Thế giới hôm nay: 17/08/2019

Thứ sáu - 16/08/2019 22:02
Cảnh sát chống bạo động Zimbabwe hôm qua đã tấn công và bắn hơi cay người biểu tình, vài giờ sau khi một tòa án bác bỏ nỗ lực của các nhóm đối lập nhằm đảo ngược lệnh cấm đối với một cuộc biểu tình đã được lên kế hoạch nhằm phản đối cách chính phủ xử lý nền kinh tế đang trên đà sụp đổ. Mặc dù việc thay thế chức vụ tổng thống của ông Robert Mugabe là nhằm thúc đẩy tăng trưởng, song khoảng 5 triệu
Thế giới hôm nay: 17/08/2019

Thế giới hôm nay: 17/08/2019

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: The Economist | Biên dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy

TIN VẮN HÔM QUA

Cảnh sát chống bạo động Zimbabwe hôm qua đã tấn công và bắn hơi cay người biểu tình, vài giờ sau khi một tòa án bác bỏ nỗ lực của các nhóm đối lập nhằm đảo ngược lệnh cấm đối với một cuộc biểu tình đã được lên kế hoạch nhằm phản đối cách chính phủ xử lý nền kinh tế đang trên đà sụp đổ. Mặc dù việc thay thế chức vụ tổng thống của ông Robert Mugabe là nhằm thúc đẩy tăng trưởng, song khoảng 5 triệu người dân Zimbabwe vẫn còn ở trong tình trạng cần viện trợ lương thực.

Theo quân đội Hàn Quốc, Triều Tiên đã bắn ít nhất hai tên lửa tầm ngắn vào Biển Nhật Bản. Các vụ phóng được tiến hành ngay sau khi Triều Tiên mô tả tổng thống Hàn Quốc là “trơ tráo” và thề rằng các cuộc đàm phán liên Triều đã kết thúc. Các cuộc đàm phán phi hạt nhân hóa trên thực tế đã bị đình trệ mặc cho lời hứa sẽ hồi sinh chúng của các nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên hồi tháng 6.

Ấn Độ cho biết họ sẽ bắt đầu nới lỏng các hạn chế đối với Kashmir, tuyên bố rằng dịch vụ điện thoại cố định sẽ sớm được khôi phục. Song, họ không nói cụ thể khi nào dịch vụ di động và internet sẽ được nối lại. Chính phủ cũng đã cấm hội họp công khai, bỏ tù hàng chục chính trị gia và loại bỏ các dàn xếp chính trị đặc biệt trong động thái siết chặt gần đây, viện dẫn rằng khu vực này đã gây ra khủng bố và tham nhũng.

Thương mại giữa các quốc gia thành viên khu vực đồng euro đã giảm 6,6% trong tháng 6 so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là sự sụt giảm nhanh nhất kể từ tháng 3 năm 2013. Xuất khẩu từ khu vực đồng euro đi phần còn lại của thế giới giảm 4,7%, tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 8 năm 2016. Các con số này đã làm gia tăng lo ngại rằng EU có thể sớm bước vào suy thoái.

Một “vấn đề kỹ thuật” đã trì hoãn việc bắt đầu ngày giao dịch trên Sàn giao dịch chứng khoán London (LSE) khoảng 100 phút. Mặc dù thị trường AIM dành cho các công ty nhỏ vẫn mở cửa đúng giờ, song giao dịch cổ phiếu trên sàn FTSE 350, gồm 350 công ty đại chúng niêm yết lớn nhất của Anh, đã không thể diễn ra trên nền tảng LSE đúng giờ. Đây là lần trì hoãn vào buổi sáng dài nhất của LSE kể từ năm 2011.

Rupert Hogg, CEO của Cathay Pacific, đã từ chức. Ông Hogg đã làm giám đốc điều hành của hãng hàng không Hồng Kông từ năm 2017 và đã đưa công ty này trở lại lợi nhuận sau hai năm thua lỗ. Tuyên bố từ chức của ông được đưa ra sau khi Cathay bị buộc phải sa thải một số nhân viên tham gia vào các cuộc biểu tình ở Hồng Kông, trước đe dọa bị trừng phạt bởi các cơ quan quản lý an toàn hàng không Trung Quốc.

Theo báo cáo của Wall Street Journal vốn đã được xác nhận qua các nguồn khác, Tổng thống Donald Trump đã cân nhắc mua đảo Greenland từ Đan Mạch. Nước Mỹ có các cơ sở quân sự trên hòn đảo bán tự trị lớn nhất thế giới này. Một nhà lập pháp Greenland cho biết, câu trả lời sẽ là “ồ không, cảm ơn nhé”, còn cựu thủ tướng Đan Mạch, Lars Lokke Rasmussen, thì gọi đây là một trò đùa Cá tháng Tư … không đúng “mùa”!

TIÊU ĐIỂM HÔM NAY

Giải vô địch Pokemon thế giới

Hàng trăm người chơi Pokemon sẽ đến Washington, DC vào ngày 16 tháng 8, để tham dự Giải vô địch Pokemon thế giới 2019. Pokemon được khai sinh ở Nhật Bản vào năm 1996 và đã trở thành một thương hiệu giải trí rộng lớn bao gồm các trò chơi video, trò chơi bài và phim hoạt hình, thu được 90 tỷ đô la trong suốt vòng đời của nó. Giải vô địch chỉ dành cho những người được mời, song cũng có một người hâm mộ may mắn sẽ giành được một vé tham dự thông qua rút thăm trúng thưởng do ban tổ chức giải đấu điều hành.

Sự kiện này sẽ đưa các người chơi của cả trò chơi bài và trò chơi video cạnh tranh với nhau, trong cuộc đua theo đuổi danh dự, vinh quang và một chuỗi các giải thưởng bao gồm các học bổng, voucher du lịch hoặc tiền mặt trị giá tổng cộng hơn 500.000 đô la. Vé dành cho khán giả đã được bán hết từ ngày 6 tháng 8. May mắn thay, chúng ta vẫn có thể theo dõi cuộc thi ở nhà: cả các trận đấu của trò chơi video và trò chơi bài sẽ được phát trên YouTube và trên Twitch, một trang web chuyên về stream game được Amazon mua lại vào năm 2014.

Chẩn đoán tự kỷ

Chẩn đoán trẻ tự kỷ là một nhánh khoa học không chính xác, phụ thuộc vào các phân tích hành vi của chuyên gia. Chẩn đoán trung bình ở Mỹ sẽ không được tiến hành cho đến khi đứa trẻ được bốn tuổi, vì nếu sớm hơn đứa trẻ mắc bệnh có thể bị ảnh hưởng. Song một nghiên cứu mới trên Current Biology, một tạp chí khoa học, đã công bố một thí nghiệm sử dụng một hiện tượng gọi là “đối nghịch lưỡng nhãn”: mỗi mắt được xem một hình ảnh khác nhau, và nhận thức giữa chúng biến thiên.

Các tác giả trước đây đã phát hiện ra rằng các bộ não mắc tự kỷ chuyển đổi giữa các hình ảnh chậm hơn. Họ quy điều này là do sự thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh GABA, có vai trò lọc các kích thích giác quan. Các nhà nghiên cứu đã phân tích sóng não từ một điện cực trên vỏ não thị giác và đã có thể xác định người trưởng thành mắc chứng tự kỷ với độ chính xác 87%. Hơn nữa, phương pháp này dự đoán mức độ nghiêm trọng của bệnh tự kỷ từ tốc độ chuyển đổi (giữa các hình ảnh) trong não. Các tác giả thừa nhận rằng những người tự kỷ có độ nhạy cảm thị giác khác nhau, song thí nghiệm dù sao cũng rất đáng khích lệ. Bước tiếp theo sẽ là phát triển phương pháp này cho trẻ em chưa học nói – có thể đồng thời cho 30% người lớn mắc chứng tự kỷ và bị câm.

Môn leo tường được đưa vào Olympic 2020

Bạn có thể leo một bức tường 15 mét nhanh cỡ nào? Reza Alipour, người giữ kỷ lục thế giới môn leo tường nam, thực hiện điều này trong năm giây rưỡi. Leo tường sẽ ra mắt lần đầu tiên tại Thế vận hội Olympic năm 2020. Vòng loại của sự kiện này diễn ra tại Giải vô địch Leo tường Thế giới, đang diễn ra tại Hachioji ở Nhật Bản. Leo tường là một sự bổ sung thông minh cho Thế vận hội. Môn này đã trở nên nổi tiếng kể từ sự phát hành vào năm ngoái của “Free Solo”, một bộ phim tài liệu giành giải Oscar.

Tuy nhiên, những người chơi đang phải thích nghi với một thể thức thi đấu Olympic mới. Các đối thủ được ghi điểm qua ba phần: tốc độ, dẫn đầu (bằng dây thừng, leo cao nhất có thể trong sáu phút mà không ngã) và leo đá (không có dây thừng, cố gắng leo bốn tuyến đường trên một bức tường ngắn hơn với bốn phút mỗi lần, cho phép ngã). Những người leo tường ưu tú thường chỉ chuyên về một môn duy nhất. Shauna Coxsey, một nhà vô địch leo đá, đã ví nó như việc Usain Bolt, người giữ kỷ lục thế giới nước rút 100 mét, tham dự một cuộc đua Marathon. Nhưng cô ấy, giống như các đối thủ của mình, bây giờ phải làm cả ba.

Nhìn lại cái chết của cố TTK Liên Hiệp Quốc Dag Hammarskjold

“Đây có thể là bí ẩn giết người lớn nhất thế giới hoặc là thuyết âm mưu ngu ngốc nhất thế giới”, Mads Brugger xem ra rất thành thực trong “Cold Case Hammarskjold”, một bộ phim tài liệu mới nhất của ông về vụ rơi máy bay ở Zambia hồi năm 1961 làm chết Tổng Thư ký LHQ khi ấy Dag Hammarskjold. Những nghi ngờ về hành vi chơi xấu xuất hiện rất nhiều. Lúc ấy, Hammarskjold đang trên đường đến các cuộc đàm phán hòa bình ở Congo, một nơi đã nóng lên vì Chiến tranh Lạnh. Một số người tin rằng CIA hoặc các lực lượng bán quân sự Apartheid có thể có liên quan.

Các vụ tai nạn máy bay, thường không có bất kỳ nhân chứng nào, có xu hướng châm ngòi cho các thuyết âm mưu. Liên Hợp Quốc cũng có vẻ không hài lòng với phát hiện ban đầu về lỗi phi công: họ đã mở lại một cuộc điều tra về vụ tai nạn của Hammarskjold vào năm 2014, với một báo cáo dự kiến sẽ được đưa ra vào cuối năm nay. Nhưng vì vậy những người thích thuyết âm mưu chắc chắn sẽ xem việc này là dấu hiệu cho thấy sự việc không hề chỉ có thế.

Học lịch sử từ sông Thames

“Tôi rất ngạc nhiên khi có rất nhiều người không nhận ra rằng bản chất dòng sông ở trung tâm London là thủy triều” Lara Maiklem viết trong cuốn “Mudlarking: Lost and Found on the River Thames” sẽ được xuất bản vào cuối tuần này. Sông Thames – vĩnh cửu, tĩnh lặng  và liêu trai – là lý do kéo người La Mã đến, bà Maiklem nhắc nhớ độc giả như vậy trong cuốn sách kết hợp giữa hồi ký và lịch sử.

Chính thủy triều làm cho bùn ở London trở nên độc đáo. Khi dòng sông rút xuống và bờ biển được phơi bày, bà Maiklem nói, “tôi thu thập được những gì mà người khác đã mất đi”: tài sản của những con người bình thường, “mỗi mảnh nhỏ là chìa khóa đến một thế giới khác và liên hệ trực tiếp với một cuộc sống bị lãng quên từ lâu”. Cô đã tìm thấy một cái muỗng nhỏ dùng để ngoáy ráy tai, một chiếc cào răng, kẹp tóc La Mã, đế giày, hạt vàng, chai lọ của thời kì Victoria, nửa đồng xu Georgia và ống đất sét, “có ở khắp nơi với thủy triều sông Thames”. Bắt được một vài inch cuối cùng của dải đất bồi ở biển, theo lời một người bạn đã tham gia cùng cô ở đó, chính là đi tìm một cánh cổng đến một thế giới khác.
 

Cân bằng chiến lược bấp bênh của Việt Nam

Print Friendly, PDF & Email

20140619_YangJiechi_reuters_0

Tác giả: Lê Thu Hường

Kể từ khi vượt qua những năm tháng bị cô lập đến cuối những năm 1990, Việt Nam đã theo đuổi chính sách “đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”. Từ năm 2001, Việt Nam đã bắt đầu thiết lập một mạng lưới các mối quan hệ đối tác được định nghĩa một cách linh hoạt, bao gồm: “toàn diện”(tăng cường quan hệ song phương và ngoại giao kinh tế), “chiến lược” và “chiến lược toàn diện” (mức cao nhất của hợp tác dựa trên mối quan hệ dài hạn).

Năm 2013, một năm đặc biệt hiệu quả của ngoại giao Việt Nam, Hà Nội thành lập sáu mối quan hệ đối tác mới, một trong số đó là với Mỹ. Mặc dù chỉ là đối tác toàn diện – một bậc thấp hơn so với “chiến lược” – nhưng đó là một sự tiến bộ rất quan trọng đối với quan hệ Việt -Mỹ.

Quan hệ đối tác Việt – Mỹ cho thấy sự cam kết tiếp tục đối với hợp tác hiện hữu về thương mại, giáo dục và phát triển. Đối với Việt Nam, nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ còn chứa đựng lợi ích được tham gia vào Hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Trong khi giúp tăng cường hơn nữa quan hệ với Mỹ, mối quan hệ đối tác toàn diện cũng sẽ góp phần tích cực vào chiến lược “phòng bị nước đôi” (hedging) của Việt Nam đối với Trung Quốc. Về phía Washington, Việt Nam là một đối tác có các tài sản chiến lược giá trị trong khu vực Đông Nam Á, và sẽ là một thành phần quan trọng trong chiến lược tái cân bằng của Mỹ.

Sự mở rộng và đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại trong năm 2013 của Hà Nội cũng có thể được xem như là một hình thức ngoại giao phòng ngừa. Hà Nội đã sợ rằng tranh chấp trên Biển Đông sẽ leo thang.

Khủng hoảng giàn khoan dầu Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981) đã chỉ ra rằng những nỗi sợ này đã có cơ sở.

Các lợi ích lãnh thổ tiếp tục thách thức mối quan hệ “bốn tốt” giữa Hà Nội và Bắc Kinh.

Bốn nguyên tắc “láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt”, vốn từng được tuyên bố là nền tảng của quan hệ Việt -Trung, đang bị làm cho suy yếu do tranh chấp Biển Đông chưa có giải pháp. Nhiều nỗ lực để giải quyết căng thẳng với Trung Quốc – bao gồm cả đối thoại giữa hai đảng cộng sản, đối thoại giữa các bộ trưởng quốc phòng, một đường dây nóng về các vấn đề trên biển – đã không hiệu quả.

Thậm chí nguyên tắc “ba không” của chính sách quốc phòng Việt Nam – không liên minh quân sự, không có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam và không sử dụng quan hệ với quốc gia này để chống lại quốc gia khác – đã giúp Trung Quốc cảm thấy dễ chịu.

Trung Quốc là một trong hai đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam, cùng với Nga. Điều này đã mang lại cho Việt Nam một cảm giác sai về an ninh từ mối quan hệ tích cực với Trung Quốc, cũng như những ảo tưởng về sự hỗ trợ của Nga. Moscow đã không đứng cạnh Việt Nam trong cuộc khủng hoảng Hải Dương 981. Thay vào đó họ đã ký kết một thỏa thuận khí đốt 30 năm với Bắc Kinh trị giá 400 tỷ USD. Nhiều người sẽ thấy sự kiện này như một sự thất bại của hệ thống quan hệ đối tác của Việt Nam. Nội dung mơ hồ và thiếu chiều sâu của những mối quan hệ đối tác này là những nguyên nhân đầu tiên dẫn tới tình trạng này.

Các lợi ích quốc gia về kinh tế và chính trị là những lý do chính trả lời cho câu hỏi tại sao các nước khác không muốn gây rủi ro cho mối quan hệ của họ với Trung Quốc chỉ để ủng hộ Việt Nam. Chỉ những quốc gia đang cố gắng để đối trọng lại Trung Quốc hoặc có quan hệ tương đối nghèo nàn với Trung Quốc mới sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam – cụ thể là Mỹ, Nhật Bản và Philippines. Khi rà soát lại các chiến lược hợp tác, Hà Nội nên khai thác các lợi ích chung. Mỹ nổi lên như là một đồng minh tự nhiên của Việt Nam trong phương trình này. Nhưng Hoa Kỳ còn dè dặt trong việc thúc đẩy hơn nữa quan hệ với Việt Nam – thành tích nhân quyền hạn chế của Hà Nội là một nguồn gốc của sự dè dặt đó. Dù chuyển đổi chính trị nội bộ là cần thiết cho một sự hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ, nhưng điều này sẽ không thể được tiến hành một cách dễ dàng hay nhanh chóng.

Đối với Nhật Bản, Việt Nam có một vai trò quan trọng trong việc nước này xét lại và sửa đổi Hiến pháp về quyền phòng vệ tập thể cũng như đối trọng với Trung Quốc. Tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư làm cho Tokyo thêm thận trọng đối với Bắc Kinh.

Philippines cũng muốn phát triển quan hệ gần gũi hơn với Hà Nội do lợi ích chung trong khu vực Biển Đông. Philippines là người tiên phong phát động vụ kiện chống lại các hành động đơn phương của Trung Quốc trên biển.

Trong khi đó, Bắc Kinh đã cảnh báo nếu Việt Nam tiếp tục leo thang phản đối vấn đề giàn khoan Hải Dương 981 thì sẽ có những hệ lụy về kinh tế diễn ra. Trung Quốc đã cho hồi hương công nhân từ Việt Nam, đóng băng các khoản đầu tư và thậm chí còn ngăn các công ty tham gia đấu thầu các dự án tại Việt Nam.

Trước khi xảy ra sự kiện Hải Dương 981, Việt Nam cho rằng họ có thể cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Ví dụ, Việt Nam muốn tham gia vào các sáng kiến ​​kinh tế khu vực do cả Mỹ và Trung Quốc lãnh đạo, cụ thể là TPP và sáng kiến Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Nhưng nếu không khéo xử lý cuộc khủng hoảng hiện nay trên Biển Đông, Việt Nam có thể lâm vào thế kẹt. Việt Nam sẽ khó có được quan hệ gần gũi hơn với Mỹ (do các cân nhắc chính trị trong nước và sự ủng hộ hạn chế ở Washington) bất chấp tình hình xấu đi trong quan hệ với Trung Quốc. Để tránh kịch bản này, Việt Nam cần phải nhanh chóng điều chỉnh chính sách theo tình hình mới nhất, cụ thể là Trung Quốc không còn có ý định tuân thủ nguyên tắc “4 tốt”. Tuy nhiên, việc định hướng lại chiến lược ngoại giao, quốc phòng và kinh tế phải bắt đầu với một sự đồng thuận đạt được trong nội bộ lãnh đạo đất nước.

Nếu sự thiếu quyết đoán của lãnh đạo vẫn tiếp tục, Việt Nam sẽ rơi vào tình huống ngày càng có ít lựa chọn – và như thế,  một lần nữa, Việt Nam lại rơi vào trạng thái cô lập tương đối.

TS. Lê Thu Hường là nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore. Một bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng tải trên East Asia Forum.
 

Hậu quả chính trị của khủng hoảng tài chính

Print Friendly, PDF & Email

Newspaper headlines - finanical crisis on 2008

Nguồn: Howard Davies, “The Political Consequences of Financial Crises”, Project Syndicate, 22/12/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Có lẽ tôi không phải là vị giáo sư tài chính duy nhất mà khi ra đề tài tiểu luận cho sinh viên của mình đã chọn câu hỏi như thế này: “Theo quan điểm của anh/chị, nguyên nhân chủ yếu của khủng hoảng tài chính toàn cầu là do chính phủ can thiệp quá nhiều vào thị trường tài chính, hay bởi họ đã can thiệp quá ít?” Và khi giải quyết “câu hỏi” này, sinh viên trong lớp mà tôi dạy gần đây nhất đã chia thành ba luồng ý kiến.

Khoảng một phần ba số sinh viên, những người bị mê hoặc bởi sự hấp dẫn hào nhoáng của Giả thuyết Thị trường Hiệu quả (Efficient Market Hypothesis), lập luận rằng chính phủ là nguyên nhân của mọi tội lỗi. Những can thiệp thiếu suy nghĩ của họ – đặc biệt là các hãng kinh doanh các khoản cho vay thế chấp được chính phủ Mỹ hậu thuẫn là Fannie Mae và Freddie Mac, cũng như Đạo luật Tái đầu tư Cộng đồng (Community Reinvestment Act) – đã làm các động cơ thị trường bị bóp méo. Một số thậm chí chấp nhận lập luận của nhà tư tưởng tự do Mỹ Ron Paul, lên án sự tồn tại của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) trong vai trò người cho vay cuối cùng.

Một phần ba số sinh viên khác, những người ủng hộ phía bên kia của phổ tư tưởng chính trị, lại cho rằng cựu Chủ tịch Fed Alan Greenspan là tội đồ. Greenspan đã miễn cưỡng can thiệp vào thị trường tài chính, thậm chí khi đòn bẩy tài chính đang gia tăng đáng kể và giá tài sản dường như đã không còn đúng với thực tế, điều đã gây ra rắc rối. Nói rộng hơn, các chính phủ phương Tây, với cách tiếp cận quá nhẹ nhàng đối với điều tiết, đã khiến thị trường phát triển ra ngoài vòng kiểm soát trong những năm đầu của thế kỷ này.

Nhóm sinh viên còn lại thì chọn cả hai, cho rằng chính phủ đã can thiệp quá nhiều trong một số lĩnh vực, nhưng lại quá ít ở các lĩnh vực khác. Lãng tránh câu hỏi gốc để đi theo hướng trung dung như vậy không phải là một chiến thuật làm bài kiểm tra tốt, tuy nhiên các sinh viên cũng có lý do của họ.

Giờ đã là bảy năm sau khủng hoảng, các chính phủ và cử tri ở châu Âu và Bắc Mỹ đã trả lời câu hỏi quan trọng này như thế nào? Hành động của họ cho thấy rằng họ nghĩ cần phải kiểm soát chặt chẽ các thị trường tài chính hay trái lại, nhà nước nên bác bỏ các kế hoạch giải cứu và để các công ty tài chính tự giải quyết hậu quả do những sai lầm của chính mình?

Qua luận điệu và các chính sách điều tiết của họ, có thể thấy rằng hầu hết các chính phủ đã lựa chọn phương án thứ ba – trung dung. Vâng, họ thực hiện một loạt các biện pháp kiểm soát chi tiết, rà soát sổ sách của các ngân hàng với cường độ chưa từng có, đồng thời kiểm soát việc phân phối tiền mặt, việc bổ nhiệm các giám đốc chủ chốt, và thậm chí còn kiểm duyệt cả bảng mô tả công việc của các thành viên hội đồng quản trị.

Nhưng họ đã loại trừ bất kỳ sự hỗ trợ nào trong tương lai từ chính phủ hoặc ngân hàng trung ương dành cho các thể chế tài chính ốm yếu. Các ngân hàng giờ phải xuất trình “di chúc sống” cho thấy họ sẽ “chết dần” mà không có sự hỗ trợ của chính quyền như thế nào. Chính phủ sẽ rũ bỏ trách nhiệm nếu những ngân hàng này gặp rắc rối: giờ thì thời đại “quá lớn để sụp đổ” (too big to fail) đã kết thúc.

Có lẽ cách tiếp cận nước đôi này là không thể tránh khỏi, dù nếu biết được điểm kết thúc mong muốn là gì cũng là điều tốt. Liệu nó là một hệ thống nơi kỷ luật thị trường một lần nữa thống trị, hay là các nhà quản lý sẽ tiếp tục nắm quyền điều chỉnh trong tương lai gần?

Vậy còn kết luận của các cử tri thì sao? Trong làn sóng bầu cử đầu tiên hậu khủng hoảng, thông điệp đưa ra là rất rõ ràng theo nghĩa này, nhưng lại mơ hồ theo nghĩa khác. Dù chính phủ nào nắm quyền khi xảy ra khủng hoảng, cánh hữu hay cánh tả, thì họ cũng đã bị thay thế bởi một chính phủ khác theo khuynh hướng chính trị đối lập.

Điều này không thực sự đúng ở mọi nơi – chẳng hạn như tại Đức với trường hợp Angela Merkel – nhưng chắc chắn nó là sự thật ở Mỹ, Anh, Pháp, và nhiều nơi khác. Pháp chuyển từ cánh hữu sang cánh tả, còn Anh thì ngược lại. Dù vậy thì dư luận cử tri về chính phủ của họ vẫn ít nhiều giống hệt nhau: anh mắc sai lầm trong nhiệm kỳ của mình, vậy nên anh phải ra đi.

Nhưng bây giờ chúng ta có thể thấy một xu hướng phát triển nhất quán hơn. Ba nhà kinh tế người Đức, Manuel Funke, Moritz Schularik, và Christoph Trebesch, vừa công bố một đánh giá rất hay dựa trên hơn 800 cuộc bầu cử ở các nước phương Tây trong suốt 150 năm qua, đồng thời gắn những kết quả này với 100 cuộc khủng hoảng tài chính. Họ đưa ra kết luận chính rõ ràng: “Chính trị thay đổi mạnh sang phía cánh hữu sau mỗi cuộc khủng hoảng tài chính. Tính trung bình, số phiếu ủng hộ phe cực hữu tăng khoảng một phần ba trong vòng 5 năm sau mỗi cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng.”

Cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930, theo sau sự sụp đổ của phố Wall năm 1929, chính là ví dụ rõ ràng và đáng lo ngại nhất, nhưng xu hướng này cũng có thể được quan sát thấy cả tại các nước Bắc Âu sau các đợt khủng hoảng ngân hàng đầu những năm 1990. Vì vậy, nếu giải thích sự nổi lên của Mặt trận Quốc gia Pháp là bởi cá nhân và chính sách chính trị của Tổng thống François Hollande không hợp lòng dân là không hợp lý. Vẫn còn các nguyên nhân lớn hơn đời tư rắc rối và việc thiếu khả năng kết nối với các cử tri của ông ta.

Kết luận chính thứ hai mà Funke, Schularik, và Trebesch rút ra là công việc quản lý của chính phủ trở nên khó khăn hơn sau khủng hoảng tài chính, vì hai lý do. Sự trỗi dậy của phe cực hữu nằm trong bối cảnh chính trị thường bị phân mảnh, với nhiều đảng phái hơn, và số phiếu dành cho đảng cầm quyền bị thấp hơn, dù là họ thuộc phe hữu hay phe tả. Vì vậy, việc đưa ra các quyết định lập pháp quan trọng sẽ trở nên khó khăn hơn.

Đồng thời, các phong trào vận động bên ngoài nghị trường cũng tăng đột biến: đình công và biểu tình lớn hơn và kéo dài hơn. Chính phủ cũng không còn đủ khả năng kiểm soát an ninh đường phố như trước. Tính trung bình thì các cuộc biểu tình chống chính phủ tăng gấp ba, tần số bạo loạn tăng gấp đôi, và các cuộc đình công nói chung tăng ít nhất một phần ba. Những con số này đặc biệt tăng mạnh tại Hy Lạp trong thời gian gần đây.

Kết luận mang tính an ủi duy nhất mà ba nhà kinh tế đạt được đó là những tác động này sẽ dần biến mất. Dữ liệu cho thấy rằng sau 5 năm, điều tồi tệ nhất sẽ qua. Nhưng điều đó hình như không phải là những gì đang diễn ra tại châu Âu, nếu xét đến cuộc bầu cử gần đây của Pháp, chưa kể ở Phần Lan và Ba Lan, nơi cánh hữu hiện nắm quyền. Có lẽ lời giải thích hợp lý là 5 năm ở đây được tính từ khi cuộc khủng hoảng hoàn toàn chấm dứt, mà ở châu Âu thì chưa phải vậy.

Vì vậy chính trị dường như vẫn còn là một nghề khó khăn trong một thời gian dài nữa. Còn các ngân hàng và tổ chức tài chính, những kẻ bị đổ lỗi vì gây ra khủng hoảng, sẽ vẫn tiếp tục bị coi là tội đồ thêm một thời gian nữa cho đến khi kỳ vọng của cử tri về sự ổn định kinh tế và tài chính được đáp ứng một cách bền vững hơn.

Howard Davies, Chủ tịch đầu tiên của Cơ quan Dịch vụ Tài chính Vương quốc Anh (1997-2003), là Chủ tịch Ngân hàng Hoàng gia Scotland. Ông từng là Hiệu trưởng Trường Kinh tế London (2003-2011) và giữ chức Phó Thống đốc Ngân hàng Anh và Tổng Giám đốc Liên đoàn Công nghiệp Anh.

Copyright: Project Syndicate 2015 – The Political Consequences of Financial Crises

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập17
  • Hôm nay6,241
  • Tháng hiện tại97,662
  • Tổng lượt truy cập4,149,884
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây