Thỏa thuận hạt nhân gây căng thẳng giữa Iran và Mỹ

Chủ nhật - 18/08/2019 07:31
Tổng thống Barack Obama gọi đó là “thỏa thuận không phổ biến vũ khí hạt nhân chặt chẽ nhất từng được đàm phán”. Tổng thống Donald Trump đã chế giễu nó là “một trong những thỏa thuận tồi tệ nhất từ ​​trước tới nay”. Giờ đây, Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA) – tên gọi rắc rối được đặt cho thỏa thuận hạt nhân đa quốc gia được ký giữa Iran và sáu cường quốc thế giới năm 2015
Thỏa thuận hạt nhân gây căng thẳng giữa Iran và Mỹ

Thỏa thuận hạt nhân gây căng thẳng giữa Iran và Mỹ

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: The nuclear deal fuelling tensions between Iran and AmericaThe Economist, 23/07/2019.

Biên dịch: Lê Hồng Loan

Tổng thống Barack Obama gọi đó là “thỏa thuận không phổ biến vũ khí hạt nhân chặt chẽ nhất từng được đàm phán”. Tổng thống Donald Trump đã chế giễu nó là “một trong những thỏa thuận tồi tệ nhất từ ​​trước tới nay”. Giờ đây, Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA) – tên gọi rắc rối được đặt cho thỏa thuận hạt nhân đa quốc gia được ký giữa Iran và sáu cường quốc thế giới năm 2015 – đang gặp phải khó khăn trong việc duy trì sự tồn tại của mình. Ông Trump đã giáng một đòn chí mạng vào thỏa thuận này vào năm ngoái bằng cách rút Mỹ ra khỏi hiệp định. Và Iran đã gây ra thêm nhiều rạn nứt hơn vào tháng 7 năm nay bằng cách vi phạm một số giới hạn đã thỏa thuận, về quy mô dự trữ uranium độ giàu thấp và về nồng độ vật liệu phân hạch. Khi căng thẳng gia tăng ở vùng Vịnh, Mỹ và Iran dường như cũng đang trong quá tiến tới xung đột với nhau. Vậy, chính xác JCPOA là gì?

Năm 2002, thế giới biết đến một địa điểm làm giàu uranium lớn, bí mật của Iran được xây dựng sâu dưới lòng đất. Iran tuyên bố họ dự định sản xuất uranium độ giàu thấp cho các nhà máy điện hạt nhân. Phần còn lại của thế giới nghi ngờ đây là một phần của chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân bí mật, nhằm cung cấp cho Iran khả năng sản xuất những vật liệu độ giàu cao để chế tạo bom. Năm 2003, ngay sau khi Tổng thống George W. Bush tuyên bố “cuộc chiến toàn cầu với khủng bố” và Mỹ xâm chiếm Iraq, Iran tuyên bố sẽ đình chỉ mọi hoạt động liên quan đến làm giàu hạt nhân, như một phần trong chính sách ngoại giao với châu Âu. Nhưng khi căng thẳng khu vực gia tăng trong thập niên tiếp theo, chương trình hạt nhân Iran đã nhanh chóng phát triển. Các cường quốc phương Tây, do lo ngại sự phát triển vũ khí hạt nhân của Iran và cuộc chạy đua vũ trang ở Trung Đông có thể tiếp nối, liên tiếp đưa ra các lệnh trừng phạt ngày càng hà khắc để buộc Iran phải lùi bước. Tin đồn lan truyền rằng Israel có thể tiến hành các cuộc không kích, giống như đã làm đối với một lò phản ứng của Iraq năm 1981 và một địa điểm của Syria năm 2007.

Vào tháng 07 năm 2015, Iran đã đạt được một thỏa thuận với năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc) cũng như với Đức và Liên minh châu Âu. Nó đã khiến hàng ngàn máy ly tâm (máy làm giàu uranium) của Iran bị bỏ xó. Iran cũng đồng ý chỉ làm giàu uranium ở mức độ thấp không phù hợp với việc chế tạo bom và tích lũy không quá 300kg. Họ đổ bê tông vào lõi lò phản ứng nước nặng của mình tại Arak, nơi nếu không có thể đã tạo ra plutonium cho một quả bom. Và Iran đã đồng ý với một chế độ thanh sát nghiêm ngặt nhất so với bất cứ đâu trên thế giới. Đổi lại, một số lệnh trừng phạt đã được dỡ bỏ, mang lại sự cứu trợ cho nền kinh tế bị tổn hại của Iran.

Những người đề xuất thỏa thuận đã lập luận rằng các hạn chế này đã khiến Iran ngừng bước tại thời điểm hơn một năm nữa sẽ có thể sản xuất lượng nhiên liệu tương đương một quả bom, chứ không phải một vài tháng. Theo ông Obama, “hành động quân sự sẽ chỉ có thể làm chậm lại chương trình của Iran trong một vài năm là nhiều nhất, tương ứng với một phần nhỏ của những hạn chế được áp đặt bởi thỏa thuận này”. Và ngay cả khi Iran lừa dối, về lý thuyết, nó chỉ có thể thực hiện một cách chậm chạp để tránh bị phát hiện. Không mấy ấn tượng với điều này, những nhân vật hiếu chiến ở Mỹ, Israel và các quốc gia vùng Vịnh đã chế giễu rằng ông Obama đã cho đi quá nhiều. Họ phàn nàn rằng Iran sẽ được phép tiếp tục một vài hoạt động làm giàu và mở rộng chương trình của mình khi các hạn chế giảm đi (hạn chế đầu tiên sẽ hết hạn sau 10 năm). Trong khi đó, Iran sẽ nhận được hàng tỷ đô la vốn có thể được họ chuyển cho các nhóm chiến binh đồng minh trong khu vực.

Vào tháng 05 năm 2018, ông Trump đã rút Mỹ ra khỏi JCPOA và sớm áp đặt lại các lệnh trừng phạt đối với Iran. Các nước châu Âu hứa sẽ bảo vệ quan hệ thương mại với Iran theo cách tốt nhất có thể, nhưng hầu hết các công ty muốn hy sinh các thỏa thuận với Iran hơn là chịu nguy cơ mất công việc kinh doanh tại thị trường Mỹ. Iran đơn phương duy trì thỏa thuận hạt nhân trong một năm. Nhưng vào tháng 04 năm 2019, ông Trump đã chấm dứt các lệnh miễn trừ cho phép một số quốc gia tiếp tục mua dầu mỏ của Iran. Đó là giọt nước làm tràn ly. Vào tháng 05 năm 2019, Iran thông báo rằng họ sẽ bắt đầu rút khỏi thỏa thuận, từng điều khoản một, trừ khi châu Âu có thể bảo vệ nền kinh tế Iran.

Kể từ đó, sự thù địch giữa Mỹ và Iran đã tăng lên. Các con tàu đã bị tấn công trong hoặc gần eo biển Hormuz, nơi một phần năm sản lượng xuất khẩu dầu toàn cầu phải đi qua. Vào tháng 06, Iran đã bắn hạ một máy bay không người lái của Mỹ; các máy bay ném bom của Mỹ được bố trí cách mục tiêu ở Iran chỉ mười phút khi ông Trump kêu gọi một cuộc tấn công trả đũa. Vào tháng 07, Mỹ tuyên bố đã bắn hạ một máy bay không người lái của Iran. Trong khi đó, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế đã xác minh rằng Iran đã phá vỡ giới hạn 300kg vào ngày 01 tháng 07, sau đó là ngưỡng tinh khiết 3,67% vào ngày 08 tháng 07.

Trừ khi Mỹ và Iran có thể tìm cách đàm phán một lần nữa, Iran sẽ trở lại với khả năng chế tạo bom hạt nhân; và ông Trump sẽ đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ những người hiếu chiến muốn không kích Iran. Điều gì có thể ngăn chặn một trong những cơn ác mộng này trở thành hiện thực? Có lẽ là một thỏa thuận tương tự như JCPOA.
An ninh con người (Human security)
 

Tác giả: Hoàng Cẩm Thanh & Nguyễn Hồng Bảo Thi

Khái niệm an ninh con người (human security) xuất hiện vào giai đoạn chứng kiến nhiều thay đổi lớn của thế giới – sự sụp đổ của Liên Xô, kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự xuất hiện những khuynh hướng trong việc xem xét và nghiên cứu khái niệm an ninh. Ngay từ đầu những năm 1990, các mối đe doạ và xung đột mới nảy sinh đi cùng với xu hướng toàn cầu hoá cũng như sự xuất hiện mạnh mẽ của các chủ thể phi quốc gia đã gây nên những bất ổn an ninh mới cho từng quốc gia cũng như cộng đồng thế giới.

Trong hoàn cảnh ấy, câu hỏi về vai trò của quốc gia dân tộc và khái niệm quyền lực, sức mạnh – đối tượng hàng đầu của an ninh – được xem xét lại. Theo đó, lý thuyết về “an ninh lấy con người làm trung tâm”, hay an ninh con người, đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và phát triển.

Khái niệm “an ninh con người” lầu đầu tiên được nêu lên trong Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) năm 1994. Theo UNDP, khái niệm an ninh từ lâu được các nước hiểu theo nghĩa hẹp là an ninh quốc gia, đóng gói trong phạm vi các mối đe dọa đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hay các vấn đề gắn liền với sự sinh tồn của một quốc gia như chiến tranh, chạy đua vũ trang, phổ biến vũ khí hạt nhân… UNDP cho rằng trong nhận thức về an ninh của mình, các quốc gia đã không lưu tâm tới những mối lo lắng chính đáng về an ninh của những người dân bình thường trong cuộc sống thường nhật của họ. Chính vì vậy tổ chức này đã đề ra khái niệm “an ninh con người”, bao gồm 7 thành tố chính: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng, và an ninh chính trị.

  • An ninh kinh tế: bảo đảm mức thu nhập cơ bản của con người (thông qua các công việc trong khu vực kinh tế tư nhân hay nhà nước, công việc làm công ăn lương hay từ phúc lợi xã hội của chính phủ). Mối đe doạ chính của an ninh kinh tế chính là tình trạng đói nghèo.
  • An ninh lương thực: đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận nguồn lương thực cơ bản để đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng cho một cuộc sống hiệu quả và khoẻ mạnh. Nguồn lương thực sẵn có để cung cấp là điều cần thiết nhưng chưa phải là một điều kiện đủ để đảm bảo an ninh lương thực vì con người vẫn có thể chết đói vì không có khả năng tiếp cận đến nguồn lương thực do hệ thống phân phối không hiệu quả hay con người thiếu khả năng mua hàng và sản xuất cho chính bản thân họ sử dụng.
  • An ninh y tế: đảm bảo sức khỏe cho mọi người dân. Sức khoẻ là một trong những nhân tố quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng đến an ninh. Ớ các nước đang phát triển, bệnh truyền nhiễm và ký sinh là nguyên nhân gây nên cái chết của hàng triệu người mỗi năm. Bệnh tật cũng gắn liền với điều kiện sống không an toàn như ảnh hưởng từ nguốn nước hay nguồn lương thực thiếu dưỡng chất. Còn ở các nước phát triển nhân tố chính gây tử vong là ung thư và những bệnh liên quan đến hệ tuần hoàn máu (liên quan đến lối sống). Mối đe doạ về bệnh tật và tổn thương sức khoẻ đặc biệt lớn hơn đối với những người nghèo, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em ở cả các nước phát triển và đang phát triển.
  • An ninh môi trường: bảo vệ con người trước các mối đe doạ từ môi trường. Các mối đe dọa từ môi trường được chia làm hai loại: thiên tai như lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần…và do con người gây ra bao gồm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất đai, ô nhiễm không khí, chặt phá rừng. Hiện tượng biến đổi khí hậu và những thảm hoạ sinh thái bắt nguồn trực tiếp phần lớn từ hoạt động của con người.
  • An ninh cá nhân: bảo vệ các cá nhân trước các hành vi bạo lực. Ở các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển, cuộc sống con người đều bị đe doạ bởi các hành vi bạo lực không thể dự đoán trước được. Một số hình thức đe doạ bạo lực bao gồm: đe dọa từ nhà nước (tra tấn, lao động khổ sai); đe dọa từ các quốc gia khác (chiến tranh, xung đột vũ trang giữa các nhóm xuyên biên giới); đe dọa từ các nhóm người khác (căng thẳng và xung đột sắc tộc); đe dọa từ các cá nhân hoặc băng nhóm chống lại các cá nhân và băng nhóm khác (tội phạm, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, bạo lực đường phố); đe dọa trực tiếp đối với phụ nữ và trẻ em (bạo lực trong gia đình, lạm dụng trẻ em)…
  • An ninh cộng đồng: Con người cảm thấy an toàn hơn khi họ là thành viên của một nhóm nào đó – như trong một gia đình, cộng đồng, tổ chức, nhóm sắc tộc hay dân tộc. Nếu một nhóm hay cộng đồng được an toàn thì tạo nên an ninh của thành viên trong cộng đồng ấy. Mối đe doạ đến an ninh cộng đồng xuất phát từ các tập quán đàn áp, trọng nam khinh nữ hay phân biệt sắc tộc, xung đột vũ trang, hay các tổ chức phiến quân.
  • An ninh chính trị: Một trong những khía cạnh quan trọng của an ninh con người gắn liền với sự đảm bảo tôn trọng các quyền cơ bản của con người khi họ sinh sống trong một xã hội. Đảm bảo an ninh chính trị là bảo vệ con người không phải chịu sự đàn áp, ngược đãi, đe doạ hay xâm hại của các lực lượng chính trị nhà nước hay của các nhà cầm quyền.

Có thể nói chính sự ra đời của khái niệm an ninh con người đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nhận thức của nhiều quốc gia về khái niệm “an ninh”. Trong đó quan trọng nhất chính là nhận thức về hai khía cạnh: an ninh cho ai và an ninh trước các mối đe dọa nào?

Nếu như theo cách hiểu truyền thống, an ninh đồng nghĩa với an ninh quốc gia, trong đó quốc gia là chủ thể cần được bảo vệ về mặt an ninh, thì theo cách hiểu mới, con người nổi lên trở thành chủ thể chính của an ninh và cần được ưu tiên bảo vệ. Bên cạnh đó, nếu như an ninh truyền thống (hay an ninh quốc gia) đề cao mối đe dọa đến từ ngoại xâm đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia thì an ninh con người tập trung vào các mối đe dọa thuộc “chính trị cấp thấp”, như nghèo đói, kém phát triển, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch…

Phân biệt an ninh con người và an ninh quốc gia

  An ninh con người An ninh quốc gia
Lợi ích Phục vụ con người, lấy con người làm trung tâm. Phục vụ nhà nước và những người trực thuộc nhà nước.
Mục đích Bảo vệ con người tránh khỏi những xâm lược từ bên ngoài và các mối đe dọa về: ô nhiễm môi trường, các dịch bệnh, tình trạng thiếu thốn kinh tế… Sử dụng các chiến lược răn đe để duy trì sự toàn vẹn của nhà nước và bảo vệ quốc gia tránh khỏi những xâm lược từ bên ngoài.
Phương tiện Tổng hợp nhiều biện pháp về chính trị kinh tế xã hội…, đặc biệt là thông qua phát triển kinh tế và nâng cao đời sống con người. Dựa vào xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng…

Mặc dù an ninh quốc gia và an ninh con người có cách tiếp cận khác nhau, nhưng chúng không hoàn toàn đối nghịch, mà ngược lại có mối liên hệ nhất định. Trong báo cáo công bố năm 2003 của mình, Ủy ban về An ninh Con người cho rằng nếu không có an ninh con người thì an ninh quốc gia sẽ không được bảo đảm và ngược lại.

Theo đó, nếu người dân của một nước phải chịu đựng các vấn đề như nghèo đói, kém phát triển, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh… thì sức mạnh của quốc gia đó sẽ suy giảm, làm ảnh hưởng tới khả năng tự vệ của quốc gia đó trước các nguy cơ xâm lược. Ngược lại, nếu một quốcgia bị xâm lược thì quốc gia đó cũng không thể có điều kiện đảm bảo an ninh của từng cá nhân người dân trong các vấn đề liên quan đến cuộc sống thường nhật của họ. Chính vì vậy, có thể nói nâng cao an ninh con người chính là góp phần đảm bảo an ninh quốc gia và ngược lại.

Mặc dù còn một số tranh cãi đối với việc đưa an ninh con người vào chương trình nghị sự về an ninh của từng quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế, nhưng trên thực tế khái niệm “an ninh con người” đã được nhiều quốc gia tiếp nhận và áp dụng vào các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của mình.

Ví dụ như Nhật Bản, bên cạnh các chương trình nhằm nâng cao an ninh con người của người dân trong nước như các chính sách về phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường…, Nhật Bản cũng đã đưa an ninh con người trở thành một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của mình. Theo đó, chính sách ODA của Nhật Bản ưu tiên tài trợ cho các dự án, chương trình giúp nâng cao an ninh con người của người dân ở các nước mà Nhật Bản quan tâm. Điều này giải thích tại sao nhiều dự án ODA của Nhật Bản tập trung vào các lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, hay chăm sóc y tế, phòng chống dịch bệnh…

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

TPP, Trung Quốc và tương lai trật tự thương mại toàn cầu

Print Friendly, PDF & Email

TPP_map-680x365

Tác giả: Shuaihua Cheng | Biên dịch: Trần Tuấn Minh

Việc Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương do Mỹ dẫn đầu (gọi tắt là TPP) thiếu vắng sự hiện diện của Trung Quốc đã gợi lên nhiều câu hỏi: Liệu TPP có phải là một câu lạc bộ “ai cũng được trừ Trung Quốc”, được thiết lập nhằm kiềm chế quốc gia này hay không? Liệu Trung Quốc có phản ứng lại bằng các khối thương mại cạnh tranh tương tự, từ đó gia tăng sự thù địch trên lĩnh vực kinh tế đối với Hoa Kỳ? Điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với tương lai của trật tự thương mại toàn cầu?

Dù TPP xét cho cùng cũng có thể phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh vẫn hoài nghi về những quy tắc đang được soạn thảo trong hiệp định này. Đối với Trung Quốc, việc tham gia sâu hơn vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thông qua vòng đàm phán Doha vẫn là một ưu tiên hàng đầu và quan trọng hơn so với việc xây dựng một nhóm thương mại mới.

TPP là một hiệp định thương mại tự do (FTA) có phạm vi hết sức rộng lớn, hiện đang trong quá trình đàm phán bao gồm 12 quốc gia châu Á – Thái Bình Dương. Năm 2006, Brunei, Chile, New Zealand và Singapore bắt đầu khởi động một FTA 4 bên, còn được gọi là Pacific-4. Sau đó, 5 quốc gia khác bao gồm Hoa Kỳ, Úc, Malaysia, Peru và Việt Nam cùng tham gia vào hiệp định này và dẫn đến việc hình thành TPP. TPP tổ chức vòng đàm phán đầu tiên tại Úc vào tháng Ba năm 2010. Tiếp theo, Mexico, Canada, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng đề nghị tham gia TPP. Trong số bốn quốc gia ứng cử này, các thành viên của TPP chỉ chấp nhận cho ba nước gia nhập và từ chối Hàn Quốc.

Mục tiêu của TPP là nhằm “tạo nên một hiệp định tiêu chuẩn cao, phù hợp với thế kỷ 21” như lời công bố của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR). Theo thông tin đưa ra, TPP hướng đến nền thương mại phi thuế quan đối với các sản phẩm công nghiệp, tự do hóa toàn diện lĩnh vực dịch vụ, đồng thời đồng nhất hóa sâu sắc hơn sự điều tiết của các thành viên trong các lĩnh vực đầu tư, mua sắm công, chính sách cạnh tranh, các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, thương mại điện tử, lao động và môi trường.

Theo David Pilling trong bài viết trên trang Financial Times, khó có thể chứng minh Hoa Kỳ đang thiết lập một câu lạc bộ “ai cũng được trừ Trung Quốc” như ý kiến của nhiều người. Trên lý thuyết, TPP không ngăn Trung Quốc trở thành thành viên của khối. Như Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đã giải thích, nếu một nền kinh tế nào đó muốn gia nhập vào TPP, họ chỉ cần nộp đơn xin tham gia chính thức, và sau đó các thành viên hiện có của TPP sẽ xét duyệt và quyết định chấp nhận hay không dựa trên cơ sở đồng thuận.

Lần gần đây nhất Trung Quốc thể hiện mong muốn gia nhập TPP là vào tháng Năm năm 2013. Một đại diện của Bộ Thương mại Trung Quốc đã cho biết Trung Quốc “sẽ phân tích ưu và nhược điểm cũng như khả năng tham gia TPP sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi”.

Việc tham gia vào TPP có ý nghĩa kinh tế rất quan trọng đối với Trung Quốc. Nếu đứng ngoài hiệp định này, các công ty Trung Quốc sẽ phải đối diện với tình trạng phân biệt đối xử trong thị trường TPP. Ví dụ, TPP sử dụng nguyên tắc “xuất xứ lũy kế” (cumulation of origin) để khuyến khích các công ty từ các quốc gia thành viên nhập nguyên vật liệu từ nội khối TPP thay vì từ những quốc gia bên ngoài như Trung Quốc chẳng hạn, trong khi nước này lại là quốc gia sản xuất nguyên vật liệu lớn nhất thế giới.

Từ quan điểm hệ thống có thể thấy, Trung Quốc sẽ có lợi hơn khi tham gia và xây dựng các quy định ngay từ bây giờ, nếu không sẽ phải chấp nhận các quy định một cách thụ động trong tương lai. Một số qui tắc mới về kinh tế hoặc liên quan đến kinh tế mà TPP đang phát triển có triển vọng sẽ thay thế những quy tắc hiện hành lỗi thời của WTO vốn được thiết lập từ năm 1995.

Tuy nhiên, Trung Quốc hiện nay vẫn chưa nộp đơn xin gia nhập và còn đang lo lắng hai vấn đề sau:

Thứ nhất là về tình hình ổn định trong nước. Trung Quốc có thể hưởng lợi từ quá trình mở rộng tự do hóa trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, từ các chính sách bảo vệ và khuyến khích đầu tư ở mức cao đối với lĩnh vực này, thậm chí cả từ những quy định chống tham nhũng ngặt nghèo hơn, bởi lẽ những vấn đề này phù hợp với chương trình cải cách của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Mặc dù vậy, Trung Quốc cũng rất lo lắng về những khó khăn có thể vấp phải trong lĩnh vực kinh tế khi áp dụng các quy tắc của TPP trên quy mô toàn quốc trong một thời gian ngắn. Quá trình gấp gáp này có thể gây ra những bất ổn xã hội hoặc thậm chí là những bất ổn về mặt chính trị.

Lo lắng thứ hai của Trung Quốc là ở chỗ một số tiêu chuẩn cao của TPP không hẳn đã tốt và phù hợp với Trung Quốc. Điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ (IP) của hiệp định này là một ví dụ điển hình. Như một số nhóm lợi ích công đã chỉ ra, điều khoản về IP “quá thiên về các nhóm lợi ích doanh nghiệp lớn” của các nước công nghiệp phát triển và có “ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển”.

Nhiều nhà bình luận cho rằng, để đối phó với TPP, Trung Quốc đã chủ động xây dựng riêng các khối thương mại đối địch, ví dụ như tổ chức Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), và Khu vực Tự do Thương mại châu Á Thái Bình Dương (FTAAP)

Quan điểm và nhận thức như vậy là sai lầm và thiếu cơ sở thực tế. RCEP không phải là sáng kiến của Trung Quốc. Chính Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã khởi động sáng kiến khu vực này tại cuộc họp thượng đỉnh ở Campuchia năm 2012, với sự có mặt của 10 thành viên ASEAN cộng với 6 quốc gia khác mà ASEAN hiện đã ký kết các FTA như Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, và New Zealand. Các thành viên đã nhất trí rằng, chính ASEAN sẽ nắm vai trò điều hành trong các cuộc đàm phán hiệp định này chứ không phải Trung Quốc hay bất kì các thành viên nào khác ngoài ASEAN.

FTAAP cũng không phải là sáng kiến của Trung Quốc, và cũng không phải là một sáng kiến mới. Với cương vị là chủ tọa Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương năm 2014, Trung Quốc đã chủ động thúc đẩy việc hiện thực hóa FTAAP. Tuy nhiên, từ trước đó, vào đầu năm 2006, các nhà lãnh đạo APEC đã nhất trí xem xét về triển vọng của FTAAP. Tại Hội nghị Bộ trưởng vào tháng 5 năm 2014, tất cả 21 thành viên APEC bao gồm cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đồng ý thiết lập một nhóm nghiên cứu để thảo luận về hướng phát triển cho FTAAP.

Trung Quốc không hề có ý định phản ứng lại bằng cách thiết lập các FTA đối nghịch để chống lại Hoa Kỳ, do Trung Quốc không chỉ thấy những thách thức mà còn thấy các cơ hội mà TPP có thể mang lại, ví dụ như việc Trung Quốc có thể tận dụng học hỏi những tiêu chuẩn cao của các nước công nghiệp phát triển. Trung Quốc hướng đến việc trở thành một nước phát triển tầm trung vào giữa thế kỷ 21.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Trung Quốc đã thiết lập khu vực Tự do Thương mại Thượng Hải năm 2013 với sự ủng hộ của Thủ tướng Lý Khắc Cường. Khu vực Thương mại này ra đời nhằm lĩnh hội và áp dụng các tiêu chuẩn và quy định quốc tế mới giống như trong TPP và triển khai tự do hóa đơn phương và các cải cách độc lập. Một mặt, bằng cách chỉ áp dụng mức độ tự do hóa sâu hơn và các tiêu chuẩn cao hơn vào một khu vực cố định, thử nghiệm này có thể (giúp Trung Quốc) kiểm soát các tác động và tránh gián đoạn kinh tế và xã hội quy mô lớn. Mặt khác, nó sẽ giúp Trung Quốc chuẩn bị các bước cần thiết để tham gia vào TPP trong tương lai.

Các quốc gia đều có quyền đàm phán các FTA rộng lớn, được thúc đẩy bởi những mối quan tâm khác về địa chính trị, kinh tế và thương mại của riêng mình.

Tuy nhiên, bản thân những cuộc đàm phán về các FTA rộng lớn này có hai vấn đề nghiêm trọng. Trước hết, các cuộc đàm phán sẽ tiêu tốn các nguồn lực chính trị và tài chính to lớn mà đáng lẽ ra nó phải được sử dụng để kết thúc vòng đàm phán Doha. Thứ hai, các cuộc đàm phán này không giải quyết các vấn đề nhạy cảm nhưng rất hệ trọng đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế toàn cầu, ví dụ như hỗ trợ và trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp trong nước, trợ cấp thủy sản và các quy định về chống bán phá giá.

Chính vì lý do đó, Trung Quốc, Hoa Kỳ và các nền kinh tế lớn khác có thể và nên chú trọng hơn vào công việc tái tham gia vào WTO. Thỏa thuận đa phương là khuôn khổ pháp lý hiệu quả nhất hiện có để đảm bảo một môi trường thương mại không phân biệt đối xử giữa tất cả các thành viên, đặc biệt là đối với những nhóm nước nhỏ và nghèo nhất. Điều quan trọng nhất là phải thúc đẩy toàn cầu hóa toàn diện, mà nếu không có nó, tình trạng nghèo đói tất yếu sẽ dẫn đến khủng bố và tội phạm.

Thỏa thuận thương mại Bali Package mà tất cả các thành viên WTO đồng ý vào tháng 12 năm 2013 đã mở ra hi vọng cho các cuộc đàm phán đa phương. Tại Bali, các thành viên cũng đã hứa hẹn cùng nhau thiết lập nên một chương trình hậu-Bali vào cuối năm 2014 với mục tiêu kết thúc vòng đàm phán Doha.

Thời hạn này đã gần kề. Khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Obama gặp nhau tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC tại Bắc Kinh vào tháng Mười một (hoặc sớm hơn) năm nay, họ không nên tập trung vào TPP hay FTAAP. Thay vào đó, cả hai cần phải cùng thể hiện vai trò lãnh đạo, sự can dự và cam kết chung để kết thúc vòng đàm phán Doha, bởi đây chính là những gì mà Châu Á – Thái Bình Dương và phần còn lại của thế giới đang rất cần.

Shuaihua Cheng là Giám đốc điều hành của Trung tâm Quốc tế về Thương mại và Phát triển Bền vững Trung Quốc.

Biên tập: Nguyễn Thị Nhung | Bản gốc tiếng Anh: Yale Global

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập20
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm17
  • Hôm nay5,079
  • Tháng hiện tại173,524
  • Tổng lượt truy cập3,486,368
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây