Mỹ nên thúc đẩy dân chủ ở Nga và Trung Quốc như thế nào?

Thứ sáu - 09/08/2019 22:07
Không có một biện pháp kỹ thuật nào có thể giải quyết các vấn đề gây thiệt hại cho tiến trình thúc đẩy dân chủ . Vấn đề là rất lớn, sâu sắc và đã tồn tại từ lâu. Do đó giải pháp cũng phải dài hơi như thế. Trước tiên, các nhà lãnh đạo Mỹ phải nhận thức rằng họ đang một lần nữa đứng giữa cuộc cạnh tranh toàn cầu về các giá trị và tư tưởng. Cả Đảng Cộng sản Trung Quốc và Điện Kremlin đều đang chiến đấu quyết liệt và bất chấp.
Mỹ nên thúc đẩy dân chủ ở Nga và Trung Quốc như thế nào?

Mỹ nên thúc đẩy dân chủ ở Nga và Trung Quốc như thế nào?

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Larry Diamond, “Democracy Demotion Foreign Affairs, July/August 2019.

Biên dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Tái khởi động việc thúc đẩy dân chủ

Không có một biện pháp kỹ thuật nào có thể giải quyết các vấn đề gây thiệt hại cho tiến trình thúc đẩy dân chủ . Vấn đề là rất lớn, sâu sắc và đã tồn tại từ lâu. Do đó giải pháp cũng phải dài hơi như thế. Trước tiên, các nhà lãnh đạo Mỹ phải nhận thức rằng họ đang một lần nữa đứng giữa cuộc cạnh tranh toàn cầu về các giá trị và tư tưởng. Cả Đảng Cộng sản Trung Quốc và Điện Kremlin đều đang chiến đấu quyết liệt và bất chấp. Chiến thuật trung tâm của Kremlin là bác bỏ việc tồn tại sự thật khách quan, chứ đừng nói đến các giá trị phổ quát. Nếu không tồn tại sự thật khách quan, và không có giá trị đạo đức nào sâu sắc hơn bản thân quyền lực, thì kẻ nói dối vĩ đại nhất sẽ thắng – và dĩ nhiên đó là Putin. Giới lãnh đạo của Trung Quốc thì đang chơi một cuộc chơi dài hơi hơn: thâm nhập vào các xã hội dân chủ và chậm rãi làm suy yếu chúng từ bên trong. Họ có trong tay nhiều thủ pháp hơn, cùng với một nền tảng tài lực mạnh hơn hẳn Nga – trong đó quan trọng nhất là mạng lưới khổng lồ các cá nhân và tổ chức thuộc đảng Cộng sản, nhà nước và các chủ thể phi chính phủ.

Đấu tranh chống lại các chiến dịch chuyên chế thâm độc nhằm bóp méo thông tin, xâm nhập xã hội, và chiến tranh ý thức hệ sẽ là tối quan trọng đối với việc bảo vệ dân chủ. Các chính phủ dân chủ phải bắt đầu bằng việc giáo dục người dân của họ, giới truyền thông đại chúng, các trường đại học, viện nghiên cứu, các công ty, chính quyền địa phương,  cũng như các cộng đồng kiều bào về mối nguy hại từ các chiến dịch chuyên chế nhằm gây ảnh hưởng này và sự cần thiết của sự “cảnh giác mang tính xây dựng”, theo lời báo cáo “China’s Influence and American Instruments” (Ảnh hưởng của Trung Quốc và các công cụ của Hoa Kỳ) – một báo cáo năm 2018 của nhóm các chuyên gia về Trung Quốc được soạn bởi Viện Hoover và Asia Society – mà trong đó tôi là đồng biên tập với Orville Schell. Biện pháp phản ứng phải mang tính xây dựng, theo đó nó phải tránh thể hiện thái độ phản ứng thái quá hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đồng thời tìm cách đẩy mạnh các giá trị dân chủ nhiều nhất có thể. Song các biện pháp này phải đề cao cảnh giác trong việc phát hiện và giám sát các nỗ lực ở hải ngoại của Nga và Trung Quốc nhằm khuếch trương ảnh hưởng của họ.  Do đó, các xã hội dân chủ phải trước sau minh bạch một cách nghiêm ngặt trong mọi hợp đồng, tài trợ, trao đổi giữa các cơ quan và các quan hệ khác với Nga, Trung Quốc. Đồng thời, các nền dân chủ nên đòi hỏi sự “có đi có lại” nhiều hơn từ hai nước này: ví dụ, họ không thể cho các báo, đài phát sóng được cho là “độc lập” của các nước chuyên chế này quyền tự do hoạt động không giới hạn ở nước họ, trong khi báo chí của họ thì bị kiềm chế nghiêm ngặt, bị từ chối visa; còn các mạng tin tức truyền hình cáp của họ thì hoàn toàn bị cấm phát sóng ở Nga và Trung Quốc. Các nền dân chủ, các định chế dân chủ như các trường đại học và viện nghiên cứu cũng phải hợp tác sâu sát hơn cùng nhau nhằm chia sẻ thông tin và cùng bảo vệ chính mình trước các chiến thuật “chia để trị”.

Không chỉ vậy, Hoa Kỳ phải phục hồi sự hiện diện, cũng như nâng cao hiểu biết về các quốc gia ở tuyến đầu của trận chiến quyền lực mềm với các nhà nước chuyên chế. Điều này đồng nghĩa với việc cần đẩy mạnh các chương trình như học bổng Fulbright (cái mà chính quyền Trump liên tục kêu gọi cắt giảm); học bổng Boren, tức chương trình tài trợ các sinh viên Mỹ đi học các ngôn ngữ thiết yếu ở nước ngoài; cùng các chương trình khác của Bộ Ngoại Giao nhằm gửi người Mỹ đến sống, làm việc, giảng dạy, trình diễn, và học tập ở nước ngoài. Nước Mỹ cũng nên tái chào đón người dân từ các quốc gia ấy – chẳng hạn như bằng cách đưa đến Mỹ nhiều hơn nữa các nhà báo, chuyên gia chính sách, lãnh đạo xã hội dân sự, các dân biểu dân cử, và quan chức chính phủ trong khuôn khổ các chương trình hợp tác và đào tạo. Đây chính xác không phải là lúc để nước Mỹ hướng vào trong và đóng cánh cửa của họ đối với người nước ngoài, tuyên bố rằng họ cần tập trung vào các vấn đề của mình.

Để đối chọi lại với bộ máy tuyên truyền toàn cầu của Nga và Trung Quốc, Hoa Kỳ sẽ cần phải tái khởi động và mở rộng mạnh mẽ các nỗ lực ngoại giao công chúng. Trung Quốc đang không ngần ngại tìm cách khống chế quan điểm của thế giới về họ, về các ý định của họ, và về mô hình quản trị của họ. Trong khi đó Nga cũng đang lan truyền thông điệp của mình – đề cao nước Nga và Putin như những người bảo vệ cho các giá trị Ki Tô Giáo truyền thống trong thời đại của quyền của người đồng tính, chủ nghĩa nữ quyền, và đa nguyên văn hóa – bên cạnh thái độ xem thường đối với dân chủ và những lời nói dối trắng trợn về Hoa Kỳ. Washington phải trả đòn bằng các chiến dịch thông tin được đo ni cho phù hợp với các bối cảnh địa phương và có thể nhanh chóng chạm đến người dân nhằm thể hiện các giá trị của mình. Đồng thời, họ cũng phải tiến hành một cuộc tranh đấu dài hơi nhằm lan truyền các giá trị, tư tưởng, kiến thức, và kinh nghiệm của những người được sống trong các xã hội tự do. Họ phải vận dụng các cách thức sáng tạo để vượt tường lửa Internet và xuyên thủng môi trường chuyên chế – chẳng hạn như lan truyền các video và bài viết đề cao dân chủ bằng tiếng địa phương qua USB. Nước Mỹ cũng phải tạo ra các công cụ mới nhằm giúp đỡ người dân ở các chế độ chuyên chế một cách an toàn, đồng thời cẩn trọng vượt qua kiểm duyệt và kiểm soát Internet.

Mỹ từng có một công cụ rất hữu dụng trong các cuộc chiến về thông tin và tư tưởng: Sở Thông tin Hoa Kỳ (USIA). Song, vào năm 1999, cơ quan này đã bị chấm dứt hoạt động trong một thỏa thuận giữa chính quyền Clinton và Thượng Nghị sĩ Đảng Cộng Hòa của bang North Carolina Jesse Helms, người kêu gọi giảm bớt can dự của Hoa Kỳ ở nước ngoài. Nhằm tiếp tục duy trì ngân sách cho can dự của Mỹ ở hải ngoại, chính quyền Clinton đã miễn cưỡng đóng cửa USIA. Ngân sách và các hoạt động của tổ chức này được chuyển sang – chưa bao giờ thật sự hiệu quả– cho Bộ Ngoại Giao, khiến một công cụ thiết yếu trong việc thúc đẩy dân chủ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đến năm 2016, chính quyền Obama thành lập Trung tâm Can dự Toàn cầu (Global Engagement Center), một nhóm nằm trong Bộ Ngoại Giao có nhiệm vụ chống lại các hoạt động tuyên truyền và bóp méo thông tin từ nước ngoài. Tuy nhiên, Rex Tillerson, Ngoại trưởng đầu tiên của Trump, đã không sử dụng hết các nguồn lực được phân bổ; và sáng kiến này đến nay mới lấy được đà hoạt động nhờ công của Ngoại trưởng mới Mike Pompeo, người hiểu tầm quan trọng của cơ quan này.

Cái mà nước Mỹ cần lúc này không chỉ là một chương trình đơn nhất mà là cả một cơ quan thông tin với đội ngũ chuyên gia thông tin làm việc lâu dài, nhanh nhạy, có sáng tạo công nghệ – hay như lời James Clapper, cựu Giám đốc Tình báo Quốc gia – là “một USIA ở mức tối đa”. Mục đích của việc tái lập USIA không phải là nhằm đánh bại Trung Quốc hay Nga trong cuộc chiến “bóp méo thông tin”. Mặt khác, cơ quan này –  cùng với Cơ quan Truyền thông Toàn cầu Hoa Kỳ (USAGM), đơn vị quản lý các đài phát sóng hải ngoại độc lập của Mỹ như Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, Đài Châu Âu Tự do/Radio Tự do – sẽ thực thi châm ngôn của nhà báo nổi tiếng Edward R.Murrow, giám đốc USIA dưới thời Tổng thống Kenedy, rằng “Sự thật là lời tuyên truyền tốt nhất và nói dối là cách tuyên truyền tệ nhất”. Và sự thật là con người muốn sống trong tự do. Cách hiệu quả nhất để chống lại chương trình tuyên truyền của Nga và Trung Quốc là phơi bày cách mà hai quốc gia khổng lồ này thật sự được cai trị. Những sự thật và phân tích này sau đó phải được truyền bá một cách rộng rãi và sáng tạo trong lòng nước Nga và Trung Quốc, trong các xã hội khép kín, ngoài ra là cả các xã hội mở hơn, mà vì ảnh hưởng của các nỗ lực tuyên truyền từ Nga và Trung Quốc, đã không còn nhận thức được đúng và thật bản chất của hai chế độ này.

Minh bạch cũng có thể đóng một vai trò trong cuộc chiến vì dân chủ. Điểm yếu của mọi chế độ chuyên chế, bao gồm Nga và Trung Quốc, là nạn tham nhũng sâu sắc và khó chữa của họ. Không một quốc gia nào có thể kiểm soát được tham nhũng nếu không xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhưng điều đó sẽ là không tưởng đối với hai nước này – bởi lẽ ở Trung Quốc, điều ấy có nghĩa là đặt đảng Cộng sản dưới một cơ quan tư pháp độc lập, và bởi ở Nga, chế độ hiện tại là một tập đoàn tội phạm có tổ chức đang giả trang như một nhà nước. Song các nền dân chủ dẫn đầu vẫn có một vài con bài trong tay mình, bởi lẽ phần lớn số tài sản cá nhân kếch xù tích lũy được từ các hoạt động tham nhũng được đổ vào các nhà băng, các cấu trúc tập đoàn, và thị trường bất động sản ở châu Âu và Mỹ thông qua các kẽ hở pháp lý và chỉ làm lợi cho một số ít có đặc quyền. Những kẽ hở này cho phép các nhà độc tài cùng thân hữu của họ che giấu và rửa các khoản tiền bẩn thông qua các công ty ma và các giao dịch bất động sản ẩn danh. Nước Mỹ, về phần họ, có thể ra các đạo luật chấm dứt những chiêu thức này đơn giản bằng cách yêu cầu mọi công ty, mọi đăng ký ủy thác, và mọi giao dịch bất động sản ở Hoa Kỳ phải khai báo người chủ sở hữu thật sự. Họ cũng có thể cấm các cựu quan chức và nghị sĩ Hoa Kỳ tham gia vận động hành lang cho các chính phủ nước ngoài, đồng thời cải thiện thẩm quyền pháp lý và nguồn lực của các cơ quan như Mạng lưới Thi hành pháp luật chống Tội phạm Tài chính (Financial Crimes Enforcement Network) của Bộ Tài Chính nhằm phát hiện và truy tố hoạt động rửa tiền.

Cuối cùng, nếu nước Mỹ muốn thắng cuộc chiến toàn cầu vì dân chủ, họ sẽ phải khởi đầu từ ở nhà. Người dân trên toàn cầu phải một lần nữa thấy nước Mỹ như một nền dân chủ xứng đáng cho họ noi theo. Điều này sẽ không xảy ra nếu Quốc hội tiếp tục bế tắc, nếu các cuộc bầu cử tiếp tục phụ thuộc vào “tiền đen”, nếu hai đảng tiếp tục thao túng phạm vi địa lý các đơn vị bầu cử một cách trơ trẽn nhằm tối đa hóa ưu thế đảng phải, và nếu một đảng nào đó trở nên gắn liền với các nỗ lực không khoan nhượng nhằm áp chế lá phiếu của các sắc tộc thiểu số.

Tấm gương Mỹ

Đây không phải lần đầu tiên tự do toàn cầu ở vào thế bị đe dọa. Quay trở lại năm 1946, khi Chiến Tranh Lạnh đang đến gần, nhà ngoại giao George Kennan đã gửi “Bức điện dài” nổi tiếng của ông từ Đại Sứ quán Mỹ ở Moskva. Kennan hối thúc người Mỹ phải nhận thức rõ về bản chất không rõ ràng của mối đe dọa chuyên chế, củng cố quyết tâm và năng lực quân sự tập thể của các nền dân chủ nhằm đối chọi và đẩy lùi tham vọng chuyên chế, đồng thời làm mọi thứ có thể để tách các nhà lãnh đạo chuyên chế tham nhũng khỏi người dân của họ.

Song Kennan cũng hiểu rằng: tài sản lớn nhất của nước Mỹ chính là nền dân chủ của họ, rằng họ phải tìm được “lòng dũng cảm và sự tự tin” để giữ vững niềm tin của họ, tránh trở nên “giống như kẻ họ đang đối đầu”. Kennan khuyến cáo: “mọi biện pháp dũng cảm và táo bạo nhằm giải quyết các vấn đề nội tại của xã hội chúng ta… đều là một chiến thắng ngoại giao trước Moskva, đáng giá như hàng ngàn công hàm ngoại giao và thông cáo chung”.

Ngày nay, khi nước Mỹ đấu tranh với không chỉ một mà hai đối thủ chuyên chế đầy quyết tâm, những khuyến nghị của Kennan rất xứng đáng được nhớ tới. Hoa Kỳ đang đứng trước một bờ vực, đối mặt với một thời điểm mà tự do và dân chủ sẽ bị thử thách. Nước Mỹ vẫn là nền dân chủ không thể thiếu trong hệ thống khổng lồ các liên minh và tổ chức của thế giới. Giờ đây, hơn mọi lúc nào khác , số phận của nền dân chủ Mỹ có mối liên hệ mật thiết với cuộc đấu tranh toàn cầu cho tự do. Và kết quả của cuộc đấu tranh ấy phụ thuộc vào cách mà người Mỹ hồi phục lại phẩm chất của nền dân chủ của mình cũng như niềm tin của họ vào giá trị và những hứa hẹn của nền dân chủ ấy.

Larry Diamond là Giáo sư Khoa học Chính trị và Xã hội học tại Đại học Stanford, đồng thời là Nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Hoover và Viện Freeman Spogli.

 

Đã đến lúc hợp tác hàng hải Mỹ-ASEAN trên Biển Đông

Print Friendly, PDF & Email

060508-N-4166B-030

Nguồn: Richard Javad Heydarian & Truong-Minh Vu, “South China Sea: Time for US-ASEAN Maritime Cooperation,” RSIS Commentary No. 094, 20/4/2015.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Trương Minh Huy Vũ

Những hoạt động xây dựng gấp rút của Trung Quốc trên Biển Đông đã tăng cường hơn nữa các tranh chấp hàng hải đang diễn ra giữa Bắc Kinh và các nước láng giềng Đông Nam Á, đặc biệt là Philippines và Việt Nam. Không chỉ làm phức tạp thêm bản chất của các tranh chấp đang diễn ra gây phương hại tới các quốc gia khác cũng có tuyên bố chủ quyền, các hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc trên Biển Đông còn báo hiệu cho sự hung hăng ngày càng tăng về mặt quân sự của nước này, khi mà Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đang hướng tới “phòng thủ ngoại vi” và củng cố chiều sâu chiến lược của nó trong khu vực.

Những hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc đang củng cố sự hiện diện vốn đã được mở rộng của nó ở các vùng biển tranh chấp, thực hiện đại chiến lược lớn hơn là thống trị các vùng biển gần, đặc biệt là các tuyến giao thông đường biển quan trọng (SLOC) như tại Biển Đông. Các hoạt động xây dựng đang diễn ra rất có thể mở đường cho việc thành lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Trung Quốc trong khu vực, với việc Bắc Kinh đã hoàn thành một mạng lưới bao gồm các đường băng và các đơn vị đồn trú quân sự trên các chuỗi đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. [Các hoạt động này] có những tác động thực sự tới tự do hàng hải và thương quyền vận tải hàng không trong khu vực.

Lực lượng hải quân đa phương

Ngày càng nhiều lo ngại nổi lên – đặc biệt là ở Manila và Hà Nội –  về việc Trung Quốc sẽ  can thiệp vào hoạt động của các quốc gia ven biển khác trong các lĩnh vực hải giám và nghiên cứu, các hoạt động khai thác hải sản, cũng như thăm dò và phát triển dầu khí ở Biển Đông. Cơ bản nhất, những hành động của Trung Quốc là một thách thức trực tiếp đối với những tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng, phá hoại khả năng thực thi quyền tài phán đầy đủ, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS), trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của họ.

Vấn đề đang bị đe dọa chính là những lợi ích sống còn của một số quốc gia ASEAN và ưu thế hải quân của Mỹ ở Thái Bình Dương. Tình hình hiện tại đòi hỏi Mỹ phải có một chiến lược mạnh mẽ hơn do năng lực hạn chế của các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông trong việc kiềm chế sự hung hăng của Trung Quốc đối với những yêu sách của họ.

Nhưng Mỹ không cần thiết phải hành động đơn phương, và nước này cũng không nên phản ứng chủ yếu bằng quân sự. Phương án tốt nhất là một cách tiếp cận hợp tác, theo đó Washington nên tận dụng “sức mạnh tập hợp” độc đáo của mình  để thành lập một liên minh các lực lượng nhằm đảm bảo sự ổn định hàng hải trong khu vực.

Trong một cuộc họp với lãnh đạo hải quân các nước ASEAN mới đây, Phó Đô đốc Robert Thomas, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương, đã kêu gọi các quốc gia Đông Nam Á thành lập một lực lượng hải quân đa phương để tiến hành các cuộc tuần tra hợp tác ở Biển Đông. Đề xuất này cũng tương tự như những hoạt động hiện có trong khu vực như tuần tra chung chống cướp biển ở eo biển Malacca, với sự tham gia của Malaysia, Singapore, Indonesia, và Thái Lan.

Trung tâm hoạt động ở Biển Đông

Ngoài lực lượng tuần tra chung, Mỹ còn đề xuất thành lập một Trung tâm Hoạt động Quốc tế Biển Đông (South China Sea International Operations Centre) ở Indonesia. Đề xuất này được Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ (PACOM) là Harry B. Harris đưa ra trong một phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ cuối năm 2014.

Theo đề xuất, Trung tâm Hoạt động Quốc tế Biển Đông sẽ được thành lập tại Jakarta, thủ đô của lãnh đạo không chính thức của ASEAN, quốc gia không có tuyên bố chủ quyền trực tiếp trên Biển Đông nhưng đã nhiều lần bày tỏ sẵn sàng tham gia hòa giải các tranh chấp giữa Bắc Kinh và các nước ASEAN. Trung tâm này sẽ là yếu tố quan trọng trong những nỗ lực quốc tế lớn hơn nhằm đảm bảo an ninh và tự do hàng hải trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Đề xuất nêu trên phản ánh ưu tiên của Washington đối với một chiến lược hợp tác để quản lý các mối đe dọa đang nổi lên đối với an ninh khu vực. Trọng tâm của Mỹ trong hợp tác an ninh và các cách tiếp cận đa phương đã được phản ánh trong một số văn bản chính sách từ năm 2007, cụ thể là Các lực lượng trên biển của Hoa Kỳ (American Sea Services), bao gồm Hải quân, Thủy quân lục chiến, và Cảnh sát biển.

Một chiến lược hợp tác như vậy cần dựa trên hai nguyên tắc: Thứ nhất, tính cần thiết của sự hợp tác toàn diện trong mọi quốc gia có liên quan để quản lý một mối đe dọa cụ thể. Các hoạt động xây dựng đang diễn ra ở Biển Đông là mối đe dọa đối với an ninh khu vực. Thứ hai, sự chú trọng ngày một lớn về về việc chia sẻ gánh nặng và chủ nghĩa đa phương trong tình hình khủng hoảng tài chính và các hạn chế về ngân sách quốc phòng của Hoa Kỳ.

Bảo vệ sự liên quan của ASEAN

Đã đến lúc ASEAN nên cân nhắc các đề xuất của Mỹ nhằm quản lý các xung đột tiềm ẩn ở Biển Đông, do đó, sự liên quan của thể chế khu vực này sẽ trở thành vấn đề. Xét cho cùng, cả ASEAN và Trung Quốc đều gần như không bận tâm nhiều tới Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, vốn chủ yếu chỉ mang tính biểu tượng mà ít quan trọng và không có tính ràng buộc.

Rõ ràng là Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp thông qua các kênh thuần song phương, như  thế nước này có lợi thế lớn hơn. Nhưng Trung Quốc cũng thể hiện rằng nó sẵn sàng duy trì mối quan hệ ổn định với các nước ASEAN và tránh mối quan hệ lạnh nhạt toàn diện với các nước láng giềng Đông Nam Á, minh chứng là Trung Quốc đã quyết định ký DOC năm 2002; nhấn mạnh tầm quan trọng của “ngoại giao ngoại vi” với các nước láng giềng cùng chung biên giới; và chủ trương “khuôn khổ hợp tác 2+7,” theo đó kêu gọi sự đồng thuận chính trị gồm hai điểm liên quan đến Hiệp ước láng giềng tốt, hữu nghị và hợp tác (Treaty of Good Neighbourliness, Friendship and Cooperation) giữa ASEAN và Trung Quốc, và bảy đề nghị hợp tác khác.

Nói ngắn gọn, Trung Quốc sẽ phải tham gia cùng ASEAN trong các vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến mối quan hệ tương hỗ của hai bên. Toàn thể khối ASEAN và/hoặc các quốc gia trọng yếu trong khu vực như Indonesia, Singapore, Malaysia, Philippines, và Việt Nam, những nước cùng chia sẻ mối lo ngại về các mối đe dọa tự do hàng hải và về sự quân sự hóa ngày một tăng của các tranh chấp ở Biển Đông, có thể đẩy mạnh các hoạt động tuần tra chung. Ít nhất, họ cũng có thể cùng tận dụng triển vọng về các cuộc tuần tra chung để thuyết phục Trung Quốc xét lại chính sách hiện tại của mình và cân nhắc các cơ chế giảm leo thang cần thiết như tạm ngừng các hoạt động xây dựng trên Biển Đông và đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (CoC).

Điều quan trọng là các quốc gia thành viên ASEAN phải thăm dò mọi lựa chọn đa phương khả dĩ, thứ có thể góp phần quản lý, thậm chí là giải quyết, các tranh chấp trên Biển Đông. Với sự hỗ trợ quốc tế công khai và bền vững, trong đó có Mỹ, ASEAN có thể đạt được quyết tâm tập thể lớn hơn để giải quyết các xu hướng đáng lo ngại ở Biển Đông và tái khẳng định sự liên quan của nó.

Trong gần bảy thập niên qua, Washington đã đóng vai trò là mỏ neo của sự ổn định trong khu vực. Nhưng khi chúng ta tiến tới một trật tự đa cực hơn trong khu vực, Mỹ sẽ không còn giữ được vị trí mà theo đó nó có thể đơn phương quyết định các sự kiện trên thực địa. Đó chính là lí do tại sao phương án tốt nhất trước mắt là thông qua một cách tiếp cận an ninh hợp tác và đa phương, giúp lôi kéo và trao quyền cho ASEAN trở thành động lực của sự hội nhập và quản lý tranh chấp trong khu vực. Biển Đông chính là nơi tốt nhất để bắt đầu.

Richard Javad Heydarian là Trợ lý Giáo sư ngành Khoa học chính trị tại Đại học De La Salle University, Manila, Philippines, và là tác giả của cuốn Asia’s New Battlefield: US, China and the Struggle for the Western Pacific.

Tiến sĩ Trương Minh Huy Vũ là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

BÀI THƠ CŨ

Ta sinh ra cô đơn giờ cô đơn đã cũ ta trưởng thành bởi sợ hãi sợ hãi cũng cũ rồi này tôi một khuôn mặt công chức đứng nhìn những cuộc họp rạc rài tiêu ma bao ý tưởng xa xa trải một mùa bệnh hoạn bệnh hoạn cũng cũ rồi Số mệnh già như trời lọm khọm ở giữa công viên đầy nắng nắng có gì...

Thống kê
  • Đang truy cập12
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm11
  • Hôm nay1,610
  • Tháng hiện tại38,977
  • Tổng lượt truy cập3,269,130
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây