03/08/1916: Roger Casement bị treo cổ

Chủ nhật - 04/08/2019 02:26
Vào ngày này năm 1916, Sir Roger David Casement, một nhà ngoại giao gốc Ireland, người được vua George V phong tước hiệp sĩ vào năm 1911, đã bị xử tử vì vai trò của ông trong cuộc Nổi dậy Phục sinh (Easter Rising) của Ireland
03/08/1916: Roger Casement bị treo cổ
03/08/1916: Roger Casement bị treo cổ


Nguồn: Sir Roger Casement hanged, History.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1916, Sir Roger David Casement, một nhà ngoại giao gốc Ireland, người được vua George V phong tước hiệp sĩ vào năm 1911, đã bị xử tử vì vai trò của ông trong cuộc Nổi dậy Phục sinh (Easter Rising) của Ireland
Casement là một người theo đạo Tin lành Ireland, từng giữ chức vụ trong bộ ngoại giao Anh vào khoảng đầu thế kỷ 20. Ông đã giành được sự hoan nghênh quốc tế sau khi vạch trần các hành vi sử dụng nô lệ bất hợp pháp ở Congo và một số nơi ở Nam Mỹ. Mặc dù có gốc gác Tin Lành Ulster, Casement đã trở thành người ủng hộ nhiệt tình cho phong trào giành độc lập cho Ireland, và sau khi Thế chiến I bùng nổ, ông đã đến Mỹ, rồi đến Đức để tìm kiếm viện trợ cho một cuộc nổi dậy của người dân Ireland chống lại Anh.
Đức, nước đang có chiến tranh với Vương quốc Anh, hứa sẽ cung cấp một khoản viện trợ nhất định và Casement được đưa về Ireland trong một tàu ngầm Đức. Ngày 21/04/1916, chỉ vài ngày trước khi cuộc Nổi dậy Phục sinh bùng nổ ở Dublin, ông đã đến Kerry và bị chính quyền Anh bắt ngay lập tức. Đến cuối tháng, cuộc nổi dậy đã bị đàn áp và phần lớn các nhà lãnh đạo của phong trào đã bị xử tử. Casement đã bị xét xử riêng vì quá khứ lừng lẫy của mình, nhưng ông vẫn bị kết tội phản quốc vào ngày 29/06; sang ngày 03/08, ông bị treo cổ ở London.
Thế nào mới được coi là diệt chủng?

Thế nào mới được coi là diệt chủng?



Nguồn: “The Economist explains: What counts as a genocide?”, The Economist, 23/4/2015.
Biên dịch: Lê Hoàng Giang | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Đúng một trăm năm trước, vào ngày 24/4/1915, chính quyền đế chế Ottoman đã vây bắt hàng loạt các nhà trí thức Armenia ở Istanbul, đa số họ đều đã bị giết hại ngay sau đó. Những gì đã diễn ra về sau vẫn còn là chủ đề tranh cãi gay gắt. Theo phiên bản (lịch sử) chính thức do Thổ Nhĩ Kỳ đưa ra, có khoảng 500.000 người Armenia đã chết, trong đó một số người chết khi chiến đấu trong lực lượng xâm lược của Nga chống lại đế chế Ottoman, trong khi cái chết của một số khác lại là do hậu quả phụ đáng tiếc của việc trục xuất [người Armenia] khỏi đế chế Ottoman, điều dễ hiểu nếu đặt vào bối cảnh lịch sử cụ thể lúc đó.
Nhưng nhiều học giả cho rằng đã có đến khoảng 1 – 1,5 triệu người Armenia bị thiệt mạng, và cái chết của họ là kết quả của một chiến dịch có chủ đích nhằm trừ khử cộng đồng tín đồ Cơ Đốc giáo có số lượng đáng kể duy nhất của đế chế Ottoman. Những người Armenia ở nước ngoài muốn vụ việc này được công nhận là nạn diệt chủng. Vậy có điều gì khác biệt giữa diệt chủng và các hành vi giết người hàng loạt khác, và vì sao việc chọn dùng thuật ngữ nào lại là quan trọng?
Năm 1948, Liên Hợp Quốc đã đưa ra một công ước nhằm ngăn chặn và trừng phạt tội diệt chủng, được định nghĩa là “sự hủy diệt có chủ ý và có hệ thống, toàn bộ hoặc một phần, một nhóm sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo hay dân tộc một quốc gia”.[1] Để đạt được sự nhất trí về câu chữ như vậy đã cần phải có sự thỏa hiệp. Chẳng hạn, nhằm vào các nạn nhân dựa trên cơ sở giai cấp của họ thì không bị coi là diệt chủng: Chắc chắn là Stalin đã không chịu ký vào công ước này nếu điều đó đồng nghĩa với việc ông ta phải giải trình vì đã thảm sát hàng loạt các “nông dân trung lưu”[2]và những người tương tự.
Các mốc thời gian ở dưới đây chỉ cho thấy một số cuộc thảm sát hàng loạt trong thế kỷ trước, bao gồm cả những cuộc thảm sát đã được công nhận là diệt chủng và những cuộc thảm sát chưa phù hợp với định nghĩa của Liên Hợp Quốc. Ví dụ, rõ ràng cuộc thảm sát người Tutsi thiểu số tại Rwanda dưới tay người Hutu đa số là một vụ diệt chủng. Nhưng những thảm kịch được thực hiện dưới tay chế độ Pol Pot tại Campuchia lại không theo sát định nghĩa trên, bởi chính quyền Khmer Đỏ không nhằm vào một nhóm người cụ thể nào.
  • 1915-16, Thổ Nhĩ Kỳ: Chính quyền đế chế Ottoman “trục xuất” tất cả người Armenia. Ước tính thương vong 500.000-1.500.000 người.
  • 1932-33, Holodomor, Ukraine: Nạn đói do Stalin gây ra nhằm vào người Ukraine. Ước tính thương vong 3-7 triệu người.
  • 1933-45, Holocaust, Châu Âu: Đức Quốc xã diệt trừ người Do Thái, Roma và các nhóm người khác. Ước tính thương vong 15 triệu người.
  • 1936-38, Đại Thanh trừng, Liên Xô: Stalin trừ khử các đối thủ chính trị. Ước tính thương vong 681.692 người.
  • 1937-38, Nam Kinh, Trung Quốc: Binh lính Nhật Bản giết hại cư dân thành phố Nam Kinh trong chiến tranh Trung – Nhật lần 2. Ước tính thương vong 300.000 người.
  • 1941-45, Croatia: Phong trào khủng bố Ustase giết hại người Do Thái, người Serbia và người Roma. Ước tính thương vong 350.000 người.
  • 1947-52, Cải cách Ruộng Đất, Trung Quốc: Dưới thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc khích động người dân đấu tố địa chủ và tái phân bố ruộng đất. Ước tính thương vong 245.000-1.100.000 người.
  • 1950-53, Chiến dịch đàn áp phản cách mạng, Trung Quốc: Trung Quốc xử tử những người “phản cách mạng” để đàn áp các lực lượng chống đối. Ước tính thương vong 700.000 người.
  • 1975-79, Campuchia: Chính quyền Khmer Đỏ tàn sát chính người dân của mình nhằm “thanh tẩy” dân cư. Ước tính thương vong 2 triệu người.
  • 1986-89, Chiến dịch Al-Anfar (“Chiến lợi phẩm”), Iraq. Chính quyền Saddam Hussein thảm sát người Kurd ở miền bắc Iraq. Ước tính thương vong 100.000 người.
  • 1994, Rwanda: Trong 100 ngày, các binh sĩ thuộc bộ tộc người đa số Hutu giết hại những người Tutsi và người Hutu ôn hòa. Ước tính thương vong 800.000 người.
  • 2003-10, Darfur, Sudan: Dân quân Janjaweed, với sự ủng hộ từ chính phủ, sát hại dân thường ở miền tây Sudan. Ước tính thương vong 300.000 người.
Nguồn: The Economist; Reiss Institute; “China’s Bloody Century” của R. Rummel; “Life and Terror in Stalin’s Russia, 1934-1941” của R. Thurston.
Từ “diệt chủng” có sức mạnh rất lớn. Nếu việc thảm sát hàng loạt được công nhận là diệt chủng khi đang diễn ra, thì các lực lượng bên ngoài sẽ khó có thể ngồi yên được. Còn khi vụ việc đã kết thúc, thì chính thức công nhận đó là diệt chủng có thể đem lại cho những người sống sót chút ít hài lòng nghiệt ngã. Nhưng nếu vụ việc không được công nhận là diệt chủng, dù là vì vấn đề chuyên môn hay vì mưu đồ chính trị, thì đó sẽ giống như sự sỉ nhục sau cùng tới các nạn nhân. Và một số nhà hoạt động nhân quyền và luật gia cũng thấy rằng việc coi diệt chủng là “tội ác của mọi tội ác” đôi khi khiến cho những tội ác khủng khiếp khác chống lại loài người bị lu mờ.
Mới gần đây, cả Giáo hoàng Francis và Nghị viện Châu Âu đều đã công khai coi các cuộc thảm sát người Armenia là diệt chủng: Giáo hoàng tuyên bố như vậy trong một buổi gặp gỡ vào ngày 12/4 với sự tham dự của Tổng thống Armenia, còn Nghị viện Châu Âu thì công nhận trong một cuộc biểu quyết diễn ra sau đó ba ngày, khen ngợi tuyên bố của Giáo hoàng và kêu gọi Thổ Nhĩ Kỳ công nhận những vụ sát hại này là diệt chủng. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã phản ứng một cách giận dữ. Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan nói rằng “Không thể nào có chuyện Thổ Nhĩ Kỳ chấp nhận một tội ác, một tội lỗi như vậy”.
Bộ trưởng Ngoại giao của Erdogan cho rằng Giáo hoàng đã bị lôi kéo bởi những lời tuyên truyền do những người Armenia – được cho là nắm giữ quyền kiểm soát báo giới tại Argentina, quê hương của Giáo hoàng – truyền bá. Trớ trêu là Tổng thống Erdogan lại là vị lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ tích cực nhất trong việc thừa nhận những đau khổ mà người Armenia dưới thời đế chế Ottoman phải chịu đựng: chính ông đã bày tỏ lòng thương tiếc [với những người Armenia] vào ngày 24/4 năm ngoái. Thế nhưng, sự sẵn lòng của chính phủ Erdogan trong việc đối mặt và gọi tên những tội lỗi quá khứ vẫn chỉ có giới hạn.
——————-
[1] Nguyên văn: “the deliberate and systematic destruction, in whole or in part, of an ethnical, racial, religious or national group”.
[2] Nguyên văn: “Middle peasants”.
Biến đổi trong quan hệ tam giác Mỹ – Trung – Đài dưới thời Trump


Nguồn: Chris Horton, “Taiwan’s Status is a Geopolitical Absurdity”,  The Atlantic, 09/07/2019.
Biên dịch: Ngô Việt Nguyên
Sau 9 năm xây dựng, hơn 400 nhà ngoại giao và nhân viên Mỹ đã dọn vào các văn phòng tại Đài Bắc, một khuôn viên trị giá 250 triệu đô la Mỹ được xây chìm vào một ngọn đồi xanh tốt và được bảo vệ bởi lính thủy đánh bộ Mỹ. Các nhân viên sẽ cung cấp hỗ trợ lãnh sự cho các công dân Mỹ ở Đài Loan và giúp người Đài Loan xin visa để thăm Mỹ, như bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.
Nhưng đây không phải là một đại sứ quán hay lãnh sự quán – ít ra chính thức thì không phải như vậy. Đây là Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan, cái tên thường làm người khác nghĩ rằng đây là một viện nghiên cứu chứ không phải là một phái bộ ngoại giao. Đây là kết quả của một thỏa hiệp địa chính trị, tuy không phải là vấn đề lớn nhất mà Đài Loan phải đối mặt, nhưng cũng đủ để phác họa tình cảnh trớ trêu mà hòn đảo này phải gánh chịu.
Đài Loan không được công nhận là một quốc gia bởi đồng minh quan trọng nhất của họ, nước Mỹ. Đài Loan phải đối diện với một mối đe dọa sống còn từ lãnh thổ mà họ tuyên bố chủ quyền, Trung Quốc đại lục. Chủ quyền của họ dần bị xóa nhòa bởi các công ty tìm cách duy trì khả năng tiếp cận thị trường Trung Quốc. Khi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng, và với việc Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn sẽ đến thăm Mỹ vào tuần này, việc hiểu rõ hoàn cảnh trớ trêu này của Đài Loan ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết.
Chính thức có 17 quốc gia công nhận chính quyền dân chủ của Đài Loan, nơi còn được gọi là Trung Hoa Dân Quốc, nhưng Liên Hiệp Quốc công nhận chính quyền Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa ở Bắc Kinh, tuy không bao giờ kiểm soát Đài Loan, là người đại diện cho hòn đảo. Điều này dẫn đến một trong những điều trớ trêu ảnh hưởng đến Đài Loan. Tuy 23 triệu người Đài Loan có thể đi khắp thế giới với passport Đài Loan, và passport in dòng chữ Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) là một trong những passport nhiều quyền lực nhất thế giới, nhưng họ lại không thể vào tòa nhà Liên Hiệp Quốc. (Điều này bất chấp thực tế là vào năm 1942, Trung Hoa Dân quốc là một trong những nước đầu tiên ký Tuyên bố Liên Hiệp Quốc.) Tuy Washington không công nhận Trung Hoa Dân quốc, Đài Loan là đối tác thương mại lớn thứ 11 của Mỹ, là nền kinh tế lớn thứ 22 thế giới, và là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng của Thung lũng Silicon.
Mặc cho sự hiện diện quốc tế hạn chế, tầm quan trọng chiến lược của Đài Loan với Mỹ và một nước Trung Quốc ngày càng tự tin là rất lớn. Vị trí địa lý, nền kinh tế, và an ninh của hòn đảo tất cả đều mang tính thiết yếu đối với lợi ích của Mỹ, và nếu Đài Loan thành một phần của Trung Quốc, như Bắc Kinh khẳng định, thì Trung Quốc ngay lập tức sẽ trở thành một cường quốc khu vực Thái Bình Dương, nắm quyền kiểm soát một phần những công nghệ tiên tiến nhất thế giới, và có khả năng bóp nghẹt nguồn dầu thô cho Nhật và Hàn Quốc, những quân bài Trung Quốc có thể dùng để đòi Mỹ phải đóng cửa các căn cứ quân sự tại hai nước nói trên. Nhờ vậy, Bắc Kinh có thể đạt được mục đích đẩy Mỹ ra khỏi Châu Á. Không có gì bất ngờ khi Đài Loan là một trong số ít những vấn đề mà Quốc hội Mỹ có sự đồng thuận. Quốc hội Mỹ đã thường xuyên thông qua các đạo luật có lợi cho Đài Loan với mức ủng hộ tuyệt đối xuyên suốt nhiệm kỳ của Donald Trump.
Dù vậy, điều đó không xoa dịu nỗi lo của các quan chức đối với mối đe dọa đến từ Trung Quốc. Bắc Kinh có khoảng 1.600 tên lửa đạn đạo nhắm vào hòn đảo, và họ ngày càng gia tăng sức ép buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải đề tên Đài Loan là một tỉnh của Trung Quốc. Mỹ là quốc gia duy nhất dù không công nhận Đài Loan nhưng đồng ý tiếp đón tổng thống và ngoại trưởng Đài Loan. Thực tế này hạn chế cách mà các chính trị gia Đài Loan có thể lên tiếng trên trường quốc tế.
“Chính quyền Đài Loan được bầu một cách dân chủ – chúng tôi có tổng thống, có quốc hội,” Ngoại trưởng Joseph Wu (Ngô Chiêu Nhiếp) nói một cách buồn rầu trong một cuộc họp báo với báo chí quốc tế đầu năm nay. Trong khoảng thời gian này, chính quyền Đài Loan đang tìm cách được tham gia Hội đồng Y tế Thế giới (Nhưng cuối cùng họ bị Trung Quốc ngăn chặn.) “Chúng tôi cấp visa, chúng tôi cấp passport,” ông nói, gần như là van xin. “Chúng tôi có quân đội và tiền tệ … Đài Loan tự tồn tại, Đài Loan không là một phần của bất kỳ một nước nào khác.”
Giờ chúng ta nên tìm hiểu thêm về bối cảnh của Đài Loan: Trung Hoa Dân quốc là chính quyền từng cai trị Trung Quốc dưới thời Quốc Dân Đảng Trung Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo. Tưởng là một đồng minh chủ chốt của Mỹ trong Thế chiến II, ông đã gây áp lực lên chuỗi cung ứng quân sự của Nhật trong khi ông dần rút quân về phía Tây Trung Quốc giai đoạn quân Đồng minh đang tập trung vào Châu Âu. Sau khi phe Đồng minh thắng Nhật năm 1945, Tokyo thực tế đã từ bỏ Đài Loan, nơi là thuộc địa của Nhật trong 50 năm. Tổng thống Harry Truman, với mong muốn đưa quân Mỹ về nước, sẵn lòng giao Đài Loan cho Tưởng.
Đối với Tưởng, việc “trao trả” Đài Loan cuối cùng trở thành một lối thoát vô giá. Cuộc cách mạng Cộng sản đẫm máu của Mao lật đổ chính quyền Tưởng, và họ rút về Đài Loan vào năm 1949, chỉ bốn năm sau khi họ bắt đầu quản lý Đài Loan như một tỉnh. Ngay khi đến Đài Loan, chế độ đảng trị Quốc Dân Đảng nói tiếng Quan thoại đã áp đặt bản sắc Trung Quốc theo cách họ nghĩ lên những người dân Đài Loan nói tiếng Nhật, một số ngôn ngữ địa phương của Trung Quốc, và một sự pha trộn đa dạng các ngôn ngữ Austronesia bản địa.
Ở Đài Bắc ngày nay, di sản của sự đồng hóa dưới tay Tưởng và con trai của ông là Tưởng Kinh Quốc có thể thấy khắp nơi. Khi tôi đi mua cà phê ở tiệm 7-Eleven ở đây, ngày tháng được viết trên hóa đơn không ghi năm 2019, mà là năm 108, vì Đài Loan đánh dấu năm từ khi Trung Hoa Dân quốc thành lập (năm 1911), lúc đó Đài Loan được thế giới bên ngoài biết đến với tên là Đài Loan thuộc Nhật (Japanese Formosa).
Đường sá, quận huyện, trường học, và các trường đại học ở khắp Đài Loan được đặt theo tên của Tưởng, thường với tên húy là Trung Chính. Nhiều con đường ở Đài Bắc được đặt tên theo các thành phố Trung Quốc, những thành phố mà một ngày nào đó Trung Hoa Dân quốc sẽ lấy lại từ tay những “kẻ cướp Cộng sản,” như cách chính quyền của Mao bị gọi trong thời Chiến tranh lạnh. (Điều đáng chú ý là không có con đường nào ở Trung Quốc được đặt tên theo Mao.)
Hiến pháp hiện tại của Trung Hoa Dân quốc vẫn tuyên bố rằng Đài Loan, Trung Quốc, Mông Cổ và toàn bộ Biển Đông là lãnh thổ của họ, phản ánh sự mong muốn của Tưởng về việc khôi phục sự kiểm soát những khu vực mà nhà Thanh cai trị hay tuyên bố chủ quyền trong thời kỳ hoàng kim của họ, trước khi chủ nghĩa thực dân châu Âu, Nhật và Mỹ bắt đầu xâm phạm. Di sản của sự ám ảnh muốn “chiếm lại Trung Quốc” của Tưởng cũng được phản ánh trong sự hiện diện quốc tế của Đài Loan. Năm 1971, ông rút Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc, ngay trước khi họ thua vòng bỏ phiếu vốn sẽ giao ghế Hội đồng Bảo an của Trung Quốc cho chính quyền Bắc Kinh. Nhiều năm trước đó, Mỹ đã thúc đẩy Tưởng một cách vô vọng về việc từ bỏ ghế Hội đồng Bảo an để đổi lấy một ghế Đại hội đồng cho Đài Loan, khi mà điều hoang đường về việc Trung Hoa Dân quốc là chính quyền hợp pháp duy nhất của toàn bộ Trung Quốc (và Đài Loan) bắt đầu bị đổ vỡ.
Sau khi Tưởng mất vào năm 1975, con trai ông vẫn duy trì ước vọng hão huyền rằng Trung Hoa Dân quốc sẽ vượt eo biển Đài Loan trong vinh quang để lấy lại đại lục. Vào năm 1981, chính quyền Tưởng Kinh Quốc từ chối đề nghị của Ủy ban Olympic Quốc tế về việc tham dự Olympic dưới tên gọi Đài Loan, khẳng định rằng họ chỉ tham gia dưới một cái tên có liên quan đến Trung Quốc, và cuối cùng chấp nhận sử dụng tên gọi mà các vận động viên Đài Loan vẫn dùng để tham dự đến ngày hôm nay: Đài Bắc Trung Hoa.
Hai năm trước đó, Jimmy Carter quyết định từ bỏ quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Bắc để công nhận Bắc Kinh, chấm dứt quá trình được bắt đầu vào năm 1972 bởi Richard Nixon và Henry Kissinger. Carter đã không thông báo với quốc hội, nơi các “Chiến binh Chiến tranh Lạnh” ủng hộ mạnh mẽ chính quyền độc tài của Tưởng chống Cộng ở bên kia eo biển – và vì thế, lúc đó không có một bộ máy nào để tiếp tục quan hệ với Đài Loan ở cấp độ phi chính thức.
Một tổ chức đóng vai trò chủ đạo bất ngờ, Phòng Thương mại Mỹ, đã nhảy vào giúp Quốc hội phác thảo một hướng đi cho quan hệ song phương trong tương lai, ủng hộ một bộ khung rõ ràng để nâng đỡ những khoản đầu tư khổng lồ của Mỹ vào Đài Loan, cũng như là một hệ thống để giúp Đài Loan có các phương tiện bảo vệ mình trước Trung Quốc. Từ đây, Đạo luật Quan hệ với Đài Loan (Taiwan Relations Act) ra đời, đạo luật được hàng chục quan chức Mỹ do cựu Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan dẫn đầu hân hoan kỷ niệm 40 năm ngày ra đời vào tháng 4 vừa qua. Đạo luật được thông qua với tỷ lệ siêu đa số không thể phủ quyết được (345 – 55 ở hạ viện, 85 – 4 ở thượng viện – ND).[1]
Ca ngợi Đạo luật Quan hệ với Đài Loan là “nền tảng của quan hệ Mỹ-Đài,” Thượng nghị sĩ Marco Rubio, người không thuộc phái đoàn, đã phản ánh quan điểm mạnh mẽ của Quốc hội về tầm quan trọng của Đài Loan đối với những lợi ích của Mỹ. “Chúng ta phải tiếp tục củng cố liên minh với Đài Loan, một nền dân chủ, khi đối mặt với sự khiêu khích ngày càng gia tăng từ Trung Quốc trong khu vực,” ông nói với tôi. “Đài Loan là một đối tác an ninh quan trọng trong việc đạt được mục tiêu khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mở và tự do.”
Những phần quan trọng của Đạo luật Quan hệ với Đài Loan bao gồm thừa nhận (acknowledge), nhưng không công nhận (recognize), chủ quyền của Trung Quốc với Đài Loan, coi thực trạng của Đài Loan là điều chưa được xác định nhưng phải được giải quyết một cách hòa bình, coi các nỗ lực của Trung Quốc nhằm ép buộc Đài Loan thống nhất là một mối đe dọa lớn đối với an ninh Mỹ, cho phép bán vũ khí phòng vệ cho Đài Loan nhằm răn đe Trung Quốc, và thành lập Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan.
Ba điều khoản đầu tiên đã được duy trì tương đối vững vàng từ thời Carter đến Trump, nhưng việc bán vũ khí đã chậm lại sau thỏa thuận vào năm 1992 khi Tổng thống Bush (cha) bán 150 máy bay chiến đấu F-16 cho Đài Bắc. Đối mặt với sự trỗi dậy về kinh tế và chính trị của Trung Quốc, Bill Clinton, Bush con, và Barack Obama đa phần nhún nhường. Họ e dè không muốn chấp thuận những thỏa thuận bán vũ khí lớn hay thường xuyên cho Đài Loan vì sợ làm Bắc Kinh tức giận. Họ thường chỉ thông qua những thỏa thuận tầm trung nhằm gửi tín hiệu cho Trung Quốc thấy rằng họ không hài lòng với Trung Quốc.
Điều này thay đổi dưới nhiệm kỳ Trump, người tiến hành thương chiến chống Trung Quốc và là người lãnh đạo một Nhà Trắng ủng hộ Đài Loan mạnh mẽ nhất kể từ khi Đạo luật Quan hệ với Đài Loan có hiệu lực. Bộ Ngoại giao Mỹ và Lầu Năm Góc có nhiều quan chức có tư tưởng “diều hâu” với Trung Quốc và là bạn của Đài Loan, và hiện đang có những nỗ lực rõ ràng nhằm thúc đẩy bình thường hóa việc bán các gói vũ khí lớn nhỏ cho Đài Loan. Một gói cung cấp huấn luyện và phụ kiện cho máy bay F16 trị giá 500 triệu đô la Mỹ được thông qua vào tháng 4, điều cho thấy việc thông qua đề nghị mua thêm 66 máy bay F-16 từ Đài Loan vào cuối tháng 2 sẽ gần đến. Vào đầu tháng 6, Reuters đưa tin một gói vũ khí trị giá 2 tỉ đô la sẽ sắp được bán, bao gồm 108 xe tăng M1A2 Abrams. Trung Quốc đã phản đối, và một phát ngôn viên ở Bắc Kinh hối thúc Mỹ “nhận thức được sự nhạy cảm và những tổn hại nghiêm trọng gây ra bởi thỏa thuận bán vũ khí cho Đài Loan.”
Khi Đài Loan chuẩn bị cho bầu cử tổng thống và quốc hội vào tháng 1 tới – giữa những lo âu về một chiến dịch gây ảnh hưởng quyết liệt từ Trung Quốc – chúng ta có thể trông đợi các thành viên quốc hội và quan chức chính quyền Trump, vốn coi bà Thái là một “đối tác an toàn” và thận trọng với một Quốc Dân đảng thân Trung Quốc, sẽ đeo đuổi một mối quan hệ với Đài Loan ở mức giống như quan hệ giữa hai đồng minh ngoại giao chính thức. Hai chặng dừng “quá cảnh” của bà Thái ở Mỹ trong những ngày sắp đến sẽ kéo dài hai đêm, trong khi các nghi thức ngoại giao trước kia chỉ cho phép Tổng thống Đài Loan quá cảnh trong một đêm.
Chiều hướng này sẽ tiếp tục trong thời gian chuẩn bị diễn ra bầu cử Đài Loan vào tháng 1. Đi kèm với đó sẽ là những chỉ trích lớn hơn từ Bắc Kinh, các lời đe dọa quân sự và việc đánh cắp các đồng minh ngoại giao còn lại của Đài Loan, khi mối quan hệ giữa Washington và Đài Bắc dần thay đổi.
Chris Horton là một nhà báo làm việc tại Đài Bắc.
——————
[1] Đạo luật Taiwan Travel Act (tạm dịch là Đạo luật Thăm viếng Đài Loan) được lưỡng viện quốc hội Mỹ thông qua với tỷ lệ tán thành tuyết đối và được ký thành luật vào tháng 3 năm 2018. Đạo luật nâng tầm quan hệ lên mức cho phép quan chức các cấp của hai bên được gặp nhau, tuy rằng quan hệ vẫn ở mức không chính thức – ND
29/07/1914: Hoàng đế Đức và Sa hoàng trao đổi điện tín
guồn: Kaiser Wilhelm of Germany and Czar Nicholas of Russia exchange telegramsHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào đầu giờ chiều ngày này năm 1914, Sa hoàng Nicholas II của Nga và người anh em họ của ông, Hoàng đế Wilhelm II của Đức, bắt đầu một cuộc trao đổi điện tín liên tục liên quan đến cuộc chiến vừa mới nổ ra ở vùng Balkan và khả năng leo thang thành một cuộc chiến tranh toàn châu Âu.
Một ngày trước đó, Áo-Hung đã tuyên chiến với Serbia, một tháng sau vụ ám sát Thái tử Áo Franz Ferdinand và vợ ông tại Sarajevo bởi một người theo chủ nghĩa dân tộc Serbia. Trước khi xảy ra vụ ám sát, Đức đã hứa với Áo-Hung sẽ hỗ trợ vô điều kiện trong bất kỳ hành động trừng phạt nào đối với Serbia, bất kể việc đồng minh hùng mạnh của Serbia, tức Nga, có bước vào cuộc xung đột này hay không.
Vào thời điểm tối hậu thư của Áo – Hung dành cho Serbia bị từ chối vào ngày 25 tháng 07, Nga, bất chấp những kỳ vọng của Áo-Đức, đã ra lệnh động viên quân đội, tin rằng Berlin đang sử dụng cuộc khủng hoảng do vụ ám sát như một cái cớ để phát động một cuộc chiến tranh nhằm củng cố quyền lực ở Balkan.
Mối quan hệ giữa Nicholas và Wilhelm, hai người cháu của Nữ hoàng Anh Victoria, từ lâu đã trở nên khó khăn. Mặc dù Wilhelm tự coi mình là đứa cháu được yêu thích nhất của Victoria, vị nữ hoàng vĩ đại đã cảnh báo Nicholas hãy cẩn thận với “những hành động tinh quái và không ngay thẳng” của Wilhelm. Victoria đã không cho mời vị hoàng đế Đức, người mà bà mô tả với thủ tướng của mình là “một gã thanh niên nóng nảy, tự phụ và ương ngạnh”, tới Đại lễ Kim cương (Diamond Jubilee) của bà năm 1897, cũng như sinh nhật lần thứ 80 của bà hai năm sau đó. Bản thân Sa hoàng Nicholas đã bình luận vào năm 1902 sau cuộc gặp với Wilhelm rằng: “Hắn là một gã điên cuồng!” Tuy nhiên, vào thời điểm này năm 1914, hai người anh em họ đang đứng ở trung tâm của cuộc khủng hoảng sẽ sớm leo thang thành Thế chiến I.
04/11/1979: Sinh viên Iran tấn công Đại sứ quán Hoa Kỳ
Nguồn: Iranian students storm U.S. embassy in Tehran, leading to oil embargo, History.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1979, hàng trăm sinh viên Iran đã xông vào Đại sứ quán Mỹ tại Tehran, bắt giữ hơn 60 con tin người Mỹ. Nhóm sinh viên này ủng hộ giáo sĩ Hồi giáo bảo thủ Ayatollah Khomeini. Họ đòi trục xuất nhà lãnh đạo bị lật đổ của Iran, Shah Mohammed Reza Pahlevi, người đã trốn sang Ai Cập hồi tháng 1/1979, và tới tháng 11 thì được điều trị ung thư tại Mỹ. Sau cuộc tấn công của sinh viên, Tổng thống Jimmy Carter đã ra lệnh cấm vận hoàn toàn đối với dầu mỏ của Iran.
Lệnh cấm vận này chỉ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng năng lượng đã diễn ra từ đầu năm 1979. Một cuộc đình công trên các giếng dầu Iran và cuộc cách mạng vào tháng 1 đã làm gián đoạn nguồn cung dầu từ nước này. Tổ chức Các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cũng tăng giá dầu xuất khẩu.
Tất cả đẩy giá dầu lên mức cao nhất mọi thời đại. Tính đến thời điểm sinh viên chiếm Đại sứ quán vào tháng 11, người Mỹ đã phải đối mặt với hậu quả của cuộc khủng hoảng này: rất nhiều người xếp hàng ở trạm bơm, tranh nhau vì xăng dầu thiếu hụt, và thất vọng với những chiếc xe hao xăng do các hãng xe Mỹ sản xuất.
“Cú sốc dầu mỏ” này nhắc nhở người Mỹ về cuộc khủng hoảng dầu 1973 – 1974, khi cấm vận của OPEC đã đẩy giá xăng dầu tăng vọt. Vào thời điểm cấm vận kết thúc, giá gas bán lẻ trung bình tăng từ 38 cent/gallon lên đến 84 cent/gallon. Kết quả là việc chạy xe hơi hạng nặng của Mỹ trở nên cực kỳ đắt đỏ, nhiều chiếc tốn cả gallon xăng để chạy chưa tới 10 dặm! Nhiều người đã bán chiếc xe hơi “khổng lồ” của mình để mua những chiếc xe nhỏ gọn, tiết kiệm nhiên liệu hơn. Tình trạng này dẫn đến một kết thúc chẳng mấy tốt đẹp đối với các nhà sản xuất ô tô Mỹ, những người đã vội vã đưa ra thị trường một số loại xe nhỏ hơn nhưng lại không kiểm tra kỹ lưỡng, khiến họ bị mang tiếng là không đáng tin và chất lượng chế tạo kém. Khi cuộc khủng hoảng lắng xuống, hầu hết các mẫu xe của các nhà sản xuất trong nước đã bị vứt xó tại đại lý.
Khủng hoảng con tin năm 1979 làm phức tạp thêm khủng hoảng năng lượng. Thực tế, có nhiều nhà sử học tin rằng sự kết hợp của hai sự kiện này đã khiến Tổng thống Carter mất chức. Tuy nhiên, vẫn có một vài người được hưởng lợi. Chẳng hạn, các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã gầy dựng danh tiếng là người sản xuất các mẫu xe giá rẻ, đáng tin cậy, hoạt động hiệu quả, đặc biệt thích hợp với giai đoạn thắt lưng buộc bụng. Mẫu sedan của các hãng Datsun, Subaru, Toyota và Honda là những chiếc xe thành công nhất năm 1979. Tất cả đều nhờ khủng hoảng năng lượng để giành được chỗ đứng lâu dài trong thị trường Mỹ.
Tháng 4/1980, Tổng thống Carter đã cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với chính phủ Iran, nhưng sau khi sứ mệnh giải cứu tuyệt mật bị thất bại, ông buộc phải tiếp tục đàm phán với chế độ Khomeini. Bất chấp nỗ lực giải cứu con tin của Carter, ông đã không thể giúp họ được tự do khi còn là Tổng thống. Phía Iran cuối cùng đã chịu thả con tin vào ngày 20/01/1981, chỉ vài phút sau khi tân Tổng thống Ronald Reaganhoàn thành phát biểu nhậm chức.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

NÊN CÔNG BẰNG VỚI DÂN KHÔNG LẤY AI ĐÁNH GIẶC!

( Nhân vụ kiện của dân Bằng A lên Tòa án quận Hoàng Mai) Nhà thơ Đỗ Hoàng Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Tòa án Quận Hoàng Mai có công văn gửi ông Chủ tịch UBND quận Hoàng Mai về việc nhận đơn khiếu kiện của ông Lưu Bách Thuật và bà Lưu Thị Hợi trú tại cụm dân cư Bằng A, phường Hoàng Liệt, quận...

Thống kê
  • Đang truy cập38
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm37
  • Hôm nay6,093
  • Tháng hiện tại44,132
  • Tổng lượt truy cập4,265,025
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây