư trường Caltech. Chiến tranh kết thúc, ông được mời tham gia công tác nghiên cứu chế tạo tên lửa của quân đội Mỹ và được phong hàm đại tá. Trong lĩnh vực này Tiền Học Sâm có nhiều thành công lớn, trở thành một chuyên gia tên lửa hàng đầu thế giới, được giới khoa học quân sự Mỹ kính nể.

Cuối năm 1949, sau khi biết tin nước CHND Trung Hoa ra đời, Tiền Học Sâm cùng vợ là Tưởng Anh vui mừng khôn xiết, ngày đêm bàn chuyện sớm trở về tổ quốc.

Hồi ấy cái gọi là chủ nghĩa chống cộng Mắc Các-thy (McCarthyism) đang hoành hành trên chính trường nước Mỹ, khắp nơi có phong trào khuyến khích viên chức nhà nước trung thành với chính phủ và tố cáo những người thân cộng sản. CIA nghi Tiền Học Sâm theo cộng sản; vì thế ông bị tước mất quyền tiếp tục làm các công việc nghiên cứu bí mật có liên quan tới quân sự. Tiền Học Sâm vô cùng căm tức và suy nghĩ: Mình thà về nước còn hơn ở lại nước Mỹ trong tình trạng bị nghi ngờ thế này.

Lấy lý do ấy, ông xin về Trung Quốc, nhưng yêu cầu này bị chính phủ Mỹ từ chối. Thứ trưởng Bộ Hải quân Mỹ nói: “Tiền Học Sâm nắm được tất cả các bí mật của công trình tên lửa Mỹ, con người ấy có giá trị ngang với mấy sư đoàn lính thuỷ đánh bộ. Tôi thà bắn chết người này còn hơn để cho ông ta về với Trung Quốc cộng sản!”

Chính quyền Mỹ bắt đầu theo dõi Tiền Học Sâm. Nhà ông bị khám, thậm chí ông bị bắt giam 2 tuần. Ông chỉ được về nhà sau khi trường Caltech nộp 15.000 USD tiền bảo lãnh. Cảnh sát còn tịch thu 8 tạ sách ông sưu tầm được trong bao năm định mang về Trung Quốc. Từ đó Tiền Học Sâm sống trong tình trạng bị giam lỏng ở nhà lâu tới 5 năm.

Tin nhà khoa học nổi tiếng Tiền Học Sâm bị chính phủ Mỹ hãm hại đã làm dư luận Trung Quốc căm phẫn. Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố phản đối hành động của chính phủ Mỹ. Nhằm mục đích đón được Tiền Học Sâm về nước phục vụ các chương trình nghiên cứu khoa học quân sự, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tổ chức một chiến dịch ngoại giao giải cứu Tiền Học Sâm. Chính quyền Trung Quốc bắt giam một số kiều dân Mỹ và người Mỹ xâm phạm lãnh thổ. Toà án Quân sự Trung Quốc đã kết án 13 gián điệp Mỹ, với ý đồ dùng họ để đổi lấy Tiền Học Sâm.

Chính phủ Mỹ rất muốn các công dân của họ được trả tự do bèn thông qua các quan chức ngoại giao Anh quốc liên lạc với phía Trung Quốc.

Tháng 4/1954, nhân dịp họp hội nghị 5 nước Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Liên Xô tại Geneva bàn về việc giải quyết vấn đề Triều Tiên và chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, trưởng đoàn Trung Quốc là Thủ tướng Chu Ân Lai chỉ thị phái đoàn Trung Quốc thông qua Bộ Ngoại giao Anh để liên hệ với Mỹ, đề nghị đàm phán với Mỹ đòi thả nhà khoa học Tiền Học Sâm. Người phát ngôn phái đoàn Trung Quốc ra tuyên bố yêu cầu chính phủ Mỹ trả tự do cho các kiều dân và du học sinh Trung Quốc bị bắt ở Mỹ, đồng thời ngầm tỏ ý Trung Quốc sẵn sàng bàn với Mỹ vấn đề người Mỹ bị bắt tại Trung Quốc.

Kết quả là từ ngày 5 tháng 6, đại biểu Trung Quốc Vương Bính Nam và thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Johnson bắt đầu đàm phán về vấn đề kiều dân hai nước bị bắt giữ. Được Thủ tướng Chu Ân Lai chỉ đạo, trong phiên họp lần thứ ba, đoàn Trung Quốc tỏ thái độ có nhượng bộ lớn, đồng thời yêu cầu Mỹ trả tự do cho Tiền Học Sâm và các du học sinh Trung Quốc tại Mỹ bị bắt. Nhưng yêu cầu của phía Trung Quốc bị Mỹ từ chối.

Hôm hội nghị Geneva bế mạc (21/7/1954), Thủ tướng Chu Ân Lai chỉ thị trong hội nghị Trung-Mỹ cấp Lãnh sự họp tiếp vào hôm sau, phía Trung Quốc phải chủ động quyết định trao trả 4 phi công Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ để tỏ thiện chí.

Ngày 25/7/1955, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thành lập Tổ chỉ đạo đàm phán Trung-Mỹ, do Thủ tướng Chu Ân Lai phụ trách, tổ trưởng là thứ trưởng Chương Hán Phu, tổ phó là Kiều Quán Hoa. Từ ngày 1/8, cuộc đàm phán này nâng lên cấp đại sứ. Tuy phía Trung Quốc đã có thiện chí nhưng phía Mỹ vẫn cương quyết không chịu cho Tiền Học Sâm về nước, viện cớ phía Trung Quốc chưa đưa ra được lý do thật sự của yêu cầu này.

Đang lúc Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng lo lắng thì may sao ông Trần Thúc Thông, một nhân sĩ yêu nước, phó Chủ tịch Quốc hội và phó Chủ tịch Trung ương Hội nghị Chính trị hiệp thương (tương đương trung ương Mặt trận Tổ quốc ở Việt Nam) chuyển cho Thủ tướng một bức thư ký tên Tiền Học Sâm gửi từ Mỹ. Lá thư này viết trên tờ giấy quấn thuốc lá mỏng dính ép trong một cuốn sách Tiền Học Sâm gửi cho người nhà ở Bỉ nhờ chuyển tới Trần Thúc Thông. Trong thư, Tiền Học Sâm viết: Đề nghị chính phủ Trung Quốc giúp ông được về nước.

Xem thư, Thủ tướng Chu vô cùng phấn khởi và chỉ thị hoả tốc chuyển thư này tới đại sứ Vương Bính Nam, trưởng đoàn Trung Quốc đàm phán với Mỹ tại Geneva.

Trong phiên họp ngày 1 tháng 8, Vương Bính Nam phát biểu: “Thưa ngài đại sứ Johnson, trước khi chúng ta bắt đầu thảo luận, tôi xin thông báo ngài biết chính phủ Trung Quốc hôm 31 tháng 7 đã quyết định trả tự do sớm cho 11 phi công Mỹ, trong đó có ông Arnold. Hôm 31 họ đã rời Bắc Kinh và ngày 4 tháng 8 sẽ tới Hong Kong. Tôi mong rằng quyết định này của phía Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng tích cực tời cuộc hội đàm của chúng ta.”

Thế nhưng đại sứ Johnson vẫn nhắc lại luận điệu cũ: “Hiện vẫn chưa có chứng cớ nào cho thấy ông Tiền Học Sâm muốn trở về Trung Quốc; chính phủ Mỹ không thể cưỡng bức ông ấy làm việc đó.”

Đại sứ Vương Bính Nam bèn giơ lá thư Tiền Học Sâm gửi Trần Thúc Thông ra và bác bỏ lý lẽ của Johnson: “Ngay từ tháng 4 năm 1955, chính phủ Mỹ đã công khai tuyên bố cho phép du học sinh Trung Quốc được tự do đi về, thế thì tại sao nhà khoa học Trung Quốc tiến sĩ Tiền Học Sâm tháng 6 vừa rồi còn viết thư đề nghị chính phủ chúng tôi giúp ông được về nước? Rõ ràng là phía Mỹ vẫn cản trở các nhà khoa học Trung Quốc được về nước.”

Trước chứng cớ rành rành, phía Mỹ không thể không chấp nhận yêu cầu về nước của Tiền Học Sâm. Ngày 4/8/1955, ông nhận được thông báo của Cơ quan Nhập cư Mỹ cho phép về Trung Quốc dưới hình thức trục xuất.

Ngày 17/9/1955, Tiền Học Sâm cùng vợ là bà Tưởng Anh mang theo hai con nhỏ đáp chiếc tàu thuỷ “Tổng thống Cleveland” lên đường về tổ quốc. Tàu cặp bến Hong Kong, Tiền Học Sâm và gia đình được chuyển sang Thâm Quyến; tại đây ông được đón tiếp như một vị anh hùng.

Biết tin ấy, nhà khoa học Von Karman xúc động nói: “Nước Mỹ thế là biếu không cho Trung Quốc Đỏ vị chuyên gia tên lửa xuất sắc nhất thế giới.”

Ngay từ cuối thập niên 1950, Thủ tướng Chu Ân Lai từng nói: “Cuộc hội đàm Trung-Mỹ cấp đại sứ tuy không có kết quả thực chất nào nhưng chúng ta đòi được Tiền Học Sâm. Riêng một việc này cho thấy cuộc hội đàm ấy là có giá trị”.

Thủ tướng Chu Ân Lai đã sáng suốt khởi động cuộc đàm phán Trung Quốc-Mỹ, khéo léo dùng biện pháp ngoại giao dọn sạch các trở ngại trên con đường về nước của Tiền Học Sâm, nhờ đó Tiền Học Sâm và sau này nhiều người Trung Quốc học ở Mỹ được về nước thực hiện nguyện vọng phục vụ tổ quốc.

Sau khi về nước, Tiền Học Sâm lập tức được chính phủ Trung Quốc trọng dụng. Mọi kiến nghị của ông đều được chấp nhận. Ông được cử lãnh đạo Viện nghiên cứu số 5 của Bộ Quốc phòng, nơi chuyên trách nghiên cứu chế tạo tên lửa và máy bay. Tiền Học Sâm được bầu làm Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc và Viện Công trình Trung Quốc, cũng như làm phó Chủ tịch Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc. Cống hiến to lớn của ông trong việc xây dựng ngành tên lửa và du hành vũ trụ được chính phủ Trung Quốc ghi nhận bằng một loạt giải thưởng và danh hiệu cao quý nhất.

Nhờ sự đóng góp của các nhà khoa học lỗi lạc từ nước ngoài trở về như Tiền Học Sâm, công trình chế tạo tên lửa và bom nguyên tử của Trung Quốc hoàn thành sớm trước thời hạn ít nhất 20 năm.

Cuối năm 1960, Trung Quốc phóng thử thành công quả tên lửa đầu tiên. Hiện nay Trung Quốc đã chế tạo được các loại tên lửa mạnh, có tầm bắn xa trên chục nghìn km và có thể mang đầu đạn hạt nhân. Dưới sự chỉ đạo của Tiền Học Sâm, ngành du hành vũ trụ Trung Quốc ra đời và có tiến bộ nhanh chóng. Năm 1970 phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên Đông Phương Hồng 1. Năm 2003 phóng thành công tàu vũ trụ chở người Thần Châu 5 trở về trái đất an toàn. Năm 2008 Trung Quốc lại phóng được vệ tinh Hằng Nga bay vòng quanh mặt trăng, trở thành quốc gia thứ 5 đưa được vật thể lên Mặt Trăng (sau Nga, Mỹ, Nhật, châu Âu). Năm 2011 và 2016 lại phóng thành công 2 trạm không gian Thiên Cung. Ngày 3/1/2019, Trung Quốc lại phóng tàu vũ trụ hạ cánh thành công xuống bề mặt không nhìn thấy của Mặt trăng.
 

19/07/1956: Hoa Kỳ rút viện trợ cho Ai Cập

Print Friendly, PDF & Email

image (1)

Nguồn: “United States withdraws offer of aid for Aswan Dam,” History.com (truy cập ngày 18/7/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Vào ngày này năm 1956, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles tuyên bố rằng Mỹ đang rút đề nghị viện trợ tài chính cho Ai Cập để giúp đỡ xây dựng đập Aswan trên sông Nile. Động thái này đã khiến Ai Cập tiến xa hơn nữa tới một liên minh với Liên Xô và là một nhân tố đóng góp vào cuộc khủng hoảng kênh đào Suez diễn ra cuối năm 1956.

Trước đó, vào tháng 12 năm 1955, Ngoại trưởng Dulles tuyên bố rằng Hoa Kỳ, cùng với Vương quốc Anh, đang cung cấp gần 70 triệu đô la tiền viện trợ cho Ai Cập để giúp đỡ xây dựng đập Aswan. Tuy nhiên, Dulles chỉ miễn cưỡng đồng ý cho khoản hỗ trợ này. Ông có mối nghi ngờ sâu sắc về lãnh đạo Ai Cập Gamal Abdel Nasser, người mà theo Dulles là một nhà dân tộc chủ nghĩa nôn nóng và nguy hiểm. Những người khác trong chính quyền Eisenhower đã thuyết phục Dulles rằng khoản viện trợ của Mỹ có thể kéo Nasser ra khỏi mối quan hệ với Liên Xô và ngăn chặn sự gia tăng quyền lực của Liên Xô ở Trung Đông.

Nhưng chỉ 7 tháng sau khi công bố, khoản viện trợ bị thu hồi. Dulles viện dẫn những khó khăn trong việc sắp xếp hệ thống tài chính cho khoản hỗ trợ của Mỹ với chính phủ Ai Cập, nhưng động cơ thực sự của ông lại là bởi những cuộc tấn công không ngừng của Nasser nhằm vào chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc phương Tây, cùng sự ve vãn liên tục của Ai Cập với Liên Xô.

Có thể Dulles đã tin rằng nếu không có sự trợ giúp của Mỹ thì dự án xây dựng đập Aswan sẽ phải gác lại. Về điểm này, ông đã nhầm. Liên Xô nhanh chóng bù đắp viện trợ cho Ai Cập, và đạp Aswan được chính thức khai trương từ năm 1964. Dĩ nhiên nhà lãnh đạo Ai Cập Nasser rất giận dữ trước hành động của Mỹ. Ngay cả Anh cũng không hài lòng vì tin rằng việc Mỹ rút viện trợ cho Ai Cập đã mở đường cho sự thâm nhập của Liên Xô vào Ai Cập.

Tháng 10 năm 1956, các lực lượng Anh, Pháp, và Israel cùng tấn công Ai Cập với tuyên bố để bảo vệ kênh đào Suez. Sự việc này gần như đã khơi mào cho một cuộc đối đầu Mỹ-Xô, nhưng Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã vừa nghiêm khắc cảnh báo bất kỳ hành động quân sự nào của Liên Xô, vừa từ chối hỗ trợ cho Anh, Pháp, và Israel. Các lực lượng tấn công bắt đầu rút khỏi Ai Cập từ năm 1957. Tuy nhiên, quan hệ giữa Mỹ và Trung Đông từ đó đã sứt mẻ, khiến Trung Đông trở thành một điểm nóng Chiến tranh Lạnh trong suốt 35 năm sau đó.

Ảnh: Lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev cạnh Tổng thống Ai Cập Gamal Abdal Nasser trong lễ cắt băng khánh thành đập Aswan tháng 5 năm 1964. Nguồn: AP.
 

#186 – Các chủ thể phi quốc gia và thách thức đối với quản trị toàn cầu

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Charles W. Kegley, JR. & Gregory A. Raymond, The Global Future: A Brief Introduction to World Politics (Chapter 6), (Boston, MA: Wadsworth, 2010).

Biên dịch: Hồ Hải Yến | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Bài liên quan: Các chương khác của cuốn The Global Future

Có một sự tái phân bổ quyền lực mới đang diễn ra giữa các nhà nước, thị trường và xã hội dân sự, kết thúc sự tích lũy quyền lực đều đặn trong tay của các nhà nước kể từ Hòa ước Westphalia năm 1648

Jessica T. Matthews – Chủ tịch Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế

Vào tháng 7 năm 2006, các chiến binh du kích của phong trào Hồi giáo Hezbollah của Libăng đã phục kích một đội tuần tra người Israel dọc biên giới, giết một số binh sĩ và giữ 2 con tin. Khi những người Israel lần theo nhóm này nhưng nỗ lực giải cứu không thành, họ còn mất thêm một vài binh sĩ nữa. Việc bắt cóc một hạ sĩ Israel của nhóm Hamas, nhóm Hồi giáo chính yếu trong các vùng lãnh thổ của Palestine, đã thúc đẩy thủ tướng Israel Ehud ra lệnh tấn công dữ dội bằng pháo kích và không kích vào các đơn vị đồn trú nghi ngờ là của Hezbollah ở Beirut và miền Nam Libăng, vốn là hành động mà những cố vấn quân sự của ông đã từ lâu ủng hộ. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Israel Amir Peretz, mục đích của việc này là làm cho Hezbollah bị “đánh bại một cách hoàn toàn sao cho không một người nào trong nhóm này không hối tiếc vì đã thực hiện hành động trên” (Time, 24/7/2006, trang 28).

Vì Israel phong tỏa Libăng và tấn công liên tục vào hạ tầng giao thông với mục đích cách ly binh lính Hezbollah, Hezbollah trả đũa bằng cách bắn một loạt tên lửa Katyusha vào Bắc Israel, làm tê liệt Haifa, thành phố lớn thứ 3 của nước này và cũng là một trong những hải cảng đông đúc nhất. “Nhà của chúng tôi không phải là những thứ duy nhất bị phá hủy”, lãnh đạo Hezbolla Sheikh Hassan Nasrallah tuyên bố. “Các người không biết là các người đang chống lại ai” (Newsweek, 24/7/2006, trang 24).

Hezbollah (hoặc “Đảng của chúa trời’) được thành lập vào năm 1982 sau khi Israel xâm lược Libăng để loại trừ Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), tổ chức vốn đã sử dụng Libăng làm căn cứ để quấy rối những khu định cư ở miền Bắc Israel với các vũ khí hạng nhẹ và súng cối. Là một tổ chức Hồi giáo cực đoan dòng Shiite có mối quan hệ mật thiết với Iran, các thành viên của Hezbollah đã được cho là phải chịu trách nhiệm đối với vụ tấn công bằng bom vào căn cứ thủy quân lục chiến Mỹ tại Beirut năm 1983, vụ cướp máy bay TWA 847 năm 1985 và nhiều vụ bắt cóc khác. Hoạt động trong một quốc gia – dân tộc yếu và ương ngạnh, Hezbollah gần như hoàn toàn tự do kiểm soát một số vùng của Libăng.

Trong những năm 1990, Hezbollah đã mở rộng vượt khỏi hình thái của một tổ chức bán quân sự đơn thuần, phát triển các chương trình phúc lợi xã hội rộng khắp, bao gồm việc vận hành các trường học và các trung tâm y tế ở một số vùng của người Shiite của Libăng. Tổ chức này cũng bắt đầu tham gia vào các cuộc bầu cử của người Libăng, giành được 14 ghế trong số 128 ghế quốc hội năm 2005. Mặc dù có những thay đổi như trên, Hezbollah vẫn tiếp tục xem Israel như một thực thể bất hợp pháp và thề gây áp lực để Iseael thả tự do cho những người Libăng đang bị bắt giữ và rút lui khỏi vùng tranh chấp Shebaa.

Mối quan tâm hàng đầu của Israel về Hezbollah tập trung vào các kho vũ khí do Iran tài trợ ngày càng phát triển. Trong khi tên lửa Katyusha không được chính xác lắm và có tầm hoạt động từ 10 đến 20 dặm, thì người Israel lo rằng Iran đã cung cấp cho Hezbollah một lượng chưa biết các tên lửa tinh vi có thể nhắm vào tất cả mọi trung tâm dân cư Israel với đầu đạn có thể chứa các tác nhân hóa học hoặc sinh học. Mối lo ngại này càng tăng trong vài ngày và trở thành xung đột khi một tên lửa C-802 có radar dẫn đường phá hỏng một tàu chiến Israel ở ngoài khơi bờ biển Libăng. Sợ rằng Hezbollah cũng có thể sở hữu những tên lửa tầm xa Zelzal-2, Israel đã liên tục bắn phá Libăng bất chấp những lời kêu gọi ngừng bắn từ Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan. Tới lượt mình,  Hezbollah duy trì tấn công liên tục chống lại miền bắc Israel. Thương vong dân sự hết sức đáng lo ngại của cả hai bên đã khiến Thủ tướng Libăng Fouad Siniora than vãn rằng đất nước ông đang bị xé tan ra từng mảnh.

Trong những tuần sau đó, có ba cách giải thích lý do tại sao Hezbollah bắt đầu các hoạt động thù địch được lưu truyền trong giới nhà báo, ngoại giao, và các nhà lãnh đạo thế giới. Lý giải đầu tiên tuyên bố rằng cuộc tấn công ngày 12 tháng 7 là một tính toán sai lầm: Hezbollah đã tiến hành các cuộc tấn công xuyên biên giới tương tự trong những năm gần đây mà không gây ra một phản ứng lớn nào từ Israel, vì vậy thủ lĩnh Hezbollah có lẽ nghĩ rằng có thể làm điều đó một lần nữa mà không bị trừng phạt. Giải thích thứ hai cho rằng đó là trò đánh lạc hướng: Iran, quốc gia đã đào tạo và cung cấp vũ khí cho Hezbollah, được cho là khuyến khích các cuộc tấn công để thu hút sự chú ý của quốc tế ra khỏi chương trình vũ khí hạt nhân vừa manh nha của mình. Cuối cùng, giải thích thứ ba đề xuất rằng vụ tấn công là một sự khiêu khích: Sau khi Israel chấm dứt chiếm đóng ở miền Nam Libăng vào năm 2000, Hezbollah đã củng cố khu vực và có được hàng ngàn tên lửa tầm ngắn và tầm trung. Với việc Hoa Kỳ sa lầy ở Iraq và Israel bận tâm với tình trạng bất ổn trong các vùng lãnh thổ Palestine, lãnh đạo của Hezbollah có thể kết luận rằng Israel dễ bị tổn thương; hành động táo bạo sẽ cho phép Hezbollah chứng minh sức mạnh quân sự của mình với thế giới Ả Rập khi giáng cho Israel một đòn tê liệt.

Mặc dù các nhà quan sát lâu năm của Trung Đông bất đồng về trọng lượng của từng giải thích nói trên, họ đồng tình rằng động lực chính trị của khu vực bao gồm không chỉ sự tương tác giữa các quốc gia – dân tộc. Bất kỳ phân tích nào tập trung vào Israel, Libăng, Iran, và các quốc gia khác mà bỏ qua Hezbollah, Hamas, PLO, và các chủ thể phi quốc gia khác đều thật đáng tiếc là sẽ không đầy đủ. Các thực thể phi quốc gia có nhiều dạng khác nhau, có thể từ các tổ chức liên chính phủ toàn cầu và khu vực (IGO) cho đến các tổ chức phi chính phủ dân tộc và tôn giáo (NGO), đây là những chủ thể quan trọng cần phải được chú ý khi xem xét nền chính trị thế giới. Thật vậy, như cuộc xung đột Libăng đã chứng minh, không thể nói đến các vấn đề quan hệ quốc tế đương đại mà không dành sự chú ý cho những chủ thể như vậy. Do mức độ quan trọng của những chủ thể này, mục tiêu của chương này là mô tả các loại chủ thể phi quốc gia khác nhau và giải thích khi nào và làm thế nào họ sử dụng ảnh hưởng của họ.

Các kiểu chủ thể phi quốc gia

Phần lớn lịch sử chính trị thế giới 350 năm qua là một biên niên sử của sự tương tác giữa các quốc gia chủ quyền có lãnh thổ. Tuy nhiên, ngày nay, các vấn đề thế giới cũng đang được hình thành bởi các tổ chức vượt khỏi biên giới quốc gia. Ngoài Liên Hiệp Quốc và các thực thể khu vực như Liên minh châu Âu, các vấn đề thế giới cũng đang bị ảnh hưởng bởi các nhóm người hợp nhất với nhau trên cơ sở dân tộc, tôn giáo chung hoặc các lý do khác. Đa dạng về quy mô và mục đích, các chủ thể phi quốc gia đã thúc đẩy những chương trình nghị sự của riêng mình và ngày càng phát huy ảnh hưởng quốc tế .

Có hai loại chủ thể phi quốc gia chính:  các tổ chức liên chính phủ (IGO),[1] với thành viên là các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ (NGO),[2] với thành viên là cá nhân riêng biệt hoặc các nhóm. Liên minh các Tổ chức Quốc tế (UIO), nơi duy trì và cập nhật toàn diện thông tin về các tổ chức, ghi nhận lại rằng số lượng của các tổ chức này tăng mạnh trong thế kỷ 19 bởi sự phát triển của thương mại quốc tế và thông tin liên lạc cùng với công nghiệp hóa. Vào năm 1909, đã có 37 IGO và 176 NGO. Vào năm 1960 , đã có 154 IGO và 1.255 NGO, và đến năm 2007, những con số này đã tăng lên tương ứng thành 246 và 27.723 (xem Hình 6.1).

Các IGO được tạo ra bởi các quốc gia để giải quyết các vấn đề chung. Như được thể hiện trong Hình 6.1, chúng khác nhau về kích thước và mục đích.  Ví dụ như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) chủ yếu là một liên minh quân sự, trong khi những tổ chức khác, ví dụ như Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ (OAS) lại thúc đẩy phát triển kinh tế. Hầu hết các IGO tập trung hoạt động vào các vấn đề kinh tế, xã hội chúng quan tâm đặc biệt, chẳng hạn như việc quản lý thương mại, hoặc quản lí giao thông vận tải.

Các tổ chức phi chính phủ cũng khác nhau rất nhiều. Chúng bao phủ hầu như mọi khía cạnh của hoạt động chính trị, xã hội và kinh tế, trong đó có khoa học, y tế, văn hóa, thần học, pháp luật, an ninh, quốc phòng. Vì là các tổ chức độc lập khỏi chính phủ, NGO liên kết mọi người từ các xã hội khác nhau trong mạng lưới xuyên quốc gia để vận động cho các chính sách cụ thể. Vì mục đích này, nhiều NGO tương tác một cách chính thức với các IGO. Hơn 1.000 NGO tích cực tham vấn với các cơ quan khác nhau của hệ thống Liên Hiệp Quốc, duy trì văn phòng tại hàng trăm thành phố và tổ chức hội nghị song song với các cuộc họp của IGO mà các quốc gia gửi đại diện đến tham dự. Quan hệ đối tác như vậy giữa các tổ chức NGO và IGO cho phép cả hai loại hình tổ chức này làm việc (và vận động hành lang) với nhau trong việc theo đuổi các chính sách và chương trình chung.

Bảng 6.1 Bảng phân loại đơn giản các IGO

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

BÀI THƠ CŨ

Ta sinh ra cô đơn giờ cô đơn đã cũ ta trưởng thành bởi sợ hãi sợ hãi cũng cũ rồi này tôi một khuôn mặt công chức đứng nhìn những cuộc họp rạc rài tiêu ma bao ý tưởng xa xa trải một mùa bệnh hoạn bệnh hoạn cũng cũ rồi Số mệnh già như trời lọm khọm ở giữa công viên đầy nắng nắng có gì...

Thống kê
  • Đang truy cập20
  • Hôm nay2,789
  • Tháng hiện tại76,490
  • Tổng lượt truy cập4,128,712
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây