Thế giới hôm nay: 13/08/2019

Thứ hai - 12/08/2019 22:26
Hôm nay một quy định mới bắt đầu có hiệu lực cấm các cơ quan chính phủ Mỹ mua thiết bị của Huawei. Đây là đòn mới nhất trong cuộc tấn công của chính phủ Mỹ nhằm vào gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc kể từ tháng 5, khi công ty này bị đưa vào danh sách các thực thể mà các nhà xuất khẩu Mỹ không được bán các công nghệ quan trọng
Thế giới hôm nay: 13/08/2019

Thế giới hôm nay: 13/08/2019

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: The Economist | Biên dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy

Huawei trong tầm ngắm của Mỹ

Hôm nay một quy định mới bắt đầu có hiệu lực cấm các cơ quan chính phủ Mỹ mua thiết bị của Huawei. Đây là đòn mới nhất trong cuộc tấn công của chính phủ Mỹ nhằm vào gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc kể từ tháng 5, khi công ty này bị đưa vào danh sách các thực thể mà các nhà xuất khẩu Mỹ không được bán các công nghệ quan trọng. Hoa Kỳ bày tỏ ngờ vực đối với các thiết bị viễn thông của Huawei, vốn đã phổ biến toàn cầu, và lo ngại rằng chính phủ Trung Quốc có thể sử dụng sự phổ biến này để do thám Mỹ và các đồng minh.

Nhưng Huawei còn lâu mới chịu bị đánh bại. Hồi cuối tháng 7, công ty này báo cáo tăng trưởng doanh thu hằng năm là 23%. Đến ngày 9 tháng 8, Huawei công bố một hệ điều hành mới có tên là Harmony, được thiết kế nhằm đưa họ thoát khỏi sự phụ thuộc vào hệ điều hành Android của Google. Tập đoàn này kì vọng việc thiết kế Harmony với mã nguồn mở cho phép mọi người dùng kiểm tra sẽ làm giảm sự ngờ vực. Có thể, nhưng đó vẫn là một trận chiến khó nhằn.

Quốc hội Anh và Brexit “không thỏa thuận”

Các cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn xoay quanh việc liệu Quốc hội Anh có thể ngăn chính phủ của ông Boris Johnson đưa Anh ra khỏi Liên minh châu Âu mà không cần một thỏa thuận nào. Đa số các nghị sĩ đều chống lại việc “không thỏa thuận”, nhưng ông Johnson khẳng định rằng Brexit phải diễn ra vào ngày 31 tháng 10, “ra đi hay là chết”. Hiện tại cả luật pháp của Anh và EU đều ấn định Brexit vào ngày này, sau khi đã gia hạn thêm 7 tháng kể từ hạn chót ban đầu vào mùa xuân.

Một báo cáo mới từ Viện Quản trị chính quyền (một viện nghiên cứu độc lập), cho rằng các nghị sĩ đang cạn dần các lựa chọn và thời gian trong việc ngăn chặn một Brexit “không thỏa thuận”. Chính phủ cho rằng họ có thể chặn đứng mọi nỗ lực (của Nghị viện) nhằm thông qua luật kêu gọi kéo dài thời hạn Brexit. Ngay cả khi Nghị viện bỏ phiếu bất tín nhiệm ông Johnson vào tháng tới, như các nghị sĩ từ một số đảng hy vọng, thì Phố Downing vẫn tin rằng họ có thể trì hoãn cuộc tổng tuyển cử cho đến sau khi Brexit xảy ra. Và chỉ còn có 79 ngày nữa là đến ngày 31/10.

Bầu cử tổng thống ở Argentina

Cuối tuần qua kết quả bỏ phiếu áp đảo ở Argentina rất có thể báo hiệu sự kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của Mauricio Macri. Triển vọng quay trở lại chủ nghĩa dân túy đã kích hoạt sự hốt hoảng của thị trường hôm thứ Hai. Vòng bỏ phiếu sơ bộ toàn quốc này sẽ được tiếp nối bởi cuộc bầu cử vào tháng Mười, song tỉ lệ phiếu cho thấy cơ hội cho chính phủ của ông Macri là rất mong manh. Tỉ lệ phiếu toàn quốc dành cho ông giảm 48% xuống chỉ còn 32%, mang lại lợi thế cho Alberto Fernández, một nhà Peron chủ nghĩa kỳ cựu, và người đồng hành cùng chạy đua với ông này, cựu Tổng thống Cristina Fernández de Kirchner.

Ông Fernández, người đề nghị giảm giá đồng peso và tuyên bố vỡ nợ trái phiếu chính phủ Argentina, đã ăn mừng chiến thắng sơ bộ, tuyên bố rằng: “Chúng tôi chính là sự thay đổi”. Cơ cấu phiếu cho thấy ông Macri vẫn còn đó cơ hội, mặc cho lạm phát cao, tỉ lệ thất nghiệp tăng, và gói cứu trợ 57 tỉ đô la từ IMF. Thế nhưng, ngài tổng thống, rõ ràng đang choáng váng, than thở về một “cuộc bầu cử tồi tệ” và hy vọng rằng phe đối lập sẽ thể hiện “trách nhiệm” trong vài tháng tới.

Mục tiêu thực hiện: lạm phát ở Mỹ

Tháng trước, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã giảm lãi suất chuẩn lần đầu tiên sau hơn một thập niên. Tại sao họ lại làm điều này? Vì một loạt lý do. Có những dấu hiệu cho thấy sự yếu kém trong nền kinh tế toàn cầu, và cả ở Mỹ. Cuộc chiến tranh thương mại của Tổng thống Trump ở nước ngoài ngày càng có khả năng gây hại ngược lại cho nền kinh tế Mỹ. Hơn nữa, lạm phát ở Mỹ đã thấp một cách kỳ lạ, liên tục dưới mức mục tiêu 2% của Fed.

Hôm nay Bộ Lao động sẽ công bố dữ liệu lạm phát mới nhất của họ. Các nhà kinh tế kỳ vọng rằng lạm phát cơ bản, đã loại trừ giá lương thực và năng lượng vốn bất ổn định, sẽ tăng 0,2% trong tháng 7 và 2,1% trong năm nay. Song ngay cả một con số lạm phát mạnh mẽ ngay hôm nay vẫn khó có thể dập tắt những lo ngại của Fed. Thuế quan đối với hàng tiêu dùng rõ ràng đang đẩy lạm phát lên cao, nhưng tác động của chúng chỉ là nhất thời. Nếu hôm nay lạm phát giảm, rất có khả năng một số quan chức Fed sẽ muốn cắt giảm lãi suất hơn nữa.

Nỗi lo lắng của các công ty du lịch

Năm vừa qua rõ ràng là năm khó khăn cho các gã khổng lồ điều hành các tour du lịch Châu Âu. Giá cổ phiếu hãng TUI của Đức đã giảm một nửa, trong khi đó cổ phiếu hãng Thomas Cook của Anh đã giảm hơn 90%. Thomas Cook đang nhanh chóng cạn kiệt tiền mặt; niềm hy vọng của họ nằm ở khoản cứu trợ từ những người cho vay và Fosun, một tập đoàn Trung Quốc, đồng thời là cổ đông lớn nhất của công ty này.

Khi TUI báo cáo doanh thu Quý II vào hôm nay, các nhà đầu tư đang mong đợi vào các tin tốt hơn. Song hầu hết các vấn đề dẫn đến sụt giảm lợi nhuận của họ hồi đầu năm nay vẫn rất nghiêm trọng: chi tiêu thấp của người tiêu dùng Anh vào các ngày lễ do lo ngại tác động của một Brexit “không thỏa thuận”, sự “quá tải” ở các thị trường Trung Âu cốt lõi của họ và tình hình không mấy khả quan của dòng máy bay Boeing 737 MAX (mà theo công ty ước tính sẽ tiêu tốn đến 300 triệu euro (336 triệu đô la) vào tháng Chín). Nhưng ít nhất họ cũng nên có lãi trong năm nay, điều mà Thomas Cook khó có thể làm được.
 

#231 – Lý Quang Diệu viết về chiến lược Thao quang dưỡng hối của TQ

Print Friendly, PDF & Email

china-is-the-chinese-dragon-ready-to-show-its-L-sBVUuB

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Tao guang yang hui”, in L.K. Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 28-50.

Biên dịch & Hiệu đính: Phạm Trang Nhung

Bài liên quan: Các chương khác của cuốn One Man’s View of the World

Tôi gặp Tập Cận Bình lần đầu tiên ở Đại lễ đường Nhân dân trong một chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 11 năm 2007. Ban đầu tôi không yêu cầu gặp ông ta. Tôi đã đề nghị gặp một người khác, nhưng rồi người ta sắp xếp cho tôi gặp ông, như vừa nói. Họ coi ông ở vị trí cao trong danh sách ưu tiên. Đó là lần đầu tiên ông ấy gặp một vị lãnh đạo nước ngoài sau khi được bổ nhiệm vào Thường vụ  Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, một động thái rõ ràng để ám chỉ với thế giới rằng người ta đã dự kiến để ông tiếp quản vị trí của Hồ Cẩm Đào.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là một người cực kì phóng khoáng – cái mà người Trung Quốc hay gọi là đại khí (da qi), ngược với tiểu khí (xiao qi). Ông không phải kẻ hẹp hòi. Ông ấy suy nghĩ kĩ càng về các vấn đề và không muốn khoe khoang hiểu biết của mình. Ông thiếu sự thân thiện của Giang Trạch Dân và cũng không kiểu cách như Hồ Cẩm Đào. Nhưng ông có vẻ trang trọng. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi. Cân nhắc thêm những thách thức và khổ sở mà ông ấy đã trải qua, khi còn trẻ đã bị đưa về nông thôn, tới Thiểm Tây năm 1969, nhưng lại tìm cách để từng bước quay về, không phàn nàn, không cằn nhằn. Tôi muốn đặt ông vào cùng kiểu người với Nelson Mandela.

Ông Tập là cốt lõi của thế hệ lãnh đạo thứ 5 của Trung Quốc tính từ năm 1949. Ông đứng đầu một chính phủ có tiêu chuẩn về năng lực cao ở mọi cấp độ – một phẩm chất có từ thời chế độ quan lại (phong kiến). Hơn thế nữa, các quan chức Trung Quốc lại được tiếp xúc với giáo dục kiểu phương Tây, quen thuộc với thế giới, và nói tiếng Anh trôi chảy. Họ không còn là những người cộng sản theo đúng nghĩa đen của từ này, mà là những người theo chủ nghĩa thực dụng quyết tâm tôi luyện được một quốc gia giàu có, phát triển và có kỹ thuật tiên tiến. Cả bốn lãnh đạo tối cao trước đó đều để lại những dấu ấn riêng. Với Mao Trạch Đông, đó là những cuộc cách mạng liên miên. Với Đặng Tiểu Bình, đó là cải cách và mở cửa. Với Giang Trạch Dân, đó là củng cố và phát triển. Và với Hồ Cẩm Đào, đó là xã hội hài hòa – cụ thể hơn, rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Còn ông Tập sẽ để lại di sản gì?

Kể từ khi tôi thăm Trung Quốc lần đầu năm 1976, tôi đã quyết định là phải cố thăm nước này thường xuyên – mỗi năm một lần nếu có thể. Tôi đã gặp tất cả các vị lãnh đạo tối cao này, từ Mao tới Hồ, và giờ là Tập. Mao là một người đàn ông vĩ đại đã giúp Trung Quốc hồi sinh. Năm 1949, sau 200 năm hỗn loạn, ông ta đứng ở Thiên An Môn và tuyên bố rằng “Người Trung Quốc đã vùng lên”. Là một người cách mạng, Mao chẳng thua kém ai. Ông là bậc thầy về chiến tranh du kích và với các hành động quân sự khéo léo, đã đánh bại Quốc Dân Đảng và thống nhất đất nước. Nhưng liệu ông có phải người hiện đại hóa Trung Quốc? Lịch sử ghi nhận đầy bi thương rằng người đàn ông đã giải phóng Trung Quốc lại gần như đã phá hủy nước này trong Cách mạng Văn hóa. Nếu ông còn sống tiếp, hay nếu Hoa Quốc Phong – người kế nhiệm ngay sau ông và đã thừa hưởng tư tưởng của ông – còn tiếp tục nắm quyền, Trung Quốc sẽ đi theo con đường của Liên Xô. Tôi chỉ có cơ hội gặp Mao khi ông đã kết thúc sự nghiệp, khi ông không còn ở đỉnh cao nhất. Có một người phụ nữ dịch những gì ông nói bằng giọng Hồ Nam cho người phiên dịch để người này dịch lại sang tiếng Anh. Tôi đã chỉ thấy được cái bóng của một người đàn ông huyền thoại.

Thật may cho Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã đảo ngược lộ trình của nước này. Ông ấy tới Singapore năm 1978, sau khi tới Bangkok và Kuala Lumpur. Ông ta muốn chúng tôi tập hợp lại và ngăn chặn việc Việt Nam tấn công Campuchia, và, nếu họ thực sự tấn công Campuchia, thì cản bước họ. Tôi nghĩ chuyến đi đó đã mở mắt cho ông. Hẳn là ông ấy đã kì vọng sẽ thấy ba thủ đô lạc hậu. Đó vốn là ba nước nghèo. Thay vào đó, ông đã thấy ba thủ đô vượt trội so với bất kì thành phố nào ở Trung Quốc. Ông ấy ở Singapore bốn ngày. Khi cửa lên máy bay của ông đóng lại ở sân bay, tôi nói với các đồng nghiệp của mình: “Những báo cáo viên của ông ta sắp phải chịu trận rồi bởi vì ông ta đã thấy một Singapore hoàn toàn trái ngược với những báo cáo ông ta nhận được.” Những bản báo cáo đó hẳn là do những người ủng hộ cộng sản ở đây soạn ra và nó đã bị xuyên tạc.

Ông ấy đã chúc mừng tôi lúc ăn tối và khi tôi hỏi lý do, ông nói: “Các ông có một thành phố thật đẹp, một thành phố xanh” (từ gốc: garden city). Tôi đã cảm ơn ông nhưng lại nói thêm: “Bất kể cái gì chúng tôi làm được, các vị đều có thể làm tốt hơn bởi vì chúng tôi là hậu duệ của những nông dân mất đất ở miền Nam Trung Quốc. Các vị có trí thức, các vị có nhà khoa học, các vị có chuyên gia. Dù chúng tôi làm gì, các vị cũng sẽ làm tốt hơn.” Ông ấy không trả lời tôi mà chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt sắc lẻm và rồi ông tiếp tục và chuyển chủ đề. Đó là vào năm 1978.

Năm 1992, ông xuống Quảng Đông trong chuyến thăm miền nam nổi tiếng nhằm thúc đẩy tầng lớp lãnh đạo tiến hành mở cửa và ông đã nói: “Học tập từ thế giới, và đặc biệt là học tập Singapore rồi làm tốt hơn họ.” Tôi tự nói với mình: “À, ông ấy không quên những gì mình nói.” Thực sự là họ có thể làm tốt hơn chúng tôi.

Ở Singapore, Đặng đã thấy được làm thế nào mà một hòn đảo nhỏ chẳng có tài nguyên thiên nhiên gì lại có thể tạo ra đời sống tốt đẹp cho người dân chỉ bằng cách thu hút đầu tư, quản lý và kĩ thuật của nước ngoài. Ông đã trở về Trung Quốc khi bị thuyết phục rằng cần phải mở cửa nền kinh tế với thế giới. Đó là một thời khắc có vai trò quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, một bước ngoặt chủ chốt mà nước này đã không còn nhìn lại từ đó nữa.

Tôi đã chứng kiến những biến đổi lớn của nước này. Công cuộc xây dựng vật chất đã biến những thành phố cũ nát, không được xây dựng tử tế với cơ sở vật chất nghèo nàn trở thành những thành phố có tàu tốc hành, đường cao tốc và sân bay. Bạn có thể thăm Đại Liên, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Đông, hay Thâm Quyến – giờ chúng có thể sánh với Hong Kong hay bất kì thành phố nào khác trên thế giới. Người Trung Quốc là những người thợ xây và thợ mộc vĩ đại. Tôi chẳng hiểu nổi vì sao họ lại kìm hãm việc này lâu đến thế, dù nó gây hại cho chính họ.

Đặng xứng đáng được ghi công nhiều nhất vì đã đưa Trung Quốc vào một quỹ đạo khác. Khi ông muốn mở cửa, nhiều lãnh đạo cũ đã phản đối. Nhưng ông là người cương quyết. Ông gạt họ sang bên và cứ tiếp tục tiến hành. Nếu không có ông, thì quá trình chuyển đổi đã chẳng diễn ra nhanh như vậy, bởi vì ông là người duy nhất từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh đã không đếm xỉa đến những kẻ hay nghi ngại. Một người đàn ông có vóc dáng nhỏ bé, nhưng lại là một lãnh đạo vĩ đại – không nghi ngờ gì nữa Đặng là lãnh đạo quốc tế ấn tượng nhất mà tôi từng gặp.

Giang Trạch Dân được Đặng Tiểu Bình chọn làm người lãnh đạo kế nhiệm. Là bí thư đảng của Thượng Hải khi diễn ra sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Giang đã trấn áp thành công những cuộc nổi loạn tương tự ở Thượng Hải. Ông là người kiên định xem việc hoàn thành chương trình hiện đại hóa do Đặng khởi xướng là mục tiêu của mình. Tôi vẫn nhớ ông là một người nồng hậu và thân thiện. Ông ta có thể hát vang bài hát tiếng Ý nổi tiếng, O Sole Mio. Và ông ấy chộp lấy tôi và nói: “Ông nghĩ người Mỹ sẽ làm gì chúng tôi?” Tất nhiên, đó là trước khi họ có những mối quan hệ tốt đẹp với người Mỹ. Giờ thì họ chẳng còn cần hỏi tôi câu đó nữa.

Tôi cho rằng Hồ Cẩm Đào là người củng cố (Trung Quốc). Có lẽ có vài thay đổi căn bản đã diễn ra dưới thời ông cầm quyền. Nhưng ông đã có quá nhiều vấn đề cần giải quyết liên quan đến việc củng cố (đất nước), xét đến hàng loạt thách thức mà Trung Quốc phải đối mặt, như là việc di dân giữa thành thị và nông thôn và khoảng cách thu nhập gia tăng. Tôi có ấn tượng rằng ông là một người trầm tính và sâu sắc. Ông không khoa trương, nhưng ông có trí nhớ tuyệt vời và nghiên cứu cẩn thận mọi vấn đề. Ngay sau khi nắm quyền, đã có một vài sai lầm ban đầu khi giải quyết khủng hoảng dịch SARS, nhưng khi họ nhận ra rằng nó là mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền kinh tế, họ đã kìm lại để giải quyết vấn đề, kể cả việc sa thải Bộ trưởng Y tế và Thị trưởng Bắc Kinh chưa từng có tiền lệ.  Đó là cuộc phô diễn cho sự lãnh đạo cứng rắn của Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Sau cùng thì, một trong những lý do Hồ được đưa vào trung ương là vì ông đã dẹp yên cuộc nổi loạn ở Tây Tạng. Đằng sau vẻ ngoài ôn hòa thân thiện, tôi nghĩ ông là người đàn ông thép.

Thật khó để dự đoán là Tập Cận Bình sẽ theo đuổi chính sách gì và ông ấy sẽ để lại những di sản gì sau một thập kỉ cầm quyền. Các lãnh đạo Trung Quốc không phổ biến kế hoạch tương lai trước khi nhậm chức. Họ không thích mạo hiểm. Trung Quốc đang ở trong một thời kì quan trọng liên quan đến các thách thức trong nước và ông ấy sẽ muốn dành sức giải quyết những vấn đề này. Có nhiều chuyện cũng phụ thuộc vào các sự kiện bên ngoài đột nhiên phát sinh. Kế hoạch tốt nhất của bạn có thể đi chệch hướng khi bạn phải đối mặt với một diễn biến không mong muốn nghiêm trọng. Nhưng tôi tin là ông sẽ phản ứng một cách thấu đáo, không sợ hãi. Ông có ảnh hưởng lớn và tôi nghĩ ông sẽ quản lý được đảng theo ý mình. Xuất thân quân đội của ông cũng giúp ông có ảnh hưởng với quân đội.

Chính sách đối ngoại của ông sẽ được theo dõi sát sao. Sự nổi lên của Trung Quốc đã trở thành nỗi khiếp sợ với nhiều nước, dù phương Tây hay châu Á. Một nước Trung Quốc mạnh mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng toàn cầu, như là khoản đầu tư ngày càng tăng của các công ty Trung Quốc hoạt động ở nước ngoài. Nhưng các láng giềng của Trung Quốc đã bắt đầu cảm nhận được một lập trường chính sách đối ngoại cứng rắn hơn từ phía người khổng lồ ngủ say vừa mới thức tỉnh này. Nước Mỹ cũng sẽ đối mặt với những thách thức lớn đối với thế ưu việt của nước này, nếu không phải là ở mức độ toàn cầu thì chắc chắn cũng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Vấn đề trung tâm là liệu người ta có tin vào việc Trung Quốc lặp đi lặp lại đảm bảo rằng nước này chẳng tìm kiếm gì hơn ngoài một sự trỗi dậy hòa bình và nước này sẽ không bao giờ trở thành bá quyền không? Có hai cách nhìn. Một là Trung Quốc sẽ trở nên mạnh mẽ một cách thầm lặng và lặng lẽ tăng cường ảnh hưởng của họ mà không hành động như là kẻ gây hấn. Một cách khác là họ sẽ phô trương sức mạnh và cố gắng hăm dọa các nước khác.

Tôi nghĩ họ sẽ chọn cách thứ nhất, nhưng đồng thời cũng tăng cường sức mạnh. Đặng Tiểu Bình bị thuyết phục rằng sẽ khôn ngoạn hơn khi Trung Quốc cố gắng tránh gây chú ý khi nước này dần trở nên mạnh hơn. Ông đã tin vào việc che dấu năng lực, hay như người Trung Quốc gọi là thao quang dưỡng hối. Người Trung Quốc biết rằng họ cần từ 30 tới 40 năm hòa bình nữa thì mới bắt kịp với phần còn lại của thế giới. Họ đã đi đến kết luận rằng nếu họ vẫn giữ nguyên lộ trình, tránh làm phật lòng các cường quốc hiện tại và kết bạn với mọi nước, họ sẽ chỉ càng ngày càng mạnh hơn. Việc này sẽ cho họ không gian để giải quyết các vấn đề nội bộ và tiếp tục phát triển kinh tế.

Họ cũng quan tâm tới nhu cầu tránh đi vào những vết xe đổ của Nhật Bản và Đức. Sự trỗi dậy của Đức và Nhật đã dẫn đến một cuộc cạnh tranh quyền lực ở châu Âu và châu Á, ảnh hưởng và tài nguyên đã dẫn đến hai cuộc chiến tranh khủng khiếp trong thế kỉ hai mươi, và hoàn toàn kết liễu sự trỗi dậy của họ. Nếu Trung Quốc tham gia vào một cuộc chiến, nước này sẽ phải mạo hiểm đối mặt với bất ổn nội bộ, xung đột và hỗn loạn, và có thể lại tụt lùi – một khoảng lớn. Do vậy, với người Trung Quốc, tính toán có lý trí sẽ là “Chúng ta đã chờ đợi lâu như vậy mới có cơ hội này để bắt kịp thế giới phát triển. Tại sao lại phải vội vã và gây nguy hại cho quá trình trỗi dậy từ từ của chúng ta?”

Tất nhiên điều đó không có nghĩa là Trung Quốc chỉ đơn thuần nhượng bộ mỗi khi có xung đột với nước khác. Khi cân bằng quyền lực thay đổi, nước này sẽ càng tự do thể hiện những gì họ thích và không thích. Và như cựu Ngoại trưởng Dương Khiết Trì từng nói, ở đâu mà lợi ích cốt lõi của Trung Quốc bị đe dọa thì người Trung Quốc sẽ phải tự khẳng định mình.

Các láng giềng gần gũi nhất của Trung Quốc ở châu Á đã thử nếm trải điều này. Vào năm 2008, Việt Nam trao cho công ty dầu khí Exxon Mobil của Mỹ quyền khoan dầu trong vùng nước tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Hải quân Trung Quốc đã đề nghị Exxon Mobil dời đi. Chính phủ Trung Quốc cũng nói rõ rằng nếu thỏa thuận này được tiến hành, thì việc làm ăn của ExxonMobil ở Trung Quốc sẽ bị đe dọa. Và thế là ExxonMobil phải dời đi bởi vì hải quân Mỹ không ở đó để hỗ trợ hay đảm bảo quyền của họ.

Gần đây hơn, vào năm 2010, Nhật Bản đã bắt giữ một thuyền trưởng tàu cá của Trung Quốc sau khi tàu của ông ta va chạm với tàu tuần tra Nhật Bản ở ngoài khơi Quần đảo Senkaku đang tranh chấp, được người Trung Quốc gọi là quần đảo Điếu Ngư. Ban đầu Nhật Bản muốn xét xử thuyền trưởng này theo luật nước mình, những cuối cùng lại phải nhượng bộ do áp lực nặng nề từ phía Trung Quốc và quyết định thả ông ta.

Vụ việc cho thấy cân bằng quyền lực đã thay đổi nhiều thế nào. Người Nhật hiện giờ phải đối phó với một nước Trung Quốc to gấp 10 lần nước Nhật, không phải là một nước Trung Quốc mà họ có thể xâm lược và gần như tóm gọn như hồi Thế chiến thứ 2 nữa. Sự khuất phục của Nhật Bản chỉ là một sự chấp nhận thực tại. Họ đã hiểu được rằng họ phải đối phó với một Trung Quốc có tổ chức, có kỉ luật – không phải với các lãnh chúa cát cứ, mà với một chính quyền trung ương có thể hành động quyết đoán.

Do vậy qua thời gian, bạn có thể thấy rất rõ ràng rằng người Trung Quốc không phải những người bị động. Họ chủ động theo đuổi những yêu sách của mình, và họ sẽ tiếp tục làm thế. Người Trung Quốc biết họ là nước lớn nhất trong khu vực và rằng khi họ ngày càng mạnh lên, họ có thể đòi hỏi các láng giềng tôn trọng quyền của họ hơn. Do đó, việc Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện đáng kể ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương để cân bằng với Trung Quốc cũng là lợi ích của các nước châu Á khác, bao gồm cả các nước ASEAN. Nếu không có đối trọng từ phía Mỹ, các nước nhỏ ở châu Á sẽ chẳng thể cựa quậy được. Khi bạn có hai cái cây, chứ không phải một, bạn có thể chọn đứng dưới bóng cái cây nào. Ở lại vùng Thái Bình Dương cũng quan trọng với Mỹ, bởi vì nếu người Mỹ đánh mất thế vượt trội ở đây, họ cũng sẽ mất nó trên toàn cầu.

Cuộc cạnh tranh giành thế ưu việt trong khu vực giữa Mỹ và Trung Quốc đã diễn ra rồi. Và nó sẽ tiếp tục trong phần còn lại của thế kỉ 21. Tới khi ấy, quan hệ Mỹ-Trung sẽ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới, không khác quan hệ Mỹ – Xô thời Chiến tranh Lạnh. Trong vài năm sau sự kiện 11/9, nước Mỹ đã bị phân tâm bởi chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, và Trung Quốc đã có thể thầm lặng tăng cường lợi ích trong khu vực, làm sâu sắc thêm các mối quan hệ và ký một thỏa thuận thương mại tự do với ASEAN.

Khi cựu thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đề xuất về khu vực thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN cách đây một thập kỉ, các chính quyền ASEAN đã rất kinh ngạc bởi vì chúng tôi nghĩ rằng Trung Quốc rất ngần ngại với việc mở cửa nền kinh tế hơn nữa thông qua các thỏa thuận thương mại tự do song phương và khu vực. Đó là một bước đi chiến lược của người Trung Quốc để phát triển các mối quan hệ kinh tế mạnh với ASEAN qua đó ASEAN sẽ xem sự phát triển của Trung Quốc là một cơ hội chứ không phải một mối đe dọa. Tôi đã nói với Đại diện thương mại Mỹ khi ấy rằng nếu không có thỏa thuận thương mại tự do Mỹ-ASEAN trong vòng 10 tới 20 năm thì nền kinh tế ASEAN sẽ ngày càng hội nhập với thị trường Trung Quốc, và Mỹ sẽ trở thành thị trường thứ yếu đối với chúng tôi.

Về mặt quân sự, người Mỹ vẫn còn bỏ xa trong cuộc chơi. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, dù đã đạt mức tăng trưởng hàng năm hai chữ số, vẫn thua kém ngân sách quốc phòng của Mỹ khi chỉ bằng một phần sáu của họ – và điều này được phản ánh trong công nghệ quân sự vượt trội của người Mỹ. Rốt cuộc người Trung Quốc sẽ muốn trở thành một cường quốc quân sự mạnh như Mỹ. Điều này sẽ tốn nhiều thập kỉ.

Nhưng người Trung Quốc đang làm tất cả những gì có thể để đuổi kịp. Họ đang cố gắng tương xứng với Mỹ về mặt công nghệ cao – đưa người vào vũ trụ và phát triển một hệ thống GPS mà Mỹ không thể phá hủy hay vô hiệu hóa. Họ biết rằng nếu họ phụ thuộc vào hệ thống GPS của Mỹ, họ sẽ bị qua mặt. Và khi người Trung Quốc chứng minh rằng họ có thể tự bắn hạ vệ tinh trong vũ trụ và đánh chặn chính các tên lửa đạn đạo của mình, họ muốn gửi cho Mỹ một cảnh báo: “Anh không thể đe dọa tôi nữa. Tôi sẽ bắn hạ tên lửa của anh trên Thái Bình Dương.” Chúng ta đang nói về việc một cái kim truy đuổi một cái kim khác đang di chuyển trên bầu trời – đó không phải là kiểu bắn cung đơn giản về mặt kĩ thuật. Đó là minh chứng rõ ràng nhất cho khả năng của họ.

Cùng lúc, tôi thấy người Trung Quốc cố gắng giữ vùng duyên hải phía đông của họ thoát khỏi do thám của Mỹ. Vào thời điểm hiện tại, người Mỹ đã có thể tiếp cận được đến cách bờ biển Trung Quốc 12 hải lý và thăm dò vào trong (từ đó). Bây giờ, thử tưởng tượng điều ngược lại. Nếu hải quân và không lực Trung Quốc – các tàu sân bay của nước này – cũng đến gần bờ biển nước Mỹ một khoảng tương tự, người Mỹ sẽ thấy không thể chấp nhận được. Họ sẽ không cho phép điều đó xảy ra. Giờ bạn có thể tưởng tượng người Trung Quốc cảm thấy thế nào.

Nhưng để có khả năng đẩy người Mỹ ra xa khỏi bờ biển của mình, họ phải cải thiện công nghệ của các tên lửa tầm xa. Khi bạn đã làm được điều đó, mối đe dọa ngầm là nếu ai đó đến quá gần, bạn sẽ phóng tên lửa đánh chìm tàu sân bay hay bắn rơi máy bay của kẻ đó. Vào thời điểm hiện tại, Trung Quốc chưa thể làm được điều này. Đến lúc họ làm được, máy bay (của Mỹ) sẽ ở ngoài tầm với. Người Mỹ sẽ chẳng trông chờ vào vận may. Và người Trung Quốc sẽ nói “Đây là vùng đặc quyền kinh tế của tôi, (anh) cứ ở ngoài. Tôi không đi đến bờ biển phía Thái Bình Dương của anh, thế thì ai cho anh quyền tới đây?” Liệu người Mỹ có nói “không”? Cuối cùng, lẽ phải thuộc về kẻ mạnh.

Do đó cuối cùng, sẽ có cân bằng – cán cân được cân bằng dần trong vòng 20 hay 30 năm. Sự cân bằng đầu tiên sẽ đẩy người Mỹ ra khỏi giới hạn 12 hải lý. Sự cân bằng thứ hai sẽ đẩy họ ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Và một khi họ (Trung Quốc) có thể làm thế, họ sẽ trở thành cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực.

Một vài học giả dự đoán dựa trên lịch sử rằng khi một cường quốc trỗi dậy và siêu cường hiện hữu thấy sự thống trị của mình bị đe dọa, xung đột quân sự giữa hai bên rất có khả năng xảy ra nếu không nói là không thể tránh khỏi. Trong trường hợp Trung Quốc và Mỹ, tôi không đồng ý với họ. Hai bên chẳng có lợi ích gì khi đối mặt với nhau trên chiến trường. Cả hai nước đều có vũ khí hạt nhân, vì vậy họ biết có khả năng dẫn tới kết cục hủy diệt khủng khiếp. Hơn nữa, không giống với quan hệ Xô-Mỹ, hiện nay chẳng có xung đột về ý thức hệ khốc liệt, không thể hòa giải được giữa người Mỹ và một Trung Quốc đã rất nhiệt tình ủng hộ thị trường tự do. Người Trung Quốc cần quan hệ thân thiện với Mỹ để đảm bảo tiếp tục được tiếp cận thị trường, đầu tư, công nghệ và các trường đại học của nước này. Còn Mỹ thì đơn giản là không có nhu cầu biến Trung Quốc thành một kẻ thù lâu dài.

Cuộc khủng hoảng lớn nhất có thể phát sinh giữa hai nước là vấn đề Đài Loan. Nhưng tôi không nghĩ Mỹ sẽ gây chiến với Trung Quốc để bảo vệ sự độc lập của Đài Loan. Điều đó không đáng. Bạn có thể chiến đấu và thắng vòng một. Nhưng liệu người Mỹ có chuẩn bị để chiến đấu hết vòng này đến vòng khác? Liệu cuối cùng họ có chuẩn bị để trả cái giá mà Trung Quốc sẵn sàng trả vì Đài Loan? Xin nhớ rằng không có lãnh đạo nào của Trung Quốc có thể tồn tại nếu để mất Đài Loan trong nhiệm kì của mình. Do vậy, với người Trung Quốc, đây là vấn đề rất nghiêm trọng.

Kể cả khi họ thua vòng đầu tiên, họ sẽ trở lại với vòng hai, rồi vòng ba và vòng bốn – không ngừng không nghỉ, cho tới khi họ thắng. Điều này không đáng giá với Mỹ. Qua thời gian người Đài Loan sẽ nhận ra điều này, nếu hiện giờ họ vẫn chưa hiểu ra. Mã Anh Cửu đã gần như nói thẳng ra điều này với khẩu hiệu “bất thống, bất độc, bất vũ” (bu tong, bu du, bu wu) – Không thống nhất, không độc lập, không sử dụng vũ lực. Cụm từ cốt yếu là không độc lập, bởi vì không nghi ngờ gì nữa ngay thời điểm Đài Loan tuyên bố độc lập, Trung Quốc sẽ viện đến vũ lực để giành lại hòn đảo này.

Thống nhất Đài Loan và Đại lục chỉ là vấn đề thời gian. Không quốc gia nào có thể ngăn cản điều này. Thực tế, số phận quốc tế của Đài Loan đã được xác định từ lâu ở Hội nghị Cairo năm 1943 khi Franklin D. Roosevelt và Winston Churchill đồng ý với Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch về việc trả Đài Loan về với Trung Quốc. Khi Lý Đăng Huy lên làm Tổng thống, ông đã bắt đầu một quá trình Đài Loan hóa – tập trung vào việc tách rời hòn đảo này khỏi Trung Quốc. Nhưng điều này sẽ không thay đổi kết cục thống nhất cuối cùng. Tác dụng của việc này chỉ là khiến người Đài Loan càng tổn thương hơn khi hợp nhất thực sự xảy ra. Kinh tế sẽ giải quyết vấn đề này. Sự hợp nhất về kinh tế dần dần và không ngừng sẽ mang hai xã hội lại gần nhau, và Trung Quốc sẽ không thấy cần thiết phải dùng vũ lực.

Hiện giờ quan hệ kinh tế hai bên đã phát triển dưới sự cầm quyền của Tổng thống Mã và sẽ tiếp tục phát triển trong bốn năm tới. Và sau thời kì 8 năm dưới quyền Quốc Dân Đảng, cứ cho rằng Đảng Dân tiến sẽ lại nắm quyền và đảo ngược chính sách, thì các nông dân và nhà công nghiệp Đài Loan cũng sẽ phải chịu hậu quả, và DPP sẽ thất bại trong kì bầu cử sau đó, hoặc sau đó nữa. Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng sẽ khiến cho việc Đài Loan tiến tới độc lập là bất khả thi.

07/06/1893: Gandhi lần đầu tiến hành bất tuân dân sự

Print Friendly, PDF & Email

young-gandhi_2683415b

Nguồn: “Gandhi’s first act of civil disobedience,” History.com (truy cập ngày 06/6/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Ngày mùng 7 tháng 6 năm 1893, trong một sự kiện có ảnh hưởng đáng kể tới người dân Ấn Độ sau này, Mohandas K. Gandhi, một luật sư trẻ người Ấn Độ đang làm việc ở Nam Phi, đã từ chối tuân thủ các quy định mang tính phân biệt chủng tộc trên một chuyến tàu ở Nam Phi, sau đó bị đuổi khỏi tàu ở thành phố Pietermaritzburg.

Sinh ra ở Ấn Độ nhưng theo học tại Anh, đầu năm 1893, Gandhi đến Nam Phi để hành nghề luật theo hợp đồng kéo dài một năm. Cư trú ở Natal, ông phải chịu sự phân biệt chủng tộc và những quy định pháp luật của Nam Phi hạn chế quyền lợi của người lao động Ấn Độ. Sau này nhớ lại, Gandhi đã gọi thời khắc mà ông bị buộc phải rời khỏi toa xe lửa hạng nhất và sau đó bị ném ra khỏi chuyến tàu hôm mùng 7 tháng 6 là thời khắc quyết định của ông. Từ đó trở đi, ông quyết tâm chống lại sự bất công và bảo vệ những quyền lợi của mình trong vai trò một người Ấn Độ nói riêng và một con người nói chung.

Khi hợp đồng hết hạn, ông quyết định ở lại Nam Phi và vận động một chiến dịch chống lại một dự thảo luật tước đi quyền bầu cử của người di dân Ấn Độ. Ông thành lập Hội nghị dân tộc Ấn ở Natal và thu hút sự chú ý của quốc tế về tình cảnh của người Ấn Độ ở Nam Phi. Năm 1906, chính quyền Transvaal tìm cách hạn chế hơn nữa quyền lợi của người Ấn Độ, sau đó Gandhi đã tổ chức chiến dịch satyagraha, hay bất tuân dân sự đại chúng, đầu tiên của mình. Sau bảy năm đấu tranh, ông đã đạt được một thỏa thuận thỏa hiệp với chính phủ Nam Phi.

Năm 1914, Gandhi trở lại Ấn Độ. Tuy ủng hộ người Anh trong Thế chiến thứ nhất, ông đã phát động một cuộc satyagraha mới để phản đối dự thảo luật quân dịch bắt buộc của Anh đối với người Ấn Độ trong năm 1919. Hàng trăm ngàn người đã hưởng ứng lời kêu gọi của ông, và đến năm 1920, ông trở thành lãnh đạo của phong trào độc lập Ấn Độ. Luôn ủng hộ đấu tranh bất bạo động, ông khẳng định sự đoàn kết của mọi người dưới một Thiên chúa và rao giảng đạo đức Kitô giáo và Hồi giáo bên cạnh giáo lý Ấn Độ giáo của mình. Các nhà chức trách Anh đã nhiều lần bắt giam ông, nhưng dưới sức ép to lớn của những người ủng hộ, ông đều được thả.

Sau Thế chiến thứ hai, ông là nhân vật hàng đầu trong các cuộc đàm phán đưa Ấn Độ đến độc lập năm 1947. Dù ca ngợi việc trao trả độc lập cho Ấn Độ là “hành động cao quý nhất của nước Anh,” ông đã đau khổ trước sự chia rẽ tôn giáo thành hai vùng Ấn Độ và Pakistan của Đế quốc Mogul cũ. Khi bạo lực nổ ra giữa người Ấn Độ giáo và người Hồi giáo ở Ấn Độ năm 1947, Gandhi đã thực hành chay tịnh và đến thăm những khu vực bất ổn để cố gắng chấm dứt cuộc xung đột tôn giáo của Ấn Độ. Ngày 30 tháng 1 năm 1948, trên đường tới một lễ cầu nguyện ở New Delhi, Gandhi đã bị bắn chết bởi Nathuram Godse, một tín đồ Ấn Độ giáo cực đoan phản đối lòng khoan dung của ông dành cho người Hồi giáo.

Được biết đến dưới tên Mahatma, có nghĩa là “linh hồn vĩ đại,” trong suốt cuộc đời mình, phương pháp bất tuân dân sự của Gandhi đã có ảnh hưởng tới nhiều nhà lãnh đạo phong trào dân quyền trên toàn thế giới, đặc biệt là mục sư Martin Luther King ở Hoa Kỳ.

Ảnh: Mahatma Gandhi tại Anh năm 1913. Nguồn: The Telegraph.

07/08/1964: Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết vịnh Bắc Bộ

Print Friendly, PDF & Email

29-2578M-1024x630

Nguồn: Congress passes Gulf of Tonkin Resolution,” History.com(truy cập ngày 06/8/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Vào ngày này năm 1964, Quốc hội Hoa Kỳ đã chấp thuận một cách áp đảo[1] Nghị quyết vịnh Bắc Bộ, cho Tổng thống Lyndon B. Johnson thẩm quyền gần như không bị giới hạn để ngăn chặn “sự xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản” ở Đông Nam Á. Nghị quyết vịnh Bắc Bộ đánh dấu sự khởi đầu của một vai trò quân sự được mở rộng của Hoa Kỳ trên các mặt trận Chiến tranh Lạnh ở Việt Nam, Lào, và Campuchia.

Đến năm 1964, đồng minh của Mỹ là Việt Nam Cộng Hòa đang có nguy cơ sụp đổ trước một cuộc nổi dậy của các lực lượng cộng sản. Các phần tử nổi dậy được cộng sản Bắc Việt hỗ trợ đã kiểm soát được một khu vực rộng lớn ở miền Nam Việt Nam, và dường như Mỹ có viện trợ quân sự và đào tạo đến mấy thì cũng không thể cứu vãn được chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Trong suốt các nhiệm kỳ tổng thống của mình, Dwight D. Eisenhower và John F. Kennedy đã gửi hàng trăm và sau đó là hàng ngàn cố vấn quân sự Mỹ đến miền Nam Việt Nam để đào tạo lực lượng quân sự cho chế độ này. Ngoài ra còn có hàng trăm triệu đô la tiền viện trợ quân sự và kinh tế đã được trao cho Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền của Tổng thống Lyndon B. Johnson đã quyết định rằng chỉ có sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào cuộc xung đột mới có thể đảo ngược làn sóng sụp đổ của Nam Việt Nam.

Tuy nhiên, khi tham gia vận động tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, Johnson đã tỏ ra là một ứng cử viên “có trách nhiệm” và sẽ không gửi quân đội Mỹ đến chiến đấu và hi sinh ở châu Á. Nhưng đến đầu tháng 8, một loạt các sự kiện xảy ra đã cho phép Johnson thể hiện tài năng quản trị quốc gia của mình và đồng thời mở rộng vai trò của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam.

Ngày mùng 2 tháng 8, (Mỹ cáo buộc rằng) các tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt đã tấn công một tàu khu trục Mỹ ở vịnh Bắc Bộ.[2] Johnson đáp trả bằng cách gửi một tàu khu trục khác đến đây. Ngày mùng 4 tháng 8, hai tàu khu trục của Mỹ báo cáo rằng họ đã bị tấn công.[3] Lần này, Johnson được ủy quyền tiến hành các cuộc không kích nhằm trả đũa miền Bắc Việt Nam. Ông cũng đề nghị Quốc hội thông qua Nghị quyết vịnh Bắc Bộ.

Nghị quyết này tuyên bố rằng “Hoa Kỳ coi việc duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực Đông Nam Á là tối quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ và đối với nền hòa bình thế giới.” Nó cũng cho Johnson quyền “sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đẩy lùi bất cứ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào các lực lượng của Hoa Kỳ và để ngăn chặn sự xâm lăng hơn nữa (của chủ nghĩa cộng sản).” Hạ viện Mỹ đã nhất trí thông qua nghị quyết này; nó cũng được Thượng viện thông qua với 88 phiếu thuận trên 2 phiếu chống. Sự ủng hộ dành cho Johnson đã gia tăng sau cách xử lý khủng hoảng “thận trọng” này của ông.

Chính quyền Johnson đã sử dụng nghị quyết này như một cái cớ để bắt đầu tiến hành ném bom miền Bắc Việt Nam vào đầu năm 1965 và đưa quân đội Mỹ vào chiến đấu từ tháng 3 cùng năm. Từ đó bắt đầu một cuộc chiến kéo dài gần 8 năm, khiến hơn 58.000 binh sĩ Mỹ thiệt mạng. Nói rộng hơn, Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ có thể được coi là chính sách Chiến tranh Lạnh của Mỹ đối với tất cả các nước Đông Nam Á vào thời điểm đó.

Nghị quyết này cũng là một ví dụ khác cho thấy chính phủ Mỹ đã không thảo luận thẳng thắn về các vấn đề “an ninh quốc gia” trong Chiến tranh Lạnh. Việc các chỉ huy của tàu khu trục Mỹ không thể xác nhận với độ chính xác tuyệt đối rằng tàu của họ thực sự đã bị tấn công vào đêm mùng 4 tháng 8 đã không được đưa ra trong cuộc tranh luận của Quốc hội về nghị quyết này; việc các tàu khu trục Mỹ đang hỗ trợ lính Nam Việt Nam trong các cuộc tấn công của họ nhằm vào các căn cứ quân sự Bắc Việt cũng không được đề cập tới.

Cuối thập niên 1960, những trò mưu mẹo và lừa dối của chính phủ Mỹ bắt đầu sáng tỏ khi lòng tin của dân chúng từng dành cho Johnson và các nỗ lực quân sự của Mỹ ở Việt Nam đã bắt đầu xói mòn.

Ảnh: Tổng thống Johnson ký Nghị quyết vịnh Bắc Bộ trong Phòng phía Đông của Nhà Trắng ngày 10/08/1965. Nguồn: The National Archives <www.archives.gov>.

————————–

[1] Nghị quyết này được đưa ra Hạ viện bỏ phiếu với tên gọi “Nghị quyết chung để thúc đẩy việc duy trì hòa bình và an ninh ở Đông Nam Á,” nhận được 416 phiếu thuận, 9 phiếu trắng trên tổng số 431 phiếu (tính cả 6 hạ nghị sĩ vắng mặt) – ND.

[2] Theo một số tài liệu, tàu khu trục USS Maddox của Mỹ đã đụng độ với ba tàu phóng ngư lôi của hải quân miền Bắc Việt Nam. Cả hai bên đều xác nhận có sự kiện (được gọi là Sự kiện vịnh Bắc Bộ lần thứ nhất) này – ND.

[3] Ban đầu Mỹ tuyên bố đây là một cuộc hải chiến, nhưng Bắc Việt Nam phủ nhận mọi liên quan. Các tài liệu của Mỹ sau này đã xác nhận cuộc tấn công này là không có thật, mà có thể chỉ là các tín hiệu ra-đa lỗi – ND.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập16
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm15
  • Hôm nay4,831
  • Tháng hiện tại42,500
  • Tổng lượt truy cập4,263,393
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây