Thế giới hôm nay: 13/09/2019

Thứ sáu - 13/09/2019 00:43
Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) công bố gói kích thích kinh tế mới trong nỗ lực ngăn chặn suy thoái trong khu vực đồng euro. Ngân hàng này đã cắt giảm lãi suất tiền gửi của họ -tính trên các khoản tiền gửi do ECB nắm giữ – từ -0,4% xuống -0,5%, mức thấp kỷ lục.
Thế giới hôm nay: 13/09/2019

Thế giới hôm nay: 13/09/2019

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: The Economist | Biên dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) công bố gói kích thích kinh tế mới trong nỗ lực ngăn chặn suy thoái trong khu vực đồng euro. Ngân hàng này đã cắt giảm lãi suất tiền gửi của họ -tính trên các khoản tiền gửi do ECB nắm giữ – từ -0,4% xuống -0,5%, mức thấp kỷ lục. Họ cũng sẽ khởi động nới lỏng định lượng và mua vào 20 tỷ euro (22 tỷ đô la) trái phiếu mỗi tháng kể từ tháng 11.

Như để chứng minh ECB đã hành động đúng, Eurostat tuyên bố rằng sản lượng công nghiệp trong khu vực đồng euro suy giảm nhiều hơn dự kiến vào tháng Bảy. Sản xuất giảm 0,4% so với tháng trước và 2% so với tháng 7 năm ngoái. Đà giảm được thúc đẩy bởi sự sụt giảm mạnh sản lượng công nghiệp của Đức.

Purdue Pharma đã đạt được thỏa thuận sơ bộ để bồi thường cho 27 tiểu bang và nhiều chính quyền địa phương về vai trò mà họ bị cáo buộc trong cuộc khủng hoảng opioid ở Mỹ. Các báo cáo cho thấy thỏa thuận trị giá 10 – 12 tỷ đô la này sẽ khiến công ty phải nộp đơn xin phá sản theo Chương 11 (Bộ luật Phá sản của Hoa Kỳ). Gia đình Sackler, những người đang kiểm soát công ty, sẽ trả vài tỷ đô la. Một số bang, bao gồm cả New York, thông báo không chấp nhận thỏa thuận này.

Donald Trump cho biết ông sẽ trì hoãn trong hai tuần kế hoạch tăng thuế đối với 250 tỷ đô la hàng hóa Trung Quốc. Động thái này được đưa ra sau thông báo của Trung Quốc rằng từ ngày 17 tháng 9, 16 loại hàng hóa của Mỹ sẽ được miễn thuế nhập khẩu (các khoản xuất khẩu lớn, như thịt lợn và đậu nành, không có tên trong danh sách). Các mối quan hệ dường như đang tan băng trước thềm đàm phán thương mại cuối tháng này.

Cổ phiếu của Cathay Pacific đã giảm sau khi hãng hàng không Hồng Kông tiết lộ mức giảm 38% lưu lượng hành khách trong tháng Tám so với cùng kì năm trước. Các hoạt động của hãng đã bị gián đoạn nghiêm trọng bởi các cuộc biểu tình ở sân bay Hồng Kông; Chủ tịch và giám đốc điều hành của họ cũng bị buộc phải từ chức do sức ép trừng phạt của chính phủ Trung Quốc. Hãng vận tải cho biết họ dự kiến tháng 9 sẽ “hết sức khó khăn.”

OPEC đã đồng ý cắt giảm sản lượng dầu bằng cách yêu cầu hai thành viên của mình là Nigeria và Iraq giảm sản lượng. Giá dầu vẫn thấp kéo dài sau khi Mỹ liên tục tăng sản lượng. Ả Rập Saudi, thành viên quan trọng nhất của OPEC, cần giá tăng để cân bằng ngân sách.

Các nhóm đối lập Nga có liên quan đến Alexei Navalny cho biết chính quyền đã đột kích 150 căn nhà và văn phòng của họ. Ông Navalny đã giúp tổ chức đợt biểu tình mùa hè ở các thành phố lớn sau khi các ứng cử viên phe đối lập bị cấm tham gia các cuộc bầu cử địa phương. Sau chiến dịch “bỏ phiếu chiến thuật” thành công do Navalny dẫn đầu, đảng cầm quyền Nước Nga Thống nhất đã phải chịu thất bại nặng nề ở nhiều thành phố.

TIÊU ĐIỂM

Kế hoạch táo bạo: Huawei muốn tạo nên đối thủ cạnh tranh

Nhậm Chính Phi có một ý tưởng để xoa dịu căng thẳng công nghệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Tuần này, người sáng lập 73 tuổi của Huawei nói với The Economist rằng ông muốn chia sẻ toàn bộ danh mục công nghệ 5G của công ty mình với một công ty phương Tây, với mức phí một lần. Tất cả các tài sản mềm làm nền tảng cho công nghệ này – code, quy trình sản xuất, bằng sáng chế – đều sẽ được chuyển giao. Huawei sẽ tiếp tục dùng cùng các công nghệ tương tự để cạnh tranh với bên mua.

Thực tế là bộ công nghệ 5G của Huawei rẻ hơn và tiên tiến hơn bất kỳ đối thủ cạnh tranh phương Tây nào, nhờ đó họ đã thống trị thị trường, dẫn tới sự lo ngại của cộng đồng an ninh quốc gia Mỹ, những người lo rằng công nghệ sẽ được dùng phục vụ gián điệp. Ông Nhậm cho rằng thúc đẩy cạnh tranh ở cùng trình độ công nghệ với công ty của ông sẽ làm giảm sự chú ý tiêu cực mà Huawei phải nhận, bởi vì họ sẽ không còn là duy nhất nữa. Quả thực ý tưởng rất táo bạo, nhưng rõ ràng ông Nhậm không sợ những điều táo bạo.

Niềm tin của người tiêu dùng Mỹ suy giảm

Niềm tin vào sự vững chắc của nền kinh tế Mỹ đang dần sụt giảm. Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất đã chậm lại, đầu tư chùng xuống và các chủ doanh nghiệp gặp khó khăn. Hôm nay, các số liệu về doanh số bán lẻ sẽ cho thấy liệu người tiêu dùng Mỹ có còn chi tiêu thoải mái trong bối cảnh đó hay không. Doanh số tháng 8 tăng 0,7% so với tháng 7, sau khi trừ đi thay đổi theo mùa mua sắm. Những tín hiệu tích cực này là rất tốt.

Mặc dù trông không mạnh mẽ như năm ngoái, nhưng thị trường lao động đang ở trong tình trạng tốt. Và mặc dù lĩnh vực sản xuất đang gặp khó khăn từ thuế quan và nhu cầu toàn cầu thấp, các nhà cung cấp dịch vụ trong nước không bị ảnh hưởng nhiều từ tác động bên ngoài. Điều đáng ngại đó là sự lo lắng có thể lây lan. Các khảo sát cho thấy người tiêu dùng cảm thấy ít tin tưởng vào tình hình tài chính của họ hơn so với niềm tin dành cho nền kinh tế nói chung, một khoảng cách báo hiệu rắc rối. Nếu người tiêu dùng hạn chế chi tiêu, thì vấn đề sẽ nhanh chóng lan rộng.

Trước thềm bầu cử Tổng thống Tunisia

Cuối tuần này người Tunisia sẽ bầu một tổng thống mới, lần thứ hai kể từ cuộc cách mạng của họ năm 2010. Nền dân chủ xuất hiện từ đó đã phải chịu đựng các vụ ám sát, tấn công khủng bố và một nền kinh tế vụn vỡ. Gần đây nhất, nó vẫn sống sót sau cái chết hồi tháng 7 của tổng thống Beji Caid Essebsi. Với 26 người cùng cạnh tranh để kế nhiệm ông, và người chiến thắng cần ít nhất 50% số phiếu bầu, rất có thể sẽ cần thêm một cuộc bỏ phiếu bổ sung. Ứng cử viên dẫn đầu Nabil Karoui, người hứa hẹn một cuộc chiến chống đói nghèo, vận động tranh cử từ trong tù.

Cảnh sát bắt giữ ông này hồi tháng 8 vì cáo buộc trốn thuế và rửa tiền, các tội danh mà các trợ lý của ông khẳng định mang tính chính trị (và ông vẫn đủ điều kiện để tranh cử tổng thống). Ông Karoui sẽ phải chia sẻ số phiếu bầu dân túy với các ứng viên như Kais Saied, một giáo sư luật muốn áp dụng án tử hình và cho rằng đồng tính luyến ái là một âm mưu nước ngoài nhằm làm suy yếu Tunisia. Cho dù là ai chiến thắng, chúng ta nên trông đợi một cuộc bỏ phiếu nhằm thay đổi nguyên trạng hiện nay.

Nước Anh xuất hiện đảng lớn thứ ba

Đảng Dân chủ Tự do ủng hộ EU sẽ tràn đầy hi vọng khi bước vào hội nghị thường niên diễn ra vào thứ Bảy tuần này. Đảng lớn thứ ba của Vương quốc Anh chứng kiến số lượng nghị viên của mình tăng lên, do các nhà lập pháp cấp tiến chán ngấy với cả đảng Bảo thủ và Công đảng lần lượt chuyển sang hàng ngũ của họ – năm người trong mùa hè qua, và dự kiến sẽ còn tăng. Triển vọng bầu cử của họ cũng đã tăng lên. Đảng này đứng thứ hai trong cuộc bầu cử vào Nghị viện châu Âu năm nay, đứng trước cả hai đảng chính của Anh.

Tỉ lệ cử tri ủng hộ họ qua thăm dò khoảng 20%, bám sát Công đảng, nhờ vào sự phản đối Brexit quyết liệt của họ. Một màn trình diễn như vậy trong một cuộc tổng tuyển cử sẽ không đủ để họ lập chính phủ. Nhưng nếu xuất hiện thế bế tắc, họ có thể có tiếng nói quyết định về việc ai được thành lập chính phủ tiếp theo. Trớ trêu thay, một đảng đầy những người ghê tởm cả đảng Bảo thủ và Công đảng rốt cuộc có thể định đoạt việc một người trong hai đảng này lên nắm quyền.

Trăng tròn tháng chín và những điều mê tín

Trăng tròn tháng 9 hay “Trăng thu hoạch” (Harvest Moon) từng đem lại nhiều lợi ích cho nông dân. Bởi vì nó xuất hiện ngay sau khi mặt trời lặn, nên họ có thể tiếp tục gặt hái mùa màng dưới ánh trăng cho đến khuya, do đó mới có tên gọi như vậy. Đây cũng là lần Trăng tròn gần nhất với ngày Thu Phân (23 tháng 9 năm nay), đánh dấu khởi đầu về mặt thiên văn học của mùa thu, khi mặt trời ở ngay trên đường xích đạo và ngày đêm dài bằng nhau.

Thật trùng hợp, Harvest Moon năm nay cũng sẽ là một “mặt trăng siêu nhỏ,” bởi vì nó nằm ở điểm xa Trái đất nhất trong quỹ đạo của nó. Điều này có nghĩa là trông nó sẽ nhỏ hơn 14% so với hồi tháng Hai. Mặc dù đỉnh trăng tròn trên bờ biển phía đông nước Mỹ và Anh sẽ đến sau nửa đêm – và do đó về mặt kỹ thuật là sáng thứ Bảy – nhưng nhiều người mê tín cho rằng xuất hiện trăng tròn vào đêm thứ Sáu ngày 13 sẽ mang đến điềm gở nào đó. Đặc biệt, theo truyền thuyết, Harvest Moon giúp cho người sói có sức mạnh lớn hơn bao giờ hết.
 

Johnson, Westmoreland và Chiến tranh Việt Nam

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Gregory Daddis, “Johnson, Westmoreland and the ‘Selling’ of Vietnam”, The New York Times, 09/05/2017.

Biên dịch: Trương Thái Tiểu Long | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Tính đến đầu năm 1967, quân đội Mỹ và đồng minh vẫn kẹt trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan tại Việt Nam.  Trước công luận, các tướng lĩnh tuyên bố cuộc chiến đang tiến triển tích cực; nhưng các quan chức Quân đội lại rỉ tai các phóng viên rằng cuộc chiến “còn lâu mới đi đến hồi kết”. Hơn nữa, truyền thông còn tăng cường nhấn mạnh vào sự bối rối của chính Lyndon B. Johnson. Một nhà báo thậm chí còn cho rằng ngài tổng thống đang cảm thấy “dằn vặt do sự trì trệ” trong việc huy động nguồn lực cho cuộc chiến.

Luôn chú ý đến các xu hướng chính trị trong nước, vào mùa xuân năm đó ngài tổng thống đã phản ứng bằng chiến dịch kéo dài một năm không chỉ nhằm “vận động” cho chính sách Đông Nam Á của mình, mà còn bác bỏ các cáo buộc rằng cuộc chiến đang bế tắc ở Việt Nam. Johnson bắt đầu chuyến đi tranh cử vào tháng Tư bằng việc đưa Tư lệnh Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự tại Việt Nam, Tướng William Westmoreland, đi cùng để báo cáo về tiến triển của cuộc chiến. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ một vị tổng thống phải triệu hồi một chỉ huy trên chiến trường trong thời chiến để thay mặt chính quyền giải trình.

Vào thời điểm đó, Westmoreland có vẻ là biểu tượng cho sức mạnh quân sự của nước Mỹ thời hậu Thế chiến II. Bằng việc xướng tên Westmoreland là “Người đàn ông của năm” trong năm 1965, tạp chí Time đã gọi vị tướng bốn sao là “người đàn ông cao một thước tám có chiếc cằm nhô” (jut-jawed six-footer) và cũng là một “người thẳng thắn và kiên định”. Westmoreland, cựu binh từng tham gia hai cuộc chiến trước khi đến Việt Nam, từng chỉ huy Sư đoàn Không vận 101 trứ danh và Giám đốc Học viện Quân sự West Point. Bằng việc kế nhiệm nhiều vai trò của một bộ chỉ huy mang tính nhạy cảm chính trị như ở Việt Nam, tạp chí Time châm biếm rằng Westmoreland còn đội “nhiều mũ hơn cả Hedda Hopper” (nữ diễn viên nổi tiếng với nhiều kiểu mũ khác nhau – NBT).

Tuy nhiên trong năm 1965, Westmoreland chỉ có duy nhất một mục tiêu chiến lược – cứu vãn xu thế thất bại của Mỹ. Theo nhiều nguồn phân tích, chính quyền Nam Việt Nam đang bấp bênh bên bờ sụp đổ. Hà Nội đang gửi các trung đoàn bộ binh vào miền Nam Việt Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng. Các quan chức địa phương là mục tiêu của những hành động khủng bố. Quân đội Nam Việt Nam (được biết đến với tên gọi chính thức là Quân đội Việt Nam Cộng hoà, hay gọi tắt là A.R.V.N.) cho thấy sự bất lực trước tình trạng bạo lực leo thang.

Tuy nhiên, Westmoreland nhận ra rằng, việc giành lại thế chủ động chiến lược quan trọng hơn là chỉ giết chóc kẻ thù. Thay vào đó, các chiến dịch quân sự là phương tiện nhắm tới mục đích cuối cùng lớn hơn. Tóm gọn lại, các thắng lợi trên chiến trường đều có mục đích chính trị.

Vì vậy, từ năm 1966 đến đầu năm 1967, các lực lượng quân đội Mỹ đảm trách nhiệm vụ mở rộng phạm vi kiểm soát của chính quyền Sài Gòn lên người dân. Họ sát cánh chiến đấu cùng A.R.V.N. và các lực lượng dân quân địa phương nhằm chống lại các lực lượng chính của kẻ thù và các đơn vị nổi dậy. Họ tiến hành các kế hoạch hành động dân sự phi quân sự, chẳng hạn chăm sóc y tế ở vùng sâu, vùng xa và đào tạo quản lí hành chính cho các quan chức cấp quận huyện. Và họ tiến hành các chương trình với mục đích “thu phục lòng dân”.

Trái ngược với những gì được mô tả sau này trên truyền thông và sách lịch sử, cuộc chiến của Westmoreland cho thấy mục tiêu rộng lớn hơn chứ không chỉ đơn thuần là làm kẻ thù tiêu hao và đếm số lượng tử thi chỉ vì một “cảm giác tự hào quân sự sai lầm”.

Dĩ nhiên có hàng tá những khó khăn trong việc tiến hành một chiến dịch trên quy mô rộng khắp như vậy, cân bằng một cuộc chiến mà bản chất chính trị và quân sự của nó ngang ngửa nhau. Westmoreland phải vật lộn với tình hình chính trị đảng phái bất hoà tại Sài Gòn, đối mặt với một thông điệp dân tộc chủ nghĩa kết hợp với cộng sản chủ nghĩa vang khắp các miền quê Nam Việt Nam, và một kẻ địch đáng gờm luôn mong muốn thống nhất và giải phóng Việt Nam khỏi ảnh hưởng của phương Tây.

Nhưng điều phiền toái nhất có lẽ là đến năm 1967, các chỉ huy quân sự Mỹ phải đối mặt các chất vấn từ quê nhà về việc những hi sinh cho cuộc chiến chỉ mang lại những kết quả mơ hồ. Thời gian càng trôi qua thì những từ như “bế tắc” và “sa lầy” dần trở nên phổ biến khi đánh giá về chiến lược và cơ hội chiến thắng của Mỹ tại Đông Nam Á.

Việc bổ nhiệm Westmoreland vào vị trí tổng đại diện cho tổng thống vào mùa xuân năm 1967 dù vậy lại cho thấy chính bản thân Johnson và cả nước Mỹ tiếp tục duy trì cuộc chiến. Johnson dự định “chiến lược thuyết phục” của mình sẽ biện hộ cho nỗ lực của Mỹ tại Việt Nam, đẩy lùi các chất vấn về tính khả thi trong các chính sách của ông. Vị tướng chỉ huy chiến trường cao cấp nhất sẽ bác bỏ những lời chỉ trích bằng việc thông báo những tiến triển tích cực.

Tại điểm dừng chân đầu tiên của Westmoreland – bữa tiệc trưa thường niên dành cho các biên tập viên của hãng A.P. vào ngày 25/04 – vị tướng khẳng định rằng số phận của Việt Nam sẽ ảnh hưởng tới tương lai của tất cả “các quốc gia mới nổi”. Ông ca ngợi binh lính của mình khi đã giải cứu chính quyền Sài Gòn “khỏi bờ vực thất bại”, trong khi nhấn mạnh tính phức tạp của loại hình chiến tranh này – “một cuộc chiến vừa mang tính lật đổ vừa mang tính xâm lược, một cuộc chiến mà các nhân tố chính trị lẫn tâm lí đều có vai trò quan trọng”. Và trong khi Westmoreland tự tin phác hoạ một thế cục quân sự thuận lợi, ông hai lần nhấn mạnh quan điểm có lẽ khiến Johnson phải xấu hổ. “Tôi không nhìn thấy kết cục nào cho cuộc chiến.”

Ba ngày sau Westmoreland lại có một bài phát biểu còn quan trọng hơn bài phát biểu tại A.P. Trong một phiên họp chung của lưỡng viện Quốc hội, vị tướng, theo một báo cáo, khiến các nhà lập pháp “hò reo vui mừng” khi cam đoan rằng sự chỉ huy của ông sẽ “thắng thế trước những kẻ cộng sản xâm lăng tại Việt Nam”. (Loại ngôn từ này nhắc tới nguy cơ bên ngoài nhiều hơn bên trong.) Tuy nhiên, Westmoreland lưu ý rằng chỉ thắng lợi quân sự thôi sẽ không đủ để dẫn đến “một kết thúc nhanh chóng và quyết định cho cuộc xung đột”. Kẻ thù vẫn đang phát động một “cuộc chiến tranh toàn diện cả ngày – mọi ngày – và ở mọi nơi.” Westmoreland vẫn cho rằng chỉ có một chiến lược “tạo sức ép không khoan nhượng nhưng sáng suốt về cả  quân sự, chính trị lẫn tâm lý” lên kẻ thù mới dẫn đến thắng lợi.

Westmoreland chưa hề nhắc đến vấn đề bế tắc. Dù kẻ thù “còn lâu mới từ bỏ”, lực lượng Mỹ nếu được quê nhà hỗ trợ “một cách quyết tâm, tự tin, kiên nhẫn, kiên định và liên tục” thì vẫn sẽ đi đến thắng lợi.

Các nhà phê bình dù ấn tượng với phát biểu của vị tướng, vẫn cho rằng Westmoreland không thể lay chuyển được niềm tin của ai. Tom Wicker của tờ Thời báo New York nhận thấy luận điệu này không khác gì đề nghị của Johnson nhằm “sử dụng danh tiếng quân sự của vị tướng để giúp chính quyền giải quyết vấn đề duy trì hỗ trợ chính trị tại quê nhà”. Bất chấp những lời tán dương, Westmoreland đã quay lại Việt Nam mà chỉ thuyết phục được một số ít ỏi đáng giá ở Washington.

Chiến dịch thuyết phục của Johnson thất bại ở hai cấp độ. Westmoreland đã không thuyết phục được các đối thủ của tổng thống rằng chính sách của Mỹ tại Việt Nam đang tiến triển tích cực một cách thực chất. Và quan trọng hơn, những bài phát biểu đó cũng không khiến công luận Mỹ hiểu được thực trạng phức tạp của cuộc chiến đang diễn ra ở Nam Việt Nam.

Sự thật là Westmoreland không thể làm rõ được bản chất rối rắm của một cuộc xung đột về bản sắc dân tộc của Việt Nam mà không chủ thể nước ngoài nào có thể giải quyết được. Cuộc chiến vẫn tiếp tục “không thể định nghĩa được” như xưa nay.

Năm 1967 khép lại sau khi Westmoreland quay lại tổng hành dinh của Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV), ngày càng có nhiều bắng chứng phô bày tình trạng có vẻ thật sự bế tắc của cuộc chiến. Các nhà phê bình chỉ trích chất lượng của các lực lượng chiến đấu của Nam Việt Nam. Chương trình bình định hoá đang “lung lay trên bờ sụp đổ”. Cuộc cải tổ chính trị ở Sài Gòn – đến năm 1967, một diễn biến bình thường làm các quan chức Mỹ kiệt sức – có vẻ phản ánh những bất ổn an ninh tại vùng nông thôn. Khi năm 1967 kết thúc, cuộc chiến xoay quanh việc đo lường mức độ “tiến triển” song hành với sự khốc liệt của chính bản thân cuộc chiến.

Đặt các cuộc tranh luận qua một bên, các tuyên bố công khai của Westmoreland vào tháng 04/1967 cho thấy một góc nhìn hữu ích về cách người Mỹ nói về chiến tranh, cụ thể là các chiến lược dùng để thắng trận. Trong suốt nhiệm kỳ tại Việt Nam, Westmoreland phải vật lộn để tìm ra cách tốt nhất để truyền đạt cho một số lượng thính giả đông đảo và đa dạng về những phức tạp của cuộc chiến vốn không giống như những chiến trường truyền thống của Thế Chiến II. Như một quan chức của Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn từng thừa nhận, “Tôi không thể đưa ra được bất kỳ tuyên bố tích cực nào về Việt Nam mà lại thật sự không mâu thuẫn với các tuyên bố khác.”

Nhưng nếu cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam thật sự “là một trải nghiệm hoàn toàn khác biệt của đất nước chúng ta”, 50 năm sau, nó vẫn có thể nhắc nhở chúng ta về sự cần thiết phải chấp nhận các sắc thái của chiến tranh.

Chiến tranh là hỗn loạn và rối loạn. Không có giải thích nào là dễ dàng. Thế nhưng chúng ta cứ sử dụng các ngôn ngữ sáo mòn một cách thường xuyên. Trên thực tế, với Việt Nam, những khái niệm lâu đời như “đếm số lượng tử thi” và “chiến tranh tiêu hao”, một xu hướng cơ bản trong các diễn giải lịch sử, chẳng giúp được bao nhiêu trong việc thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc hơn về một vấn đề quân sự-chính trị vốn vẫn luôn phức tạp.

Cách mà chúng ta – dù là các chính trị gia, nhà báo, nhà sử học, hay quần chúng – nói về chiến tranh, thời đó và thời nay, rất quan trọng. Giảm thiểu sự phức tạp của chiến tranh chỉ còn một cụm từ – chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến “tiêu hao” hay giả dụ thắng lợi tại Iraq là kết quả của một sự “trỗi dậy” – là đơn giản hoá một cách nguy hiểm. Ngôn ngữ thô sơ làm mất đi sự hỗn loạn sẵn có vốn là trọng tâm của một trong nỗ lực chết chóc nhất của loài người này. Những giải thích dễ dàng cho chiến thắng và thất bại càng khiến chúng ta khó mà hiểu được những gì đã thật sự xảy ra và càng khiến ta ít sẵn sàng để hiểu về cuộc xung đột tiếp theo hơn.

Và cuối cùng, đơn giản hoá chiến tranh lại khiến chúng ta trở nên dễ dàng gây chiến hơn.

Gregory Daddis là phó giáo sư sử học tại Đại học Chapman và là tác giả cuốn “Westmoreland’s War: Reassessing American Strategy in Vietnam.”
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thư nhà thơ Triệu Lam Châu gửi Đỗ Hoàng

Tuy Hoà, đêm 21 tháng 1 năm 2012 Thân mến gửi: Nhà thơ Đỗ Hoàng   Hơn một năm trước tôi có đọc bài dịch thơ Việt ra thơ Việt của anh đăng trên Tạp chí Nhà văn, thời anh Nguyễn Trác làm tổng biên tập. Tôi rất tâm đắc với việc làm của anh. Anh là một người anh hùng trên mặt trận giữ gìn sự...

Thống kê
  • Đang truy cập22
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm19
  • Hôm nay5,083
  • Tháng hiện tại173,528
  • Tổng lượt truy cập3,486,372
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây