Một thế giới, hai hệ thống

Thứ ba - 03/09/2019 20:22
Với lễ kỷ niệm 30 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ đang đến gần, vấn đề tự do đã nổi lên trở lại hàng đầu ở Moskva và Hồng Kông, mặc dù trong những hoàn cảnh lịch sử và chính trị rất khác nhau. Chúng ta được nhắc nhở rằng kỷ nguyên hiện đại được xây dựng trên sự tự do, và trên sự thừa nhận rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng
Một thế giới, hai hệ thống

Một thế giới, hai hệ thống

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Joschka Fischer,  “Two Systems, One World”, Project Syndicate, 30/08/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

Với lễ kỷ niệm 30 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ đang đến gần, vấn đề tự do đã nổi lên trở lại hàng đầu ở Moskva và Hồng Kông, mặc dù trong những hoàn cảnh lịch sử và chính trị rất khác nhau. Chúng ta được nhắc nhở rằng kỷ nguyên hiện đại được xây dựng trên sự tự do, và trên sự thừa nhận rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Ý tưởng Khai sáng cấp tiến này, một khi bén rễ, sẽ tạo thành một sự khác biệt so với toàn bộ lịch sử trước đó. Nhưng thời thế đã thay đổi. Trong thế kỷ hai mươi mốt, chúng ta phải đối mặt với một câu hỏi cơ bản: Liệu một hình thức chuyên chế hiện đại hóa có thể đại diện cho một sự thay thế đối với nền dân chủ tự do và nhà nước pháp quyền hay không?

Năm 1989, câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi đó sẽ là không, không chỉ ở phương Tây mà trên toàn thế giới. Tuy nhiên, kể từ đó, chúng ta đã chứng kiến ​​sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu, sự thất bại của Mùa xuân Ả Rập, việc Tổng thống Mỹ Donald Trump đắc cử, sự quay lại chủ nghĩa phục thù ở Nga, và sự trỗi dậy của Trung Quốc trên toàn cầu. Bây giờ, tất cả các ván cược vào nền dân chủ tự do đã không còn được lựa chọn.

Việc Trung Quốc nổi lên như một siêu cường quân sự, kinh tế và công nghệ lớn thứ hai cho thấy rằng hiện đã có một mô hình phát triển thay thế. Ở Trung Quốc hiện đại, nhà nước pháp quyền và dân chủ được coi là mối đe dọa đối với chế độ độc đảng. Do đó, các cuộc biểu tình đang diễn ra vì tự do và trách nhiệm dân chủ ở Hồng Kông đã làm lộ rõ một khoảng cách không chỉ giữa hai khuôn khổ quy phạm, mà còn giữa hai hệ thống quyền lực chính trị với nhau.

Trong một thời gian, Trung Quốc dường như đã tìm thấy một công thức để vượt qua khoảng cách này. Nguyên tắc “một quốc gia, hai chế độ” được cho là sẽ cho phép sự hòa nhập có trật tự của Hồng Kông và có thể là Đài Loan vào đại lục. Nếu công thức này giờ đây thất bại ở Hồng Kông, sẽ có sự leo thang căng thẳng quân sự ngay lập tức tại eo biển Đài Loan, bởi vì việc hòn đảo này duy trì lâu dài địa vị đặc biệt sẽ khiến chính phủ Trung Quốc không thể chấp nhận hoặc bỏ qua.

Tuy nhiên, công thức này thực sự cho đến nay đã có hiệu quả. Hồng Kông đã trở nên cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế Trung Quốc bởi vì nó giúp Trung Quốc tiếp cận thị trường vốn toàn cầu và đóng vai trò là cửa ngõ tài chính cho đầu tư trực tiếp nước ngoài. Và quan hệ với Đài Loan phần lớn vẫn khá hòa bình.

Dàn xếp với Hồng Kông có hiệu quả vì chính phủ ở Bắc Kinh đã cho thấy họ phần lớn đã tôn trọng địa vị bán tự trị của thành phố này. Nhưng khi Trung Quốc trở nên hùng mạnh hơn, nhận thức của Trung Quốc về địa vị của mình như là một siêu cường toàn cầu mới đã tạo ra sự thay đổi trong hành vi. Chính quyền Trung Quốc đang gây ảnh hưởng hơn bao giờ hết lên Hồng Kông, cho thấy rằng họ muốn di chuyển theo hướng “một quốc gia, một chế độ”.

Dự luật được đề xuất (hiện đã bị đình chỉ) cho phép dẫn độ những người bị bắt ở Hồng Kông sang Trung Quốc đại lục được coi là mối đe dọa đối với nền dân chủ và nền pháp quyền ở Hồng Kông. Chính quyền Bắc Kinh biết rất rõ rằng chính nỗ lực làm suy yếu quyền tự trị của Hồng Kông này – chứ không phải các hoạt động ngầm của các cơ quan tình báo nước ngoài – mới là lý do khiến hàng triệu người dân Hồng Kông đã xuống đường biểu tình.

Với các cấu trúc quyền lực hiện tại ở Trung Quốc (và Nga), các cuộc biểu tình của quần chúng trong mùa hè này tại Hồng Kông (và Moskva) có rất ít cơ hội thành công trong ngắn hạn. Tuy nhiên, chúng rất quan trọng bởi chúng tương phản với sự èo uột lan rộng của nền dân chủ phương Tây.

Nhìn rộng hơn, việc phân chia thế giới thành hai hệ thống ngay lập tức mang lại những ký ức về thời Chiến tranh Lạnh. Nhưng trong cuộc xung đột đó, vấn đề chính là sức mạnh quân sự – theo đó là vị trí trung tâm của cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân. Còn khi nói về mức sống, khối Xô viết chưa bao giờ thực sự có cơ hội đuổi kịp phương Tây (như chúng ta thấy rõ trong cái gọi là Cuộc tranh luận nhà bếp giữa Phó Tổng thống Hoa Kỳ lúc bấy giờ Richard Nixon và nhà lãnh đạo Liên Xô, Nikita Khrushchev, năm 1959).

Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh với Trung Quốc sẽ chính là về câu hỏi hệ thống nào mang lại nhiều tiến bộ về công nghệ và vật chất hơn. Việc Trung Quốc đi lên từ một quốc gia đang phát triển nghèo đói thành một cường quốc kinh tế là một trong những thành tựu lớn nhất của thời kỳ hiện đại. Hàng triệu người đã thoát khỏi cảnh đói nghèo và trở thành tầng lớp trung lưu tiêu dùng ngày càng nhiều, và hàng triệu người khác có thể sớm theo bước họ.

Đồng thời, mặc dù Trung Quốc đang xây dựng quân đội, nhưng nước này chưa bao giờ khuếch trương sức mạnh vượt ra ngoài khu vực lân cận, không giống như Liên Xô. Khi Trung Quốc theo đuổi lợi ích chiến lược ở Châu Phi và Đông Âu, họ làm như vậy chủ yếu thông qua các phương tiện kinh tế và tài chính. Trung Quốc có được ảnh hưởng toàn cầu gia tăng không phải thông qua sức mạnh quân sự, mà thông qua nền kinh tế và khả năng phát triển công nghệ và sáng tạo gia tăng nhanh chóng. Đối với phương Tây, “thử thách Trung Quốc”  chính là làm sao cho thấy rằng mô hình dân chủ vẫn phù hợp hơn chế độ độc đoán kiểu phương Đông trong mắt đa số nhân loại.

Trong cuộc cạnh tranh này, Tổng thống Mỹ Donald Trump như một con ngựa thành Troa của Trung Quốc. Mặc dù Trump đang tiến hành một cuộc chiến thương mại và công nghệ mạnh mẽ chống lại Trung Quốc, ông ta cũng đang làm mọi thứ có thể để làm giảm uy tín của mô hình phương Tây. Về mặt lịch sử, các cuộc tấn công của Trump vào nền dân chủ sẽ mang lại hậu quả lớn hơn nhiều so với các biện pháp thuế quan của ông ta. Vấn đề càng tồi tệ hơn nữa khi châu Âu, với những điểm yếu kinh tế và sự ngây thơ địa chính trị rõ ràng, cũng thất bại trong việc huy động sự bảo vệ mô hình phương Tây.

Ở giai đoạn này, sự trỗi dậy của Trung Quốc là không thể ngăn chặn được. Đất nước này đơn giản là quá rộng lớn và quá mạnh để có thể bị tẩy chay hoặc kiềm chế. Ở một mức độ nào đó, việc người dân Trung Quốc mong muốn có được một phần trong sự thịnh vượng toàn cầu là hoàn toàn chính đáng. Phương Tây có rất ít lựa chọn ngoài việc duy trì mối quan hệ tốt với siêu cường mới này, đồng thời bảo vệ các giá trị của mình. Sự trỗi dậy của Trung Quốc – và của hệ thống Trung Quốc – chắc chắn sẽ tạo ra nhiều cạnh tranh hơn, và những sự đối đầu mới này phải được xử lý một cách hòa bình bằng mọi giá. Một thế giới với tám tỷ người không thể chịu đựng được một cuộc xung đột toàn cầu.

Liệu mô hình hiện đại hóa độc đoán của Trung Quốc có thể thành công trong dài hạn hay không là một câu hỏi mở cho các thế hệ tương lai của Trung Quốc. Những người không có ký ức về những điều khủng khiếp trong quá khứ như Cách mạng Văn hóa có thể chỉ đơn giản coi mô hình Trung Quốc là chuyện đương nhiên. Nhưng kỷ nguyên hiện đại được xây dựng trên nền tảng tự do. Như chúng ta đã thấy trong mùa hè này ở Hồng Kông và Moskva, bài học đó sẽ không sớm bị lãng quên.

Joschka Fischer là Ngoại trưởng và Phó Thủ tướng Đức từ năm 1998 đến năm 2005.
 

Luật pháp Trung Quốc sau Hội nghị Trung ương 4

Print Friendly, PDF & Email

BN-FE563_chinah_P_20141024014322

Nguồn: Carl Minzner, “After the Fourth Plenum: What Direction for Law in China?”, China Brief, Volume 14, Issue 22, 20/11/2014.

Biên dịch: Nguyễn Thiện Toàn | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Ngày 23 Tháng 10, giới chức Trung Quốc đã kết thúc Hội nghị Trung ương Đảng hàng năm, tập trung vào vấn đề “y pháp trị quốc” (trị quốc theo pháp luật). Đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc xem pháp luật là trọng tâm cuộc họp. Trong các tuần sau đó, các nhà quan sát đã phân tích câu chữ của toàn bộ nghị quyết để tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy hướng đi trong tương lai của cuộc cải cách tư pháp tại Trung Quốc.

Được nêu ra lần đầu tiên trong nghị quyết Hội nghị trung ương đảng vào năm 1997, và được đưa vào Hiến pháp Trung Quốc năm 1999, “y pháp trị quốc” đã chứng minh là một thuật ngữ gây tranh cãi đối với nhà nước cũng như xã hội Trung Quốc. Nhà chức trách đã dùng nó như một định hướng chung để thúc đẩy một loạt các cải cách hành chính và pháp lý.

Người dân và các nhà hoạt động xã hội đã tìm cách vận dụng cả những luận điệu liên quan đến thuật ngữ này cũng như các cải cách thực tế đi kèm với nó làm phương tiện để thúc đẩy một sự thay đổi sâu sắc hơn về mặt thể chế và chính trị trong một nhà nước chuyên chế.

Giờ đây, Nghị quyết đã tạo cho Chủ tịch Tập Cận Bình một cơ hội để tạo ra dấu ấn của mình về khái niệm này. Nhìn chung, điều này thể hiện dưới ba hình thức.

Các cải cách kỹ thuật về pháp lý để cải thiện quản lý

Trước hết, Nghị quyết này hậu thuẫn cho một loạt các cải cách kỹ thuật về pháp lý nhằm tăng cường sự quản lý của nhà nước và xã hội.

Ví dụ, Nghị quyết tìm cách tập trung quyền lực tư pháp để hạn chế sự can thiệp của chính quyền địa phương vào các quyết định của tòa án. Tòa án nhân dân tối cao sẽ lập ra các tòa án lưu động để xử lý các vụ việc “quan trọng” liên quan đến nhiều cấp thẩm quyền xét xử khác nhau. Nghị quyết này bật đèn xanh cho việc thử nghiệm các tòa án cũng như các viện kiểm sát địa phương với thẩm quyền chéo như vậy. Việc này phù hợp với Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ba của Đảng năm 2013, nơi đã cho ra đời những đợt cải cách thử nghiệm trong sáu tỉnh nhằm loại bỏ sự kiểm soát đối với lực lượng nhân sự tòa án, ngưng nhận tài trợ từ tay chính quyền địa phương, và trao quyền quản lý chúng cho cơ quan chức năng cấp tỉnh. Năm 2015 có thể sẽ tiếp tục chứng kiến các thử nghiệm liên quan đến bộ máy hành chính tương tự khi mà chính Nghị quyết mới này được thực hiện. Có lẽ cũng sẽ diễn ra các cuộc cải cách tương ứng trong hệ thống đánh giá cán bộ chính thức, khi mà các quan chức được chỉ đạo phải theo dõi tần suất can thiệp của chính quyền địa phương vào các quyết định tư pháp và liên hệ sự can thiệp này với việc đánh giá công tác và tiền lương của họ.

Nghị quyết này cũng sẽ ủng hộ cho các nhận thức về nghiệp vụ và tố tụng tư pháp đã được nhấn mạnh trong những năm cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000, nhưng lại bị chìm xuống trong những năm gần đây. Bắt đầu từ khoảng năm 2005 và đặc biệt là với việc bổ nhiệm Vương Thắng Tuấn làm chánh án Tòa án nhân dân tối cao (SPC) năm 2008, những luận điệu chính thức đã đi ngược lại những nhận thức trước đó, và xoay qua ủng hộ hòa giải chính trị và các phán quyết mang tính dân túy như một phương tiện để làm bất cứ điều gì cần thiết nhằm giải quyết các tranh chấp dân sự, bao gồm cả việc ném các tiêu chuẩn pháp lý ra ngoài cửa sổ.[1]

Giờ đây, Nghị quyết 2014 đã hơi đổi giọng điệu. Các phiên xét xử đang được coi là trung tâm của hệ thống tố tụng. Các vụ kiến nghị dân sự sẽ được đưa trở lại vào các kênh pháp lý. Và phẩm chất chuyên môn nghiệp vụ tư pháp đang một lần nữa được chú trọng.

Những tiến triển này cho thấy rằng cơ quan trung ương Đảng đã tạo cho các nhà kỹ trị pháp lý của Trung Quốc, chẳng hạn như những người đi theo người hiện đứng đầu SPC Chu Cường (Zhou Qiang), một khoảng trống nhất định để xoay xở. Việc này không chỉ giới hạn riêng ở cải cách tư pháp đã nói ở trên, mà còn bao gồm một loạt các cải cách hành chính, thủ tục và liên quan đến (nâng cao) sự minh bạch.

Đương nhiên, các giới hạn cho khoảng trống này đang gây tranh cãi gay gắt. Đối mặt với sự phản đối trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, việc cho rằng “trị quốc theo pháp luật” cũng bao hàm khái niệm “quản lý quốc gia theo hiến pháp” rõ ràng đã được rút ra khỏi các dự thảo đầu tiên của Nghị quyết trong quá trình soạn thảo suốt tám tháng ròng. Theo Tiễn Cương (Qian Gang), nó chỉ được đưa trở lại vào tài liệu này trong những ngày cuối cùng của hội nghị. Các cuộc tranh luận tiếp tục nổ ra về ý nghĩa của câu chữ. Truyền thông của chính quyền Trung Quốc đã nhấn mạnh rằng nó không hề tương đương với khái niệm dân chủ lập hiến  của “phương Tây” (CCTV, ngày 5 tháng 11). Cựu chủ tịch SPC Tiếu Dương (Xiao Yang), được biết đến nhiều với các nỗ lực cải cách cuối thập niên 1990, đã làm sống lại các đề xuất về việc tạo ra một ủy ban hiến pháp trong cơ quan lập pháp quốc gia với nhiệm vụ xem xét tính hợp pháp và hợp hiến của các đạo luật.

Tăng cường sự kiểm soát của Đảng

Thứ hai, Nghị quyết nhấn mạnh rằng việc tập trung hỗ trợ cho cải cách luật pháp không có nghĩa rằng sẽ có thay đổi đối với nguyên tắc cốt lõi là đảng độc tôn quyền lực.

Nghị quyết tái khẳng định quan niệm “Ba điều tối thượng” có từ chính quyền của cựu chủ tịch Hồ Cẩm Đào, trong đó nhấn mạnh rằng học thuyết của Đảng và lợi ích nhân dân là các nguồn tương đương (nếu không nói là cao hơn) so với hiến pháp và luật pháp, trong vai trò là các nguồn để định hướng công việc cho thẩm phán và công tố viên của Trung Quốc. Nó cũng nêu rõ rằng các ủy ban chính trị – pháp lý sẽ vẫn là kênh tổ chức nòng cốt trong việc thi hành sự kiểm soát của Đảng đối với hệ thống pháp luật.

Nhưng Nghị quyết đã đi xa hơn là chỉ đơn thuần nói suông về sự kiểm soát của Đảng. Nó cũng đưa ra các bước hướng tới việc thể chế hóa điều này. Ví dụ, Nghị quyết quy định rằng tất cả các dự luật liên quan đến các quyết định chính sách “quan trọng” của cơ quan lập pháp quốc gia phải được báo cáo cho các lãnh đạo trung ương Đảng để “thảo luận và quyết định.” Tương tự như vậy, tất cả các sửa đổi “quan trọng” của pháp luật hiện hành phải được báo cáo cho Đảng bộ trong Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (tức Quốc hội).

Tất nhiên, điều này chỉ đơn giản là phản ánh cách mà quyền lực của Đảng được thực thi trong thực tiễn. Nhưng lối diễn đạt mới này cũng đã tạo nên một sự khác biệt. Bản thân Hiến pháp Trung Quốc tự nó chỉ một lần đề cập đến nguyên tắc chung là quyền kiểm soát chính trị của Đảng. Do đó, các nhà hoạt động và các học giả Trung Quốc trong những năm cuối thế kỷ 20 hoàn toàn có thể đã tưởng tượng rằng việc tập trung viện dẫn các khái niệm như “trị quốc theo pháp luật” có thể tạo ra không gian cho việc xây dựng các thiết chế pháp lý độc lập, trong khi chỉ đơn giản là thừa nhận vai trò chính trị bao trùm của Đảng như một nguyên tắc nền tảng chung. Giới tri thức theo xu hướng tự do do đó có thể đặt nghi vấn về vai trò của các ủy ban chính trị – pháp lý trong việc kiểm soát các chủ thể pháp lý cụ thể, chẳng hạn như tòa án, mà không nhất thiết bị xem là thách thức quyền lực của Đảng. Những lý lẽ này giờ đây đã trở nên không ổn khi phải đương đầu với việc chính sách trung ương tái tuyên bố sự kiểm soát của Đảng đối với các hoạt động hàng ngày (của hệ thống pháp lý) theo một cách rõ ràng hơn nhiều.

Tương tự, Nghị quyết cắt bớt những mảng xám khác mà một số người đã sử dụng để xúc tiến cải cách. Các văn kiện hội nghị trung ương Đảng từ những năm cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000 đã đề cập đến các thiết chế từ dưới lên chẳng hạn như các cuộc bầu cử và biểu quyết khi thảo luận về cải cách tư pháp.[2] Những điều trên đã bị hạn chế bớt, nếu không nói là bị loại bỏ hoàn toàn. Đã có thêm những lời kêu gọi cụ thể cần tăng cường sự kiểm soát chính trị của Đảng đối với các nhân tố đã cố gắng sử dụng các kênh pháp lý nhằm thúc đẩy những cải cách sâu sắc hơn. Luật sư trở thành mục tiêu của một cuộc tuyên truyền chính trị lớn hơn. Các học giả nghiên cứu pháp lý cũng bị chọn. Nghị quyết nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng một đội ngũ các học giả pháp lý đáng tin cậy về chính trị, có hiểu biết về đặc điểm quốc gia của Trung Quốc.

Trở về quá khứ

Thứ ba, hội nghị đã bắt đầu quá trình gắn lĩnh vực pháp lý với “Giấc mộng Trung Hoa”, một khẩu hiệu tuyên truyền nòng cốt xuất hiện từ năm 2012 khi Tập Cận Bình nhậm chức. Học thuyết này thể hiện quan điểm mấu chốt hướng về lịch sử và truyền thống văn hóa  Trung Quốc – vốn bị các nhà lãnh đạo cộng sản trong thế kỷ 20 đả kích mạnh mẽ – như một cơ sở cho tính chính danh của Đảng.

Nghị quyết kêu gọi các cơ quan của Đảng “tiếp thu tinh túy của văn hóa pháp lý Trung Hoa” và thúc đẩy “nền văn hóa truyền thống Trung Quốc để tăng cường tính đạo đức trong các nỗ lực thúc đẩy pháp trị.” Một giọng điệu tương tự đã được sử dụng trong buổi nghiên cứu tập thể do Chủ tịch Tập chủ trì dành cho các thành viên Bộ Chính trị ngay trước hội nghị, trong đó tập trung nhiều vào lịch sử và văn hóa truyền thống. Để tổng kết nội dung của buổi nghiên cứu đó, ông Tập nói: “Con đường và các phương pháp thích hợp để giải quyết vấn đề của Trung Quốc chỉ có thể được tìm thấy từ trong chính Trung Quốc”.

Điều này đánh dấu sự thay đổi so với cuối thế kỷ 20. Khi mà các vị lãnh đạo Trung Quốc lúc đầu nâng khái niệm “trị quốc theo pháp luật” lên thành khẩu hiệu chính của Đảng, họ đã cho các quan chức và học giả một khoảng rộng để nhìn ra bên ngoài tìm kiếm các mô hình để đem về xem xét khi đi tìm giải pháp cho những thách thức về thể chế mà Trung Quốc phải đương đầu. Tất nhiên, các văn kiện của hội nghị trung ương Đảng trong thời gian này nói rõ rằng Trung Quốc sẽ không tiếp nhận các thiết chế chính trị “phương Tây” như dân chủ đa đảng hay phân chia quyền lực.[3] Tuy nhiên, mô hình pháp lý nước ngoài là một vấn đề bất phân thắng bại.

Cả các quan chức nhà nước lẫn các nhà hoạt động xã hội đều lợi dụng khoảng không gian này. Năm 1998, các vị nguyên thủ quốc gia vào lúc đó là Giang Trạch Dân và Bill Clinton thậm chí đã đạt được một thỏa thuận chính thức về việc mở rộng hợp tác song phương trong lĩnh vực pháp quyền.[4] Việc Bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ cho các chương trình ở Trung Quốc diễn ra không lâu sau đó. Vào tháng 12 năm 2002, khi cựu chủ tịch Hồ khởi xướng thông lệ mới là các buổi nghiên cứu  thường kỳ của Bộ Chính trị, trong đó có các buổi nghiên cứu tập thể tập trung vào luật hiến pháp, các nhà hoạt động pháp lý của Trung Quốc đã chú ý tới điều này. Các năm tiếp theo đã chứng kiến việc các học giả Trung Quốc, các luật sư và thẩm phán dựa vào hiến pháp Trung Quốc, luật pháp và lý lẽ pháp lý để làm công cụ thách thức những hành động của nhà nước, đáng kể nhất là các thách thức năm 2003 đối với tính hợp pháp của hệ thống “tạm giam và trục xuất” vốn gây nhiều tranh cãi. Một số đã viện dẫn đến các nguồn pháp lý nước ngoài, bao gồm cả các vụ tại Tòa án tối cao Hoa Kỳ như Marbury với Madison và New York Times với Sullivan.

Giờ đây, khoảng không gian này đang dần hẹp lại. Sự đàn áp các luật sư nhân quyền Trung Quốc đã leo thang. Những nhân vật như Hứa Chí Vĩnh (Xu Zhiyong) và Phổ Chí Cường (Pu Zhiqiang) đã bị giam giữ. Các tổ chức do nước ngoài tài trợ bị thắt chặt kiểm soát. Và Nghị quyết đã tăng cường cảnh báo ý thức hệ về việc áp dụng các mô hình nước ngoài, tuyên bố một cách rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ “không sao chép ý tưởng hay mô hình pháp trị nước ngoài.” Xu hướng này cũng không chỉ diễn ra trong lĩnh vực pháp luật. Tập Cận Bình còn đưa ra những lời chỉ trích đối với các công trình kiến trúc hiện đại “kỳ cục”, và kêu gọi các nghệ sĩ lấy cảm hứng từ văn hóa truyền thống Trung Quốc. Các nhà kiểm duyệt đã chặn các chương trình truyền hình nước ngoài như “Big Bang Theory”. Sách giáo khoa đang được thay đổi để tăng lượng nội dung của thơ cổ điển Trung Quốc, trong khi phần dành cho các nhà phê bình xã hội hiện đại, những người từng được Đảng ca ngợi, như Lỗ Tấn, đang bị giảm bớt.[5]

Kết luận

Cả giới truyền thông nước ngoài lẫn Trung Quốc gọi Nghị quyết (đang được dịch ra tiếng nước ngoài) là thúc đẩy nền “pháp quyền”. Điều này phần nào không chính xác. Đối với hầu hết các độc giả nói tiếng Anh, khái niệm này gợi lên ý niệm về hệ thống các quyền công dân từ dưới lên và sự xét xử độc lập theo các tiêu chuẩn pháp lý. Không ý niệm nào trong số đó là trọng tâm mục đích của Đảng được thể hiện qua Nghị quyết.

Ngược lại, có một ý nghĩa cốt lõi thứ ba nằm trong thuật ngữ “luật” của tiếng Anh có liên quan rất nhiều đến cách Đảng cố gắng sử dụng các thuật ngữ “pháp” và “y pháp trị quốc”. Nó được gói gọn trong khái niệm “trật tự”. Điều Đảng tìm kiếm là sự cai quản được cải tiến, tập trung hóa từ trên xuống. Đảng đang đẩy mạnh cải cách pháp lý để nâng cao sự quản lý có trật tự của mình đối với xã hội. Họ cũng đang xúc tiến những cải cách hoàn toàn không liên quan đến luật pháp để cải thiện tình hình quản trị nội bộ Đảng. Nhiều nhà quan sát phương Tây không gắn các cải cách đối với hệ thống kỷ luật bí mật của Đảng với các cải cách tòa án, nhưng từ quan điểm của chính quyền Trung Quốc, đây là cốt lõi của cùng một thứ.

Tóm lại, Nghị quyết tiếp tục đẩy mạnh các cải cách kỹ thuật về pháp lý ở Trung Quốc những vẫn chịu sự kiểm soát chính trị độc đảng. Nhưng nó cũng có những bước đi rõ ràng để xác định lại khái niệm “cai trị theo pháp luật” bằng cách vô hiệu hóa các yếu tố mà nó cho là nguy hiểm, chẳng hạn như sự tham gia từ dưới lên và các lực lượng pháp lý độc lập, thay vào đó ủng hộ sự quản lý tập trung từ trên xuống, một thiên hướng ngày càng được phủ dày thêm bằng tấm áo cổ điển Trung Quốc.

Carl Minzner là giáo sư tại Trường Luật, Đại học Fordham, chuyên nghiên cứu luật pháp và chính quyền Trung Quốc.

——————–

[1] Carl Minzner, China’s Turn Against Law, 59 Am. J. Comp. L. (2011).

[2] Chẳng hạn như trong các báo cáo Hội nghị trung ương Đảng năm 2000 và 2001, Zhonggong Zhongyang Guanyu zhiding Guomin jingji ông shehui Fazhan di Shiwu Nian Jihua de jianyi (中共中央关于制定国民经济和社会发展第十个五年计划的建议 –  trung cộng trung ương quan vu chế định quốc dân kinh tể hòa xã hội phát triển đệ thập cá ngũ niên kế hoa đích kiến nghị), ban hành ngày 11 tháng 10 2000;  zhōng gòng zhōng yāng guān yú jiā qiáng hé gǎi jìn dǎng de zuò fēng jiàn shè de jué dìng (中共中央关于加强和改进党的作风建设的决定 –  trung cộng trung ương quan vu gia cường hòa cải tiến đảng đích tác phong kiến thiết đích quyết định), ban hành ngày 26 tháng 9 năm 2001.

[3] Chẳng hạn như trong Nghị quyết hội nghị trung ương Đảng năm 2001,  ban hành 26 tháng 9 năm 2001.

[4] Để biết một bản thuật lại tuyệt vời về sự ra đời của sáng kiến này, hãy xem Paul Gewirtz,  The U.S.-China Rule of Law Initiative, 11 Wm. & Mary Bill RTS. J. 603 (2003).

[5] Đương nhiên, điều này không phải là để cho thấy rằng cuộc tìm về quá khứ của Trung Quốc là sai. Trong thực tế, một cuộc phân tích cẩn thận, công bằng về lịch sử Trung Quốc để tìm kiếm các giải pháp pháp lý hay thể chế cho các vấn đề mà Trung Quốc đang phải đối mặt có thể là một cách chữa cháy hữu ích cho rất nhiều trăm năm qua, khoảng thời gian mà họ đã thường xuyên chú trọng vào việc nhập khẩu mù quáng các khái niệm từ phương Tây, dù là chủ nghĩa tự do hay chủ nghĩa Mác. Nhưng điều này hoàn toàn khác với việc tạo ra một câu chuyện mới, được nhà nước phê chuẩn, đúng đắn về mặt chính trị, thiên về lịch sử dân tộc chủ nghĩa mà chỉ để đơn giản là nhằm phục vụ như một công cụ tiện dụng để hợp pháp hóa sự cai trị độc đoán hiện đại.

Triều Tiên phóng tên lửa, quan hệ Trung – Hàn nguội lạnh

Print Friendly, PDF & Email

missile

Nguồn: “N Korea rocket launch chills Beijing-Seoul ties”, The New York Times, 11/02/2016.

Biên dịch: Phan Nguyên

Khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến thăm đồng minh vững chắc của Hoa Kỳ là Hàn Quốc vào năm 2014, đó dường như là sự khởi đầu của một mối quan hệ gần gũi đầy hứa hẹn.

Người đón tiếp ông Tập, Tổng thống Park Geun-hye, đã đáp lại bằng cách đến Bắc Kinh năm ngoái để tham dự một cuộc diễu binh mà các đồng minh khác của Mỹ tẩy chay, một cử chỉ mà ông Tập có thể đã tin rằng sẽ khiến bà Park ngày càng cách xa Washington hơn.

Về phần mình, bà Park hy vọng rằng người bạn mới ở Bắc Kinh – đối tác kinh tế hàng đầu của Hàn Quốc – sẽ giúp kiềm chế tham vọng không ngừng theo đuổi vũ khí hạt nhân của nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un.

Nhưng triển vọng về một kỷ nguyên thân thiện mới giữa Trung Quốc và Hàn Quốc dường như đã sụp đổ trong tuần này. Sau khi Bắc Triều Tiên, một đồng minh hiệp ước của Trung Quốc, phóng một quả tên lửa, rõ ràng là để thử nghiệm công nghệ tên lửa đạn đạo, Hàn Quốc đã đón nhận điều mà Trung Quốc từ lâu đã cố gắng ngăn chặn: Một hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Mỹ sẽ được triển khai ngay trên ngưỡng cửa của Trung Quốc.

Trung Quốc hiện tỏ ra giận dữ hơn với Hàn Quốc, thay vì ông Kim, người đã bỏ ngoài tai lời khuyên của Trung Quốc là đừng phóng tên lửa.

Chính phủ của bà Park nói rằng họ đang bước vào cuộc đàm phán với chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama về việc triển khai hệ thống này của Mỹ, và Lầu Năm Góc nói rằng việc lắp đặt hệ thống này, vốn được chi trả bởi Mỹ, sẽ được tiến hành một cách nhanh chóng nhất có thể.

Hàn Quốc đã hành động sau khi phản ứng của Trung Quốc đối với vụ thử nghiệm hạt nhân mới đây của Bắc Hàn tỏ ra nhẹ nhàng hơn so với những gì bà Park mong đợi sau gần hai năm ve vãn của ông Tập (đối với Seoul), các nhà phân tích người Hàn Quốc nói.

Hệ thống này, được gọi là THAAD, (Terminal High-Altitude Area Defense – Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường tầm cao giai đoạn cuối), sẽ cung cấp cho Hàn Quốc, và gần 30.000 binh sĩ Mỹ đóng quân ở đó, sự bảo vệ vượt trội chống lại thách thức hạt nhân ngày càng lớn từ Bình Nhưỡng so với hệ thống phòng thủ tên lửa chưa đầy đủ hiện tại của Seoul, các nhà phân tích này nói.

“Tổng thống Park đã rất thất vọng và chán nản với sự thiếu hành động và im lặng của ông Tập đối với Bắc Triều Tiên khi bà cần sự giúp đỡ của ông Tập nhất,” Giáo sư Kim Heung-kyu, Giám đốc Viện Chính sách Trung Quốc tại Đại học Ajou ở Suwon, Hàn Quốc, nói. Ông Tập sau đó đã bị mất mặt ở trong nước khi bà Park nhanh chóng chấp nhận hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ, Giáo sư Kim nói.

“Những nỗ lực của Tập Cận Bình để biến Tổng thống Park thành một người bạn đã không diễn ra như ông hy vọng,” ông nói, “và chắc chắn bà ấy thất vọng với những nỗ lực của ông Tập trong việc kiểm soát Kim Jong Un.”

Sau vụ phóng tên lửa vào ngày Chủ Nhật, Trung Quốc lấy “làm tiếc” và tranh luận gay gắt tại Liên Hiệp Quốc chống lại các lệnh trừng phạt mới sâu rộng hơn đối với Bắc Hàn.

Ngược lại, Trung Quốc nói nước này “quan ngại sâu sắc” về quyết định của Hàn Quốc cho phép triển khai các hệ thống phòng thủ tên lửa. Bắc Kinh cảnh báo “mọi quốc gia không được phép phá hoại lợi ích an ninh của các nước khác trong quá trình theo đuổi lợi ích an ninh của riêng mình”, ngụ ý rõ ràng rằng hệ thống tên lửa là nhằm củng cố mạng lưới các liên minh của Washington tại Đông Bắc Á, thay vì cung cấp sự bảo vệ chống lại Bắc Hàn.

Để chứng minh sự không hài lòng của mình, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã triệu tập Đại sứ Hàn Quốc tại Bắc Kinh Kim Jang-soo nhằm phản đối các cuộc đàm phán giữa Seoul và Mỹ về hệ thống phòng thủ tên lửa. (Nhằm thể hiện sự công bằng, Trung Quốc cũng triệu tập đại sức Bắc Hàn Ji Jae Ryong nhằm phản đối vụ phóng tên lửa.)

Sự tức giận của Trung Quốc về hệ thống tên lửa sắp được lắp đặt của Mỹ ngay sát biên giới của mình bắt nguồn từ hai nguyên nhân, ông Chu Shulong, một giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh, nói.

Thứ nhất, nhiều người trong chính phủ Trung Quốc không tin Bắc Hàn sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân của mình, Giáo sư Chu nói. Thứ hai, niềm tin rằng việc triển khai hệ thống THAAD chủ yếu là nhằm củng cố vị thế của Mỹ ở Đông Bắc Á tồn tại rộng rãi ở Bắc Kinh, nơi giới chức lo ngại mục tiêu cuối cùng của nó là để ngăn chặn Trung Quốc.

“Bắc Triều Tiên là một chế độ xấu, vâng, tất cả mọi người đều đồng ý với điều đó”, Giáo sư Chu nói. “Nhưng liệu Bắc Triều Tiên sẽ có sử dụng vũ khí (hạt nhân) của mình không? Có lẽ là không. Không nên coi Bắc Hàn là một mối đe dọa tức thì.”

Nhận định này rất khác so với tường trình đầu tuần này trước Quốc hội Mỹ của Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ, ông James Clapper, người đặt Bắc Hàn đứng đầu danh sách của Washington về các mối đe dọa liên quan đến vũ khí hạt nhân và phổ biến vũ khí hạt nhân.

Đáng lo ngại hơn với Trung Quốc không phải là vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, Giáo sư Chu nói, mà là quan điểm rằng THAAD sẽ gắn kết chặt chẽ hơn Hàn Quốc và Nhật Bản, hai đồng minh của Mỹ vốn đang có những cuộc cãi vã riêng, dưới một chiếc ô chung của Washington.

Quyết định của Hàn Quốc đứng cạnh người bảo lãnh an ninh của mình là Washington diễn ra khi mối quan hệ tổng thể giữa Mỹ và Trung Quốc đã trở nên căng thẳng hơn, được thể hiện không chỉ bởi sự khác biệt về quan điểm đối với vấn đề Bắc Triều Tiên mà còn bởi sự cạnh tranh ở Biển Đông.

Tuần tới, ông Obama sẽ đón tiếp lãnh đạo 10 thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Sunnylands, địa điểm ở California nơi ông và ông Tập đã gặp nhau hồi năm 2013. Vào dịp đó, hai vị lãnh đạo cam kết sẽ làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên. Lần này, ông Obama có khả năng sẽ đề nghị các lãnh đạo ASEAN, dù chỉ gián tiếp, đứng về phía Washington thay vì Bắc Kinh.

Đối với Trung Quốc, “sự ra đời của THAAD là một trở ngại vì nó kết nối Hàn Quốc với một chiến lược khu vực của Mỹ”, ông Scott Snyder, chuyên gia cao cấp về nghiên cứu Hàn Quốc tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, nói. “Vẫn chưa rõ liệu Trung Quốc sẽ phản ứng với trở ngại này bằng cách hạn chế hợp tác với Mỹ về Bắc Triều Tiên, hay Trung Quốc sẽ có thể trừng phạt Hàn Quốc vì quyết định này.”

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

ĐAN RỖ LÊ THÀNH NGHỊ BỐC THỐI – NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHAO KHÁT ĐẾN NHỮNG MIỀN TRONG XANH

Đỗ Hoàng Đan rỗ (1) Lê Thành Nghị vừa viết một bài “Nguyễn Khoa Điềm khao khát đến những miền trong xanh” (2). Bài viết khá dài nhằm tâng bốc, tụng ca ông quan to Nguyễn Khoa Điềm đứt gánh giữa chừng đã về vườn!  Bài viết chọn trong tập vô lối Cõi Lặng và những bài lẻ in trên các tạp chí báo...

Thống kê
  • Đang truy cập22
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm21
  • Hôm nay7,441
  • Tháng hiện tại98,862
  • Tổng lượt truy cập4,151,084
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây