Lý Bằng và vai trò gây tranh cãi trong chính biến Thiên An Môn

Thứ ba - 30/07/2019 20:36
Nhật ký của Lý Bằng vào ngày 27 tháng 4 năm 1989 ghi lại khoảnh khắc sự cố biểu tình Thiên An Môn tác động trực tiếp tới ông. Trên đường về nhà từ văn phòng thủ tướng ở Bắc Kinh, chiếc xe của ông đã bị chặn bởi những người biểu tình. Người lái xe và vệ sĩ của ông – và ông vui mừng vì có họ bên cạnh lúc đó – phải tìm đường khác.
Lý Bằng và vai trò gây tranh cãi trong chính biến Thiên An Môn



Lý Bằng và vai trò gây tranh cãi trong chính biến Thiên An Môn

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: “Obituary: Li Peng died on July 22nd”, The Economist, 25/07/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

Nhật ký của Lý Bằng vào ngày 27 tháng 4 năm 1989 ghi lại khoảnh khắc sự cố biểu tình Thiên An Môn tác động trực tiếp tới ông. Trên đường về nhà từ văn phòng thủ tướng ở Bắc Kinh, chiếc xe của ông đã bị chặn bởi những người biểu tình. Người lái xe và vệ sĩ của ông – và ông vui mừng vì có họ bên cạnh lúc đó – phải tìm đường khác.

Sau nhiều ngày biểu tình ủng hộ dân chủ của các sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn, chính phủ vẫn chưa có hành động nào. Không ai đến đánh đập và bắt giữ những người biểu tình như từng xảy ra một lần duy nhất trước đó trong giai đoạn cai trị của Đảng Cộng sản – trong một đợt biểu tình quy mô lớn cũng tại chính Thiên An Môn. Đó là vào năm 1976, khi người dân đang thương tiếc sự qua đời của Thủ tướng Chu Ân Lai. Lý cũng đã khóc thương ông Chu, có lẽ nhiều hơn nhiều người khác, vì Chu đã chăm sóc ông từ khi ông còn là một đứa trẻ sau khi cha ông bị giết, hi sinh vì cuộc đấu tranh của cách mạng. Đạo đức và nguyên tắc của Chu đã ảnh hưởng sâu sắc đến Lý sau này.

Nhưng sự tiếc thương của công chúng năm 1976 đã biến thành biểu tình chính trị chống lại những kẻ thù cứng rắn của Chu, và cuộc biểu tình đó đã bị trấn áp mạnh mẽ. Bây giờ, 13 năm sau, nhiều người Trung Quốc đã cho phép mình tin rằng cuối cùng đảng cũng đã sẵn sàng đi theo một con đường chính trị mới, cở mở hơn với bất đồng chính kiến. Nhưng Lý không thể cho phép điều này. Ông viết trong nhật ký của mình rằng ông thà chết còn hơn là để các cuộc biểu tình vượt ra khỏi tầm kiểm soát.

Ngay từ đầu cuộc biểu tình ông đã sợ điều tồi tệ nhất: rằng những kẻ gây rối này sẽ lặp lại sự hỗn loạn và bạo lực mà Trung Quốc từng chịu đựng trong Cách mạng Văn hóa. Ông đã trải qua những năm bi thảm đó trong vai trò một cán bộ bình thường phụ trách công tác đảng tại sở điện lực Bắc Kinh. (Phát điện, đặc biệt là kỹ thuật thủy điện, là tình yêu lớn của ông, và ông từng theo học chuyên ngành này tại Viện Kỹ thuật Điện ở Moskva). Giờ đây, trong thời đại của Đặng Tiểu Bình với khẩu hiệu “cải cách”, chính trị trở nên bị pha trộn theo một hướng mới, và Lý được gọi là một người bảo thủ. Trong khi Đặng là người cởi mở, Lý sẽ tạo dấu ấn của mình bằng cách giữ lập trường ngược lại.

Thực tế, chính trị Trung Quốc trong thời đại của Đặng thường mâu thuẫn: vừa ôn hòa vừa cứng rắn. Năm 1989, Đặng có hai người thân cận, và Lý là một trong số đó. Người còn lại, hoàn toàn khác, là Tổng Bí thư Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang), một người có vẻ tự do xuyên suốt, một người lôi cuốn, thanh lịch, thích mặc Tây phục. Lý từ lâu đã mâu thuẫn với Triệu về tốc độ và đường hướng cải cách, về các vấn đề từ cải cách giá cả đến kiểm soát ý thức hệ. Là một người tin tưởng mạnh mẽ vào vai trò của nhà nước và đảng, ông coi bất kỳ thay đổi nào đều có khả năng gây nguy hiểm cho cả hai.

Trong những ngày xuân căng thẳng năm 1989, Triệu có phần đồng cảm với các sinh viên. Ông nghĩ họ yêu nước. Còn Lý coi các lãnh đạo sinh viên là những kẻ phản cách mạng, tìm cách lật đổ đảng. Họ phải bị đàn áp. Trong các cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, ông và Triệu đã cãi nhau dữ dội. Nhưng Lý biết Đặng ủng hộ mình và chủ trường dùng vũ lực để đàn áp. Vào ngày 17 tháng 5, ông cùng với một Triệu Tử Dương đang thất vọng rời một cuộc họp của Bộ Chính trị tại nhà Đặng, vui mừng vì quan điểm của ông đã thắng thế. Việc đàn áp đã được cho phép. Vào ngày 18, ông đã chủ trì một cuộc họp căng thẳng với một số lãnh đạo sinh viên tại Đại lễ đường Nhân dân nhìn ra Quảng trường Thiên An Môn, nói với họ một cách lạnh lùng: “Tình hình sẽ không phát triển như các cậu muốn và mong đợi”. Trái lại, nó sẽ phát triển theo như Lý muốn và dự kiến.

Đêm 20 tháng 5 đã ghi dấu ấn của Lý vào lịch sử Trung Quốc. Đó là khi ông xuất hiện trên truyền hình quốc gia, mặc một bộ đồ đại cán với mái tóc vuốt ngược ra sau, biện minh cho việc chuẩn bị áp dụng thiết quân luật ở Bắc Kinh. “Tình trạng vô chính phủ đang ngày càng xấu đi”, ông đọc bài diễn văn với giọng căng thẳng và tức giận. “Số phận và tương lai của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, được xây đắp bởi xương máu của bao nhiêu chiến sĩ cách mạng [trong đó có cha ông], đang đối mặt với một mối đe dọa nghiêm trọng”. Từ trong một hội trường chật cứng, hàng trăm cán bộ đã vỗ tay ủng hộ ông.

Lý đã thắng cuộc chiến của mình, và Triệu đã thua. Nhưng Lý đã không giành được trái tim và khối óc của các sinh viên. Mặc dù các sinh viên tập trung sự tức giận của họ vào một số người, bao gồm cả chính Đặng, nhưng Lý đã trở thành gương mặt đại diện chính cho những gì xấu xa. Khi quân đội tập trung ở ngoại thành Bắc Kinh chuẩn bị tiến vào dọn dẹp quảng trường, các sinh viên và các công dân khác đã tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ, hét vang “Đả đảo Lý Bằng”! Trong cuộc gặp ngắn ngủi với họ vào ngày 18, trong bầu không khi sôi sục sự khinh miệt, ông đã nói thẳng với họ: “Chúng ta phải bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Tôi không quan tâm đến việc các anh chị có thích nghe điều này hay không”. Vào đêm 3 tháng 6, điều này đã được lặp lại một lần nữa – bằng những viên đạn. Hàng trăm, có thể hàng ngàn người, đã bị giết. Một số người, đặc biệt là Đặng, xứng đáng bị bêu tên là “Đồ tể Bắc Kinh” như cách nhiều người nước ngoài sau đó đã gán cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Nhưng biệt danh này thường được gán cho Lý.

Bánh xe vẫn quay

Nhưng Lý chẳng hề bận tâm đến điều đó. Thế giới hậu Thiên An Môn là thế giới của ông. Quan điểm tự do kiểu Triệu không bao giờ được phục hồi. Cải cách kinh tế cuối cùng đã cất cánh một lần nữa, nhanh hơn tốc độ mà những người bảo thủ như ông muốn. Nhưng đảng vẫn nắm vững quyền lực, và đó mới là điều quan trọng nhất. Ông giữ chức thủ tướng trong gần một thập niên, đảm bảo cho các  thành viên gia đình ông thoải mái cắm rễ trong ngành điện lực: hai con trai và con gái ông đều làm việc trong Bộ Tài nguyên nước và Điện lực, và một con trai của ông trở thành chủ tịch tỉnh Sơn Tây nơi có nhiều than. Những người ủng hộ chiến dịch chống tham nhũng đã phẫn nộ với “gia đình điện lực” của ông. Nhưng điều đó cũng không hề làm ông bận tâm.

Dự án mà ông tự hào nhất, mặc dù nó khiến ông trở nên tai tiếng hơn, là việc xây dựng một con đập khổng lồ tại Tam Hiệp trên sông Dương Tử, nơi có phong cảnh tuyệt đẹp. Nó tiêu tốn hàng chục tỷ đô la, làm 1,3 triệu dân phải di dời và bị các nhà môi trường ở Trung Quốc và nước ngoài lên án, nhưng ông đã tán dương nó và còn đưa nó vào trong một bài thơ của mình: “Bánh xe khổng lồ quay/ Dòng điện tràn vô tận/ Thành tựu vào lúc này/ Lợi ích muôn đời sau”. Ông cũng viết một cuốn sách về dự án, dựa trên cuốn nhật ký mà ông đã giữ sau đó. Ông vẫn giữ thói quen viết nhật ký mỗi ngày ngay cả khi đã về già. Ông cố gắng xuất bản các phần tuyển chọn từ nhật ký của mình ghi lại những ngày tháng Tư, tháng Năm và tháng Sáu năm 1989, bảo vệ vai trò của ông trong chính biến Thiên An Môn. Ông dường như không quan tâm liệu độc giả có vui vẻ đón nhận chúng hay không.
 

Nhật ký Lý Bằng viết về Hội nghị Thành Đô

Print Friendly, PDF & Email

thanhdo

Tác giả: Lý Bằng | Biên dịch : Nguyên Hải

 [Năm 1986]

Ngày 26 tháng 12, Thứ Sáu, trời âm u, có mưa

Tại Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam [ĐCSVN], Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Đảng, thay cho nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời hồi tháng 7.

[Năm 1989]

Ngày 26 tháng 8, Thứ Bảy, trời âm u, có mưa

Hôm nay Việt Nam tuyên bố đã “rút toàn bộ quân đội” từ Campuchia. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề Campuchia, cũng quét sạch trở ngại cho việc bình thường hóa mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam.

Bước ngoặt trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam —Hội nghị Thành Đô

[Năm 1990]

Ngày 6 tháng 6, Thứ Tư, trời hửng.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh hội kiến Đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nguyễn hy vọng thực hiện bình thường hóa quan hệ hai nước, hai đảng và mong muốn sớm đi thăm Trung Quốc.

Ngày 26 tháng 8, Chủ Nhật, trời âm u có mưa.

Tôi nói với đồng chí Giang Trạch Dân về việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam [ĐCSVN] Nguyễn Văn Linh và những người lãnh đạo chủ yếu phía Việt Nam đến thăm Trung Quốc với tính chất nội bộ, đồng chí Giang Trạch Dân tỏ ý hoàn toàn tán thành.

Ngày 27 tháng 8, Thứ Hai, trời mưa.

Tôi đã báo cáo đồng chí Đặng Tiểu Bình về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến Nguyễn Văn Linh. Xét thấy Á Vận Hội sắp cử hành tại Bắc Kinh, mà lần gặp gỡ này bàn đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước Trung-Việt, là chuyện trọng đại, để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm thu xếp tại Thành Đô.

Ngày 30 tháng 8, Thứ Năm, trời hửng.

Việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đi Thành Đô hội đàm với Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, đã gửi lời mời cho phía Việt Nam. Giờ đây hãy xem Việt Nam trả lời thế nào.

Ngày 2 tháng 9, Chủ Nhật, trời hửng.

Ba giờ rưỡi chiều, tôi đáp chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ đến sân bay Thành Đô. Chúng tôi đi ô tô, sau 20 phút đến Nhà khách Kim Ngưu, Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang chờ. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chuyên cơ khác đến Thành Đô sau tôi nửa giờ. Buổi tối từ 8 giờ rưỡi đến 11 giờ, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi ý kiến về phương châm hội đàm với phía Việt Nam ngày mai.

Ngày 3 tháng 9, Thứ Hai, Thành Đô, trời hửng.

Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng đồng chí tiếp tục nghiên cứu phương châm hội đàm với phía Việt Nam chiều nay.

Buổi chiều khoảng 2 giờ, Tổng Bí thư Trung ương ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn TƯ ĐCSVN Phạm Văn Đồng đến Nhà khách Kim Ngưu. Giang Trạch Dân và tôi đón họ tại nhà trệt số 1. Nguyễn Văn Linh mặc âu phục màu cà phê, có phong thái học giả. Đỗ Mười còn khỏe mạnh, tóc bạc phơ, mặc âu phục màu lam. Hai người này đều ở độ tuổi 73-74, còn Phạm Văn Đồng hai mắt bị đục thủy tinh thể, thị lực rất kém, mặc bộ đại cán màu lam, giống cán bộ lão thành Trung Quốc.

Buổi chiều, hội đàm bắt đầu, trước tiên Nguyễn Văn Linh phát biểu một bài dài. Tuy đã tỏ ý muốn giải quyết thật nhanh vấn đề Campuchia và nói thành lập Hội đồng Tối cao Campuchia là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, không nên loại bỏ bất cứ bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào việc nội bộ của Campuchia. Xem ra trên vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh chỉ muốn tỏ thái độ về nguyên tắc, mà đặt trọng điểm vào mặt bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

Hội đàm kéo dài một mạch đến 8 giờ tối. 8 giờ rưỡi mới bắt đầu tiệc chiêu đãi tối. Trên bàn ăn, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân từng người làm việc với Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười.

Ngày 4 tháng 9, Thứ Ba, trời âm u.

Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Đến giờ này, nên nói là các vấn đề hội nghị nêu ra đã đạt được sự đồng thuận tương đối trọn vẹn, quyết định dự thảo biên bản hội nghị.

Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung Quốc-Việt Nam làm lễ ký biên bản ở nhà trệt số Một nhà khách Kim Ngưu, Tổng Bí thư và Thủ tướng mỗi bên đều ký. Đây là bước ngoặt có tính lịch sử trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Ngay tại lễ ký, đồng chí Giang Trạch Dân tặng các đồng chí Việt Nam câu thơ “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu [Tạm dịch : Qua hoạn nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù] ”. Đây là câu thơ của Lỗ Tấn.[1] Các đồng chí Việt Nam tỏ ý vui mừng với việc tặng thơ này.

4 giờ chiều, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, Khoảng 6 giờ 10 đến nơi.

Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội VII

[Năm 1991]

Ngày 29 tháng 6, Thứ Bảy.

Đại hội VII ĐCSVN bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng là Cố vấn. Tinh thần cơ bản của Đại hội VII ĐCSVN là kiên trì chủ nghĩa xã hội, cải cách kinh tế, chủ trương hữu nghị Việt Nam-Liên Xô, Việt Nam-Trung Quốc. Tinh thần này có lợi cho việc cải thiện quan hệ Trung-Việt.

Ngày 30 tháng 7, Thứ Ba, Bắc Kinh, trời hửng.

Buổi chiều tôi hội kiến với Đại biểu đặc biệt Trung ương ĐCSVN Lê Đức Anh và Hồng Hà. Họ yêu cầu tổ chức cuộc gặp cấp cao Trung-Việt. Tôi nói là để cho nhân dân hai nước có chuẩn bị, để các nước khác trong ASEAN không đến nỗi có lo ngại, Trung Quốc-Việt Nam trước tiên nên tiến hành gặp gỡ cấp Thứ trưởng và Bộ trưởng Ngoại giao. Còn nói về  gặp gỡ cấp cao, phía Trung Quốc cho rằng trên nguyên tắc không có vấn đề gì. Ngày mai Tổng Bí thư Giang Trạch Dân sẽ chính thức trả lời họ. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Trung-Việt, có thể trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, các đơn vị đối tác của hai bên sẽ bàn bạc giải quyết, Trung Quốc đều có thái độ tích cực đối với các vấn đề nối lại thương mại, bưu chính, hàng không, quyết toán ngân hàng, khôi phục giao thông trên bộ.

Thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam

Ngày 5 tháng 11, Thứ Ba, trời hửng.

5 giờ chiều, đồng chí Giang Trạch Dân và tôi làm nghi thức đón Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc tại quảng trường Đông Môn bên ngoài Đại lễ đường Nhân dân. Tiếp đó chúng tôi hội đàm. Trên vấn đề Đài Loan, Đỗ Mười có thái độ rõ ràng. Đồng chí Giang Trạch Dân nói, sau khi mối quan hệ hai nước trải qua một khúc quanh co, hôm nay người lãnh đạo hai nước Trung-Việt có thể ngồi với nhau làm cuộc gặp gỡ cấp cao, điều này có ý nghĩa quan trọng. Đây là cuộc gặp kết thúc quá khứ, mở ra tương lai, đánh dấu sự bình thường hóa mối quan hệ hai nước, nó ắt sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển mối quan hệ giữa hai nước. Đỗ Mười nói, việc bình thường hóa mối quan hệ Việt-Trung phù hợp nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, cũng có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực này và thế giới. Tiếp đó vào tiệc chiêu đãi.

Ngày 6 tháng 11, Thứ Tư, trời hửng.

Buổi chiều, tôi hội đàm với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, không khí hội đàm rất tốt. Trước hết tôi nói, sáng nay Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Tổng Bí thư Đỗ Mười đã tiến hành cuộc hội đàm rất tốt, hai bên đã gắng sức trao đổi mọi ý kiến. Võ Văn Kiệt có thái độ đúng trên vấn đề Đài Loan. Trong hội đàm, tôi đã nêu ra các vấn đề nợ, biên giới, nạn dân v.v… Hai bên đồng ý sau này sẽ bàn lại. Về việc Việt Nam đề xuất vay tiền cho các dự án mới, tôi nhận lời trước hết sẽ khảo sát các dự án của Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, tôi nói hiệp định giải quyết chính trị toàn diện vấn đề Campuchia đã ký tại Paris, việc thi hành hiệp định này còn cần tới sự tiếp tục cố gắng của các bên.

Ngày 7 tháng 11, Thứ Năm, trời hửng.

Buổi chiều, hiệp định thương mại Trung-Việt và hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc ở biên giới hai nước được ký tại Nhà khách quốc tế ở Điếu Ngư Đài. Lãnh đạo Đảng và Chính phủ hai nước dự lễ ký kết. Sau đó tôi và đồng chí Giang Trạch Dân nói lời tạm biệt với Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi thăm Quảng Châu, Thâm Quyến.

—————

Bài viết trích từ nhật ký của cựu Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng. Nhật ký của Lý Bằng được in thành sách dưới tên “Hòa bình Phát triển Hợp tác  Lý Bằng ngoại sự nhật ký”, Tân Hoa xuất bản xã.

Nguồn:   李鹏日记披露1990年代中越关系正常化始末   2012年05月03日   人民网   李鹏

Đọc thêm:

————————

[1] Giang Trạch Dân nói câu thơ này là của Giang Vĩnh (1681-1762), nhà thơ đời Thanh. Giang Trạch Dân quê ở Giang Loan, Vụ Nguyên (nay thuộc Giang Tây), mà Giang Vĩnh là danh nhân lịch sử vùng này, chắc hẳn ông biết rõ về Giang Vĩnh. Như vậy có thể Lỗ Tấn đã mượn câu thơ ấy của Giang Vĩnh đưa vào bài thơ “Đề Tam Nghĩa Tháp ” Lỗ Tấn làm năm 1933. Ông Cổ Tiểu Tùng Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây cũng nói như Giang Trạch Dân (ND).
 

15/03/1990: Gorbachev được bầu làm Tổng thống Liên Xô

Print Friendly, PDF & Email

mikhail_gorbachev

Nguồn: “Gorbachev elected president of the Soviet Union,” History.com (truy cập ngày 13/03/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Ngày 15 tháng 3 năm 1990, Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô bầu Tổng bí thư Mikhail Gorbachev lên làm Tổng thống đầu tiên của Liên bang Xô viết. Trong khi cuộc bầu cử là một thắng lợi đối với Gorbachev, nó cũng cho thấy những điểm yếu nghiêm trọng trong cơ sở quyền lực của ông, cuối cùng dẫn đến việc chính quyền tổng thống của ông sụp đổ cuối tháng 12 năm 1991.

Cuộc bầu cử của Gorbachev năm 1990 khác xa so với những cuộc “bầu cử” khác được tổ chức trước đó tại Liên Xô. Kể từ khi lên nắm quyền năm 1985, Gorbachev đã nỗ lực mở ra các tiến trình chính trị tại Liên Xô, vận động thông qua một đạo luật nhằm loại bỏ sự độc quyền của Đảng Cộng sản và thành lập Đại hội Đại biểu Nhân dân. Phần lớn thành viên Đại hội được bầu lên thông qua bỏ phiếu kín. Tuy nhiên, đến năm 1990, Gorbachev phải đối mặt với nhiều chỉ trích đến từ cả những người ủng hộ cải cách và những người theo phe cộng sản bảo thủ cứng rắn. Những nhà cải cách như Boris Yeltsin cho rằng nghị trình cải cách của Gorbachev là quá chậm chạp. Mặt khác, những người theo phe cộng sản bảo thủ lại chỉ trích những bước đi của Gorbachev là xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác. Trong nỗ lực thúc đẩy chương trình cải cách của mình, Gorbachev đã dẫn đầu một phong trào sửa đổi Hiến pháp Liên Xô, bao gồm việc thành lập một vị trí tổng thống mới và mạnh mẽ hơn, vốn phần nhiều chỉ mang tính biểu tượng trước đó.

Ngày 15 tháng 3 năm 1990, Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô bầu Gorbachev làm Tổng thống với nhiệm kỳ 5 năm. Trong khi đây chắc chắn là một thắng lợi dành cho Gorbachev, cuộc bầu cử cũng chứng minh một cách sinh động những vấn đề mà ông gặp phải trong quá trình cố gắng xây dựng sự đồng thuận trong nước để ủng hộ cho chương trình cải cách chính trị của mình.

Gorbachev đã làm việc không ngừng nghỉ để đảm bảo rằng Đại hội dành cho ông hai phần ba số phiếu đa số cần thiết, kể cả liên tục đe dọa sẽ từ chức nếu không đạt được điều đó. Nếu ông không giành được số phiếu cần thiết, ông sẽ phải chạy đua với những ứng cử viên khác trong một cuộc tổng tuyển cử. Gorbachev tin rằng tổng tuyển cử sẽ đem đến sự nhiễu loạn cho nước Nga vốn đã bất ổn; những người khác ở Liên Xô thì nghĩ hành động của ông xuất phát từ nỗi sợ thua cuộc trong một cuộc tổng tuyển cử như thế. Vòng bầu cử cuối cùng trong Đại hội diễn ra hết sức gay cấn, và Gorbachev giành được hai phần ba đa số của mình chỉ với khoảng cách 46 phiếu mong manh (so với số phiếu tối thiểu cần có).

Gorbachev đã thắng cử tổng thống, nhưng những người chỉ trích vẫn tiếp tục tấn công ông vì thành quả kinh tế yếu kém của đất nước và bất ổn bao trùm lên đế chế Xô viết. Tháng 12 năm 1991, ông từ chức tổng thống, và Liên Xô tan rã. Bất chấp những lời chỉ trích Gorbachev, ông vẫn được ghi nhận là người đã thiết lập nên nhiều cải cách chóng mặt giúp nới lỏng sự kìm kẹp của chủ nghĩa cộng sản đối với người dân Xô viết.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập6
  • Hôm nay1,865
  • Tháng hiện tại53,993
  • Tổng lượt truy cập4,106,215
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây