29/08/1533: Pizarro xử tử Hoàng đế Inca cuối cùng

Thứ năm - 29/08/2019 06:13
Vào ngày này năm 1533, Atahuallpa, Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của người Inca, đã chết vì bị siết cổ bởi lính chinh phạt Tây Ban Nha dưới quyền Francisco Pizarro. Vụ hành quyết Atahuallpa, vị hoàng đế trị vì tự do cuối cùng, đã đánh dấu sự kết thúc của 300 năm nền văn minh Inca.
29/08/1533: Pizarro xử tử Hoàng đế Inca cuối cùng

29/08/1533: Pizarro xử tử Hoàng đế Inca cuối cùng

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Pizarro Executes Last Inca EmperorHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1533, Atahuallpa, Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của người Inca, đã chết vì bị siết cổ bởi lính chinh phạt Tây Ban Nha dưới quyền Francisco Pizarro. Vụ hành quyết Atahuallpa, vị hoàng đế trị vì tự do cuối cùng, đã đánh dấu sự kết thúc của 300 năm nền văn minh Inca.

Nằm trên dãy Andes của Peru, người Inca đã xây dựng một đế chế rực rỡ với dân số khoảng 12 triệu người. Mặc dù không có hệ thống chữ viết, họ vẫn có một chính phủ phức tạp, nhiều công trình công cộng sáng giá và một hệ thống nông nghiệp tuyệt vời. Năm năm trước khi quân Tây Ban Nha đến vùng đất này, cuộc chiến giành quyền thừa kế tàn khốc đã khiến đế chế suy sụp. Năm 1532, quân của Atahuallpa đã đánh bại lực lượng của người anh cùng cha khác mẹ Huascar trong trận chiến gần Cuzco. Atahuallpa đang củng cố quyền cai trị của mình thì Pizarro và 180 binh sĩ của ông xuất hiện.

Francisco Pizarro là con trai của một người Tây Ban Nha và từng là người chăn lợn khi còn trẻ. Ông sau đó trở thành một người lính và năm 1502 đã tới Hispaniola cùng vị thống đốc người Tây Ban Nha mới của thuộc địa ở Tân Thế giới này. Pizarro phục vụ dưới quyền nhà chinh phục người Tây Ban Nha Alonso de Ojeda trong chuyến thám hiểm tới Colombia năm 1510 và cũng nằm trong đoàn tùy tùng của Vasco Nunez de Balboa khi ông này phát hiện ra Thái Bình Dương vào năm 1513. Nghe biết về những truyền thuyết về sự giàu có của một nền văn minh bản địa ở Nam Mỹ, Pizarro đã thành lập một liên minh với nhà chinh phục Diego de Almagro năm 1524 và đi thuyền từ Panama xuống bờ biển phía tây Nam Mỹ. Chuyến thám hiểm đầu tiên chỉ gíup họ thâm nhập vào Ecuador ngày nay, nhưng chuyến đi thứ hai đã tiến xa hơn, đến tận Peru ngày nay. Ở đó, họ được chứng kiến tận mắt những câu chuyện về đế chế Inca và thu được nhiều cổ vật của người Inca. Người Tây Ban Nha đã đặt tên cho vùng đất mới là Peru, có lẽ theo tên của sông Vire.

Trở về Panama, Pizarro đã lên kế hoạch cho một cuộc thám hiểm chinh phục, nhưng thống đốc đã từ chối ủng hộ việc này. Năm 1528, Pizarro lên đường tới chính quốc Tây Ban Nha cậy nhờ sự hỗ trợ của Hoàng đế Charles V. Khi ấy, Hernan Cortes vừa mới mang lại cho hoàng đế sự giàu có nhờ chinh phạt Đế chế Aztec và Charles đã ủng hộ kế hoạch của Pizarro. Ông cũng hứa rằng Pizarro, chứ không phải Almagro, sẽ nhận được phần lớn chiến lợi phẩm của đoàn thám hiểm. Năm 1530, Pizarro trở lại Panama.

Năm 1531, ông đi thuyền tới Peru, cập bến Tumbes, sau đó lãnh đạo đội quân của mình lên dãy núi Andes và vào ngày 15/11/1532 thì tới được thị trấn Cajamarca của Inca, nơi Atahuallpa đang nghỉ ngơi tận hưởng suối nước nóng và chuẩn bị cho cuộc diễu hành xưng vương ở Cuzco, thủ đô vương quốc của anh mình. Pizarro đã mời Atahuallpa tham dự một bữa tiệc để vinh danh ông, và hoàng đế đã chấp nhận. Vừa giành chiến thắng một trong những trận chiến lớn nhất trong lịch sử Inca và với đội quân 30.000 người trong tay, Atahuallpa nghĩ rằng mình chẳng có gì phải sợ kẻ lạ mặt với bộ râu trắng và 180 lính của hắn. Tuy nhiên, Pizarro đã lên kế hoạch phục kích, cho pháo binh chốt chặn tại quảng trường Cajamarca.

Ngày 16/11, Atahuallpa đến điểm hẹn với đoàn hộ tống chỉ vài ngàn người, tất cả dường như đều không có vũ trang. Pizarro đã phái một linh mục đến dụ dỗ Hoàng đế Inca chấp nhận sự thống trị của Thiên chúa giáo và Hoàng đế Charles V, nhưng Atahuallpa từ chối, ném quyển Kinh thánh mà người ta đưa cho ông xuống đất với vẻ mặt đầy khinh miệt. Pizarro ngay lập tức ra lệnh tấn công. Bị bao vây trong cuộc tấn công của pháo binh, súng ống và kỵ binh đáng sợ của Tây Ban Nha (đều là những thứ xa lạ với người Inca), hàng ngàn người Inca đã bị tàn sát còn hoàng đế thì bị bắt.

Atahuallpa đề nghị trao đổi một căn phòng đầy kho báu làm tiền chuộc thân, và Pizarro chấp nhận. Cuối cùng, khoảng 24 tấn vàng và bạc đã được mang đến cho người Tây Ban Nha từ khắp đế chế Inca. Dù Atahuallpa đã trả khoản tiền chuộc đắt nhất trong lịch sử thế giới, Pizarro đã phản bội khi đưa ông ra tòa xét xử âm mưu lật đổ người Tây Ban Nha, vì đã giết anh trai Huascar , và vì một số tội danh khác. Một tòa án Tây Ban Nha đã kết tội Atahuallpa và tuyên tử hình ông. Ngày 29/08/1533, hoàng đế bị trói vào cọc và đưa ra lựa chọn hoặc bị thiêu sống, hoặc bị siết cổ nếu ông chuyển sang Cơ đốc giáo. Với hy vọng bảo quản cơ thể của mình cho việc ướp xác, Atahuallpa đã chấp nhận bị siết cổ và một chiếc vòng sắt đã được thắt chặt quanh cổ cho đến khi ông chết hẳn.

Khi quân tiếp viện của Tây Ban Nha đến Cajamarca vào đầu năm đó, Pizarro sau đó đã hành quân đến Cuzco, và thủ đô Inca đã sụp đổ nhanh chóng vào tháng 11/1533. Anh trai của Huascar, Manco Capac, được đưa lên làm hoàng đế bù nhìn, và thành Quito đã phải khuất phục. Pizarro tự xưng làm thống đốc Tây Ban Nha của lãnh thổ Inca và đề nghị Diego Almagro chinh phục Chile nhằm xoa dịu ông này sau khi Pizarro độc chiếm sự giàu có của nền văn minh Inca. Năm 1535, Pizarro lập thành Lima trên bờ biển để tạo điều kiện liên lạc với Panama. Một năm sau đó, Manco Capac thoát khỏi sự giám sát của Tây Ban Nha, khơi mào cho một một cuộc nổi dậy không thành công, vốn nhanh chóng bị nghiền nát. Sự kiện cũng đánh dấu hồi kết cho mọi kháng cự của người Inca đối với sự cai trị của Tây Ban Nha.

Diego Almagro trở về từ Chile, cay đắng vì sự nghèo đói của nước này, liền yêu cầu chia sẻ chiến lợi phẩm của đế chế Inca trước đây. Nội chiến nhanh chóng nổ ra sau vụ tranh chấp, và Almagro đã chiếm được Cuzco vào năm 1538. Pizarro đã gửi anh trai cùng cha khác mẹ của mình, Hernando, đến đòi lại thành phố. Almagro đã bị đánh bại và giết chết. Ngày 26/06/1541, các đồng minh của Diego el Monzo – con trai Almagro – đã thâm nhập vào cung điện của Pizarro ở Lima và ám sát nhà chinh phục khi ông đang ăn tối. Diego el Monzo tự xưng là thống đốc Peru, nhưng một viên chức hoàng gia Tây Ban Nha đã từ chối công nhận ông, và năm 1542 Diego bị bắt và bị xử tử. Xung đột và mưu mô giữa những người chinh phục đất Peru vẫn tồn tại cho đến khi Tổng trấn Andres Hurtado de Mendoza lập lại trật tự vào cuối những năm 1550.
 

Ai chịu thiệt hại nặng nề nhất do biến đổi khí hậu?

Print Friendly, PDF & Email

climate-change

Nguồn: Bill Gates, “Who Will Suffer Most from Climate Change?”, Project Syndicate, 01/9/2015.

Biên dịch: Dương Trường Phúc | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Cách đây vài năm, Melinda và tôi có đến thăm một nhóm nông dân trồng lúa ở Bihar (Ấn Độ), một trong những vùng dễ gặp lũ lụt nhất cả nước. Tất cả họ đều rất nghèo và phụ thuộc vào lúa gạo – thứ mà họ sản xuất để nuôi sống và chu cấp cho gia đình. Khi những trận mưa kèm gió mùa đến mỗi năm, những con sông sẽ đầy nước, đe dọa làm ngập lụt những nông trại và hủy hoại mùa màng.  Tuy nhiên, họ sẵn sàng đánh cược mọi thứ cho xác suất rằng trang trại của họ sẽ không bị ảnh hưởng. Đó là một canh bạc mà họ thường thua cuộc. Mùa màng thất bát, họ sẽ chạy vào thành phố tìm kiếm những công việc lặt vặt để nuôi gia đình. Tuy nhiên, chỉ trong khoảng một năm, họ trở nên nghèo hơn lúc họ mới rời khỏi làng quê và sẵn sàng quay lại nghề nông.

Chuyến thăm của chúng tôi là lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng đối với những người nông dân nghèo nhất thế giới thì cuộc sống có nhiều rủi ro mà không có mạng lưới đảm bảo an sinh nâng đỡ. Họ không thể tiếp cận giống mới, phân bón, hệ thống thủy lợi và những công nghệ có ích khác như nông dân ở các nước giàu, và họ cũng không có bảo hiểm nông nghiệp để bảo vệ họ chống lại mùa màng thất bát. Chỉ cần một chút không may, như hạn hán, lũ lụt hoặc bệnh tật – là đủ để họ rơi vào vòng lẩn quẩn của đói nghèo.

Ngày nay, biến đổi khí hậu đã tăng thêm những rủi ro mới cho cuộc sống của họ. Gia tăng nhiệt độ trong những thập niên tới sẽ dẫn đến sự gián đoạn nghiêm trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ở những vùng nhiệt đới. Cây trồng cũng sẽ không thể tăng trưởng vì có quá ít hoặc quá nhiều mưa. Sâu bệnh cũng sẽ phát triển trong điều kiện khí hậu nóng ấm và phá hoại cây trồng.

Nông dân ở những nước giàu cũng sẽ trải qua những sự thay đổi như thế nhưng họ có những công cụ và sự giúp đỡ để quản lý các rủi ro. Những người nông dân nghèo nhất thế giới lao động hằng ngày và hầu hết đều trắng tay. Đó là lý do vì sao trong số những người chịu thiệt hại từ biến đổi khí hậu, họ lại là những người bị tổn hại nặng nề nhất.

Những nông dân nghèo sẽ cảm nhận được các hậu quả của sự biến đổi khí hậu này vào thời điểm mà thế giới đang rất cần họ để nuôi sống dân số ngày càng tăng. Vào năm 2050, nhu cầu lương thực thế giới được dự kiến tăng thêm 60%. Thu hoạch giảm dần sẽ làm căng thẳng hệ thống lương thực toàn cầu, gia tăng nạn đói và làm xói mòn những tiến bộ lớn mà thế giới đã đạt được trong việc chống lại đói nghèo hơn nửa thế kỷ qua.

Tôi lạc quan tin rằng chúng ta có thể tránh được những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu và nuôi sống thế giới nếu chúng ta hành động ngay từ bây giờ. Có một nhu cầu cấp thiết đối với các chính phủ là cần đầu tư vào các cải tiến năng lượng sạch mới để làm giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính và ngăn chặn nhiệt độ gia tăng. Đồng thời, chúng ta cũng cần thừa nhận rằng đã quá muộn để có thể chấm dứt những tác động của việc nhiệt độ gia tăng. Ngay cả khi thế giới tìm thấy một nguồn năng lượng sạch giá rẻ trong thời gian tới thì cũng sẽ mất nhiều thời gian mới có thể thay đổi được thói quen sử dụng nhiên liệu hóa thạch và hướng tới tương lai sử dụng năng lượng không phát thải khí các-bon. Đó là lý do tại sao thế giới cần đầu tư vào những hỗ trợ nhằm giúp đỡ những người nghèo nhất thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nhiều công cụ mà họ cần khá là cơ bản – những thứ mà họ sử dụng để trồng nhiều lương thực hơn và có nhiều thu nhập hơn: tiếp cận với tài chính, giống cây trồng, phân bón, đào tạo tốt hơn và thị trường nơi có thể bán những thứ mà họ sản xuất ra.

Những công cụ khác khá mới và được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu của biến đổi khí hậu. Quỹ Gates và các đối tác đã làm việc cùng nhau để phát triển nhiều giống cây trồng thậm chí có thể sinh trưởng trong thời kỳ hạn hán hoặc lũ lụt. Các nông dân trồng lúa mà tôi gặp ở Bihar là một ví dụ, họ đang trồng giống lúa chịu lũ có tên là “scuba”, có thể sống sót dưới nước khoảng hai tuần lễ. Họ đã sẵn sàng nếu sự thay đổi mẫu hình thời tiết gây ra nhiều lũ lụt hơn cho khu vực. Nhiều giống cây trồng khác đang được phát triển để có thể chống chịu được hạn hán, nóng, lạnh và ô nhiễm môi trường đất như nhiễm mặn cao.

Tất cả những nỗ lực này có sức mạnh làm thay đổi cuộc sống. Sẽ không khó hình dung ra việc sản lượng và thu nhập của những người nông dân tăng gấp đôi hoặc gấp ba nếu họ được tiếp cận với những tiến bộ mà nông dân ở nước giàu luôn coi là bình thường. Sự thịnh vượng mới này cho phép họ cải thiện bữa ăn, đầu tư vào nông trại và cho con đến trường. Nó cũng làm cho cuộc sống họ trở nên ít rủi ro hơn và tạo cảm giác an toàn ngay cả khi những người nông dân này có một vụ mùa thất bát.

Cũng sẽ có những mối đe dọa khác từ biến đổi khí hậu mà chúng ta không lường trước được. Để chuẩn bị, thế giới cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu các giống cây trồng và hỗ trợ cho những hộ nông dân sản xuất nhỏ. Một trong những sáng kiến thú vị nhất để giúp nông dân là công nghệ vệ tinh. Ở châu Phi, các nhà nghiên cứu đang sử dụng hình ảnh vệ tinh để tạo ra những bản đồ đất chi tiết, là thứ có thể thông tin cho người nông dân biết những giống loài nào sẽ phát triển tốt trên vùng đất của họ.

Tuy nhiên, giống mới hoặc công nghệ mới không thể thay đổi cuộc sống gia đình người nông dân cho tới khi nó nằm trong tay họ. Một số tổ chức, bao gồm cả những nhóm phi lợi nhuận được gọi là Quỹ One Acre, đang tìm cách đảm bảo rằng người nông dân sẽ nhận được lợi ích từ những giải pháp này. Quỹ One Acre làm việc gắn bó với hơn 200.000 nông dân châu Phi, giúp họ tiếp cận tài chính, công cụ và đào tạo. Tới năm 2020, tổ chức này hướng đến mục tiêu là giúp đỡ một triệu nông dân.

Trong Bức thư Thường niên năm nay, Melinda và tôi đã đánh cược rằng châu Phi có thể tự nuôi sống họ trong 15 năm tới, bất chấp những rủi ro của biến đổi khí hậu mà tôi đã trình bày.

Vâng, người nông dân nghèo có khó khăn. Cuộc đời của họ là những câu đố với nhiều mảnh ghép phải giải đáp, từ gieo trồng đúng loại và sử dụng đúng phân bón cho đến được đào tạo và có nơi để bán các nông sản. Nếu một mảng bị lệch thì cuộc sống của họ có thể tan vỡ.

Tôi biết thế giới đã làm nhiều điều để giúp đặt những mảnh ghép đó vào đúng chỗ, để đối phó với những thách thức mà họ phải đối mặt trong ngày hôm nay và cả ngày mai. Quan trọng nhất, tôi biết những người nông dân cũng đã làm những điều tương tự.

Bill Gates, người sáng lập và cố vấn công nghệ của Tập đoàn Microsoft, là đồng Chủ tịch của Quỹ Bill & Melinda Gates.
 

Linh hồn Ukraine của châu Âu

Print Friendly, PDF & Email

sakharov

Tác giả: Joschka Fischer | Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Tháng Mười một này là kỷ niệm tròn một năm cuộc nổi dậy Euromaidan ở Kiev. Phần lớn dân số Ukraine – và cụ thể là giới trẻ – đã phản đối Tổng thống Ukraine lúc đó là Viktor Yanukovych, khi ông này từ chối ký thỏa thuận gia nhập Liên minh châu Âu (vốn đã được hoàn tất sau nhiều năm đàm phán), nhằm gia nhập một liên minh thuế quan với Nga. Điều này cũng tương tự như việc Ukraine chuyển hướng về phía đông, và việc tham gia Liên minh Á-Âu của Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ loại bỏ mọi khả năng gia nhập EU.

Khi xem xét cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Ukraine, thì điều quan trọng cần ghi nhớ chính là điểm khởi đầu này – một cuộc cách mạng ủng hộ Liên minh châu Âu đầu tiên trong thế kỷ 21, được gây ra do sự phản đối ảnh hưởng của Nga cũng như tình trạng tham nhũng và yếu kém tại Ukraine thời hậu Xô-viết.

Nhiều việc đã xảy ra kể từ khi Nga phát động một cuộc chiến tranh không tuyên bố, đầu tiên là chiếm đóng và sau đó là sáp nhập Crimea. Ở miền đông Ukraine, điện Kremlin tiếp tục cuộc chiến ở vùng Donbas – mà về mặt quân sự thì chính quyền Kiev dường như không thể thắng được trong cuộc chiến này.

Mục tiêu của Nga không phải là chiếm đóng Ukraine bằng quân sự, mà là để gây bất ổn về chính trị và kinh tế – một chiến lược có thể bao gồm việc ly khai trong thực tế của nhiều vùng quan trọng tại miền đông Ukraine. Hơn nữa, Putin sẽ sử dụng mọi công cụ sẵn có – tất nhiên bao gồm cả việc cung cấp năng lượng – nhằm gây áp lực và ép buộc Ukraine trong mùa đông này.

Người châu Âu nên chuẩn bị sẵn cho những gì sắp xảy ra. Putin tin rằng thời gian đang đứng về phía mình; ông ta nghĩ rằng mình vẫn sẽ tại nhiệm khi tất cả những người đồng cấp phương Tây của ông – như Obama, Cameron, Hollande và Merkel – đã rời khỏi chính trường từ lâu.

Về quân sự, Ukraine đã, đang và sẽ không bao giờ có cơ hội chống lại quân đội Nga. Nhưng số phận của đất nước sẽ được quyết định không chỉ trên chiến trường, mà còn trên khía cạnh kinh tế, luật pháp, hành chính và chính trị. Câu hỏi quyết định là: Liệu Ukraine, dưới áp lực khổng lồ từ cuộc xâm lược quân sự của một nước láng giềng lớn hơn và mạnh hơn rất nhiều, có thể thành công trong việc hòa nhập vào châu Âu hay không? Một cách thẳng thắn: hoặc là họ thành công trong việc bắt chước sự chuyển hướng về phía châu Âu của Ba Lan, hoặc là họ sẽ lại một lần nữa rơi vào tầm ảnh hưởng lâu dài của Nga.

Đối với châu Âu, số phận của Ukraine là một câu hỏi chiến lược quan trọng, bởi vì nền độc lập của nước này chính là nền tảng cho trật tự châu Âu sau Chiến tranh Lạnh và khuôn khổ hòa bình của nó. Việc Nga dùng sức mạnh quân sự buộc Ukraine khuất phục sẽ phá vỡ trật tự đó và những nguyên tắc cơ bản của nó, gồm: không sử dụng vũ lực, không xâm phạm biên giới, và quyền tự quyết của người dân, hơn là phạm vi ảnh hưởng.

Điều này sẽ dẫn đến những hậu quả to lớn đối với an ninh không chỉ ở Đông Âu, mà còn trên toàn châu lục. Một nước Nga theo chủ nghĩa phục thù sẽ lại một lần nữa – vượt ra ngoài Kaliningrad và các nước Baltic – có chung đường biên giới dài với EU, và sẽ theo đuổi một vai trò khác biệt, quyết đoán hơn đáng kể trong sự tái thiết lập một cường quốc tại châu Âu. Đối với châu Âu, điều này sẽ là một thay đổi cơ bản theo chiều hướng xấu. Hợp tác sẽ bị thay thế bằng đối đầu, sự tin tưởng bị thay bằng mất lòng tin, và kiểm soát vũ khí bị thay bằng tái vũ trang.

Nếu EU và các nước thành viên (ngoại trừ Ba Lan và các nước Baltic) có gì sai lầm, thì đó không phải là vì họ đã thương lượng một thỏa thuận thương mại tự do với Ukraine, mà bởi vì họ đã phớt lờ tầm quan trọng của Ukraine đối với trật tự châu Âu sau Chiến tranh Lạnh, phản ánh bằng việc không hỗ trợ đầy đủ cho quá trình hiện đại hóa của nước này.

Các chính trị gia phương Tây đáng lẽ nên nhận ra rằng Cách mạng Cam của Ukraine năm 2004, xảy ra do Yanukovych cố gắng cướp trắng kết quả bầu cử tổng thống năm đó, vừa là một cảnh báo vừa là một cơ hội, bởi vì chính những mục tiêu và nguyên tắc mà họ đang đấu tranh hiện nay lúc đó cũng đã bị đe doạ. Cuối cùng, Cách mạng Cam thất bại, vì ban lãnh đạo mới (của Ukraine) không có khả năng và động lực để thực hiện các cải cách sâu rộng về kinh tế cũng như các vấn đề trong nước khác, một phần do thiếu sự quan tâm của phương Tây.

Mùa đông đang đến gần, Cách mạng Euromaidan đã một lần nữa đặt ra vấn đề này, và thách thức hiện tại cũng tương tự như một thập niên trước. Liệu phương Tây có cung cấp sự giúp đỡ hào phóng và mạnh mẽ để Ukraine trở nên giống châu Âu hơn ngay từ bên trong, cũng như xóa bỏ tham nhũng và nền cai trị đầu sỏ về kinh tế và xã hội hậu Xô-viết tại nước này hay không?

Ukraine vẫn là một nước có tiềm năng giàu mạnh, và ngày nay họ còn gần gũi hơn với châu Âu – và ngược lại [châu Âu cũng gần gũi hơn với họ] – hơn bất cứ thời điểm nào trong quá khứ. Nếu Ukraine thành công trong việc phá vỡ xiềng xích hậu Xô-viết, sẽ không còn gì ngăn cản tư cách thành viên Liên minh Châu Âu của nước này. Hơn nữa, phương Tây dường như cuối cùng cũng hiểu được những gì đang bị đe dọa ở Ukraine, cụ thể là tương lai của trật tự châu Âu và khuôn khổ hòa bình của nó.

Cách mạng Euromaidan có thành công hay không sẽ phụ thuộc quan trọng vào người dân Ukraine và khả năng họ tự giải phóng bản thân khỏi các cơ cấu, lực lượng của quá khứ; và vào sự hỗ trợ, sự hào phóng, và sự vững vàng của phương Tây. Trong vở kịch Faust của Goethe, quỷ Mephistopheles đã mô tả bản thân là “Một phần của thứ sức mạnh đó sản sinh ra điều tốt, nhưng vẫn đang luôn có mưu đồ xấu xa.” Rốt cuộc, điều tương tự có thể được gán cho trường hợp của Putin.

Joschka Fischer là Bộ trưởng Ngoại giao và Phó Thủ tướng Đức giai đoạn 1998 – 2005, một nhiệm kỳ được đánh dấu bằng sự hỗ trợ mạnh mẽ của Đức trong việc can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999, theo sau đó là việc phản đối chiến tranh tại Iraq. Fischer bắt đầu gia nhập chính trường sau khi tham gia các cuộc biểu tình chống chính quyền trong thập niên 1960 và 1970, và giữ vai trò quan trọng trong việc thành lập Đảng Xanh của Đức, nơi ông đã lãnh đạo trong gần hai thập kỷ.

Bản gốc tiếng Anh: Project Syndicate
 

Linh hồn Ukraine của châu Âu

Print Friendly, PDF & Email

sakharov

Tác giả: Joschka Fischer | Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Tháng Mười một này là kỷ niệm tròn một năm cuộc nổi dậy Euromaidan ở Kiev. Phần lớn dân số Ukraine – và cụ thể là giới trẻ – đã phản đối Tổng thống Ukraine lúc đó là Viktor Yanukovych, khi ông này từ chối ký thỏa thuận gia nhập Liên minh châu Âu (vốn đã được hoàn tất sau nhiều năm đàm phán), nhằm gia nhập một liên minh thuế quan với Nga. Điều này cũng tương tự như việc Ukraine chuyển hướng về phía đông, và việc tham gia Liên minh Á-Âu của Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ loại bỏ mọi khả năng gia nhập EU.

Khi xem xét cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Ukraine, thì điều quan trọng cần ghi nhớ chính là điểm khởi đầu này – một cuộc cách mạng ủng hộ Liên minh châu Âu đầu tiên trong thế kỷ 21, được gây ra do sự phản đối ảnh hưởng của Nga cũng như tình trạng tham nhũng và yếu kém tại Ukraine thời hậu Xô-viết.

Nhiều việc đã xảy ra kể từ khi Nga phát động một cuộc chiến tranh không tuyên bố, đầu tiên là chiếm đóng và sau đó là sáp nhập Crimea. Ở miền đông Ukraine, điện Kremlin tiếp tục cuộc chiến ở vùng Donbas – mà về mặt quân sự thì chính quyền Kiev dường như không thể thắng được trong cuộc chiến này.

Mục tiêu của Nga không phải là chiếm đóng Ukraine bằng quân sự, mà là để gây bất ổn về chính trị và kinh tế – một chiến lược có thể bao gồm việc ly khai trong thực tế của nhiều vùng quan trọng tại miền đông Ukraine. Hơn nữa, Putin sẽ sử dụng mọi công cụ sẵn có – tất nhiên bao gồm cả việc cung cấp năng lượng – nhằm gây áp lực và ép buộc Ukraine trong mùa đông này.

Người châu Âu nên chuẩn bị sẵn cho những gì sắp xảy ra. Putin tin rằng thời gian đang đứng về phía mình; ông ta nghĩ rằng mình vẫn sẽ tại nhiệm khi tất cả những người đồng cấp phương Tây của ông – như Obama, Cameron, Hollande và Merkel – đã rời khỏi chính trường từ lâu.

Về quân sự, Ukraine đã, đang và sẽ không bao giờ có cơ hội chống lại quân đội Nga. Nhưng số phận của đất nước sẽ được quyết định không chỉ trên chiến trường, mà còn trên khía cạnh kinh tế, luật pháp, hành chính và chính trị. Câu hỏi quyết định là: Liệu Ukraine, dưới áp lực khổng lồ từ cuộc xâm lược quân sự của một nước láng giềng lớn hơn và mạnh hơn rất nhiều, có thể thành công trong việc hòa nhập vào châu Âu hay không? Một cách thẳng thắn: hoặc là họ thành công trong việc bắt chước sự chuyển hướng về phía châu Âu của Ba Lan, hoặc là họ sẽ lại một lần nữa rơi vào tầm ảnh hưởng lâu dài của Nga.

Đối với châu Âu, số phận của Ukraine là một câu hỏi chiến lược quan trọng, bởi vì nền độc lập của nước này chính là nền tảng cho trật tự châu Âu sau Chiến tranh Lạnh và khuôn khổ hòa bình của nó. Việc Nga dùng sức mạnh quân sự buộc Ukraine khuất phục sẽ phá vỡ trật tự đó và những nguyên tắc cơ bản của nó, gồm: không sử dụng vũ lực, không xâm phạm biên giới, và quyền tự quyết của người dân, hơn là phạm vi ảnh hưởng.

Điều này sẽ dẫn đến những hậu quả to lớn đối với an ninh không chỉ ở Đông Âu, mà còn trên toàn châu lục. Một nước Nga theo chủ nghĩa phục thù sẽ lại một lần nữa – vượt ra ngoài Kaliningrad và các nước Baltic – có chung đường biên giới dài với EU, và sẽ theo đuổi một vai trò khác biệt, quyết đoán hơn đáng kể trong sự tái thiết lập một cường quốc tại châu Âu. Đối với châu Âu, điều này sẽ là một thay đổi cơ bản theo chiều hướng xấu. Hợp tác sẽ bị thay thế bằng đối đầu, sự tin tưởng bị thay bằng mất lòng tin, và kiểm soát vũ khí bị thay bằng tái vũ trang.

Nếu EU và các nước thành viên (ngoại trừ Ba Lan và các nước Baltic) có gì sai lầm, thì đó không phải là vì họ đã thương lượng một thỏa thuận thương mại tự do với Ukraine, mà bởi vì họ đã phớt lờ tầm quan trọng của Ukraine đối với trật tự châu Âu sau Chiến tranh Lạnh, phản ánh bằng việc không hỗ trợ đầy đủ cho quá trình hiện đại hóa của nước này.

Các chính trị gia phương Tây đáng lẽ nên nhận ra rằng Cách mạng Cam của Ukraine năm 2004, xảy ra do Yanukovych cố gắng cướp trắng kết quả bầu cử tổng thống năm đó, vừa là một cảnh báo vừa là một cơ hội, bởi vì chính những mục tiêu và nguyên tắc mà họ đang đấu tranh hiện nay lúc đó cũng đã bị đe doạ. Cuối cùng, Cách mạng Cam thất bại, vì ban lãnh đạo mới (của Ukraine) không có khả năng và động lực để thực hiện các cải cách sâu rộng về kinh tế cũng như các vấn đề trong nước khác, một phần do thiếu sự quan tâm của phương Tây.

Mùa đông đang đến gần, Cách mạng Euromaidan đã một lần nữa đặt ra vấn đề này, và thách thức hiện tại cũng tương tự như một thập niên trước. Liệu phương Tây có cung cấp sự giúp đỡ hào phóng và mạnh mẽ để Ukraine trở nên giống châu Âu hơn ngay từ bên trong, cũng như xóa bỏ tham nhũng và nền cai trị đầu sỏ về kinh tế và xã hội hậu Xô-viết tại nước này hay không?

Ukraine vẫn là một nước có tiềm năng giàu mạnh, và ngày nay họ còn gần gũi hơn với châu Âu – và ngược lại [châu Âu cũng gần gũi hơn với họ] – hơn bất cứ thời điểm nào trong quá khứ. Nếu Ukraine thành công trong việc phá vỡ xiềng xích hậu Xô-viết, sẽ không còn gì ngăn cản tư cách thành viên Liên minh Châu Âu của nước này. Hơn nữa, phương Tây dường như cuối cùng cũng hiểu được những gì đang bị đe dọa ở Ukraine, cụ thể là tương lai của trật tự châu Âu và khuôn khổ hòa bình của nó.

Cách mạng Euromaidan có thành công hay không sẽ phụ thuộc quan trọng vào người dân Ukraine và khả năng họ tự giải phóng bản thân khỏi các cơ cấu, lực lượng của quá khứ; và vào sự hỗ trợ, sự hào phóng, và sự vững vàng của phương Tây. Trong vở kịch Faust của Goethe, quỷ Mephistopheles đã mô tả bản thân là “Một phần của thứ sức mạnh đó sản sinh ra điều tốt, nhưng vẫn đang luôn có mưu đồ xấu xa.” Rốt cuộc, điều tương tự có thể được gán cho trường hợp của Putin.

Joschka Fischer là Bộ trưởng Ngoại giao và Phó Thủ tướng Đức giai đoạn 1998 – 2005, một nhiệm kỳ được đánh dấu bằng sự hỗ trợ mạnh mẽ của Đức trong việc can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999, theo sau đó là việc phản đối chiến tranh tại Iraq. Fischer bắt đầu gia nhập chính trường sau khi tham gia các cuộc biểu tình chống chính quyền trong thập niên 1960 và 1970, và giữ vai trò quan trọng trong việc thành lập Đảng Xanh của Đức, nơi ông đã lãnh đạo trong gần hai thập kỷ.

Bản gốc tiếng Anh: Project Syndicate

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Lê Duẩn là hảo hán

Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: ‘Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc’ Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và...

Thống kê
  • Đang truy cập27
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm24
  • Hôm nay5,091
  • Tháng hiện tại173,536
  • Tổng lượt truy cập3,486,380
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây