Chính sách bình định qua nòng súng của Mỹ tại Nam Việt Nam

Thứ hai - 19/08/2019 21:09
11.000 lính thiệt mạng nhưng không có thành tựu lớn nào, khi nhìn lại, 1967 thật ra là một năm chẳng mấy tốt đẹp cho người Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Nhưng vào lúc ấy, người ta vẫn còn rất lạc quan. Các chiến dịch tấn công của Mỹ trong suốt năm 1966 đã ngăn chặn bước tiến của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam (mà phía Mỹ gọi là Việt Cộng)
Chính sách bình định qua nòng súng của Mỹ tại Nam Việt Nam

Chính sách bình định qua nòng súng của Mỹ tại Nam Việt Nam

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Robert J. Thompson, “Pacification, Through the Barrel of a Gun”, The New York Times, 10/03/2017.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

11.000 lính thiệt mạng nhưng không có thành tựu lớn nào, khi nhìn lại, 1967 thật ra là một năm chẳng mấy tốt đẹp cho người Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Nhưng vào lúc ấy, người ta vẫn còn rất lạc quan. Các chiến dịch tấn công của Mỹ trong suốt năm 1966 đã ngăn chặn bước tiến của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam (mà phía Mỹ gọi là Việt Cộng). Những bước tiến đó, kết hợp với những nỗ lực “bình định” thường dân, dường như là con đường dẫn đến chiến thắng – nếu không phải vào năm 1967, thì cũng là ngay sau đó.

Nỗ lực bình định của Mỹ bao gồm một loạt các chiến lược khác nhau để loại bỏ ảnh hưởng của Cộng sản khỏi nông thôn Nam Việt Nam. Và trên một phuong diện nào đó, đây chính là trung tâm thực sự trong những nỗ lực của Mỹ ở nơi này: Dù cái mà chúng ta nhớ nhất về cuộc chiến này là các trận đánh, nhưng những trận đánh ấy thường là để mở đường cho các đội bình định thực hiện công việc của họ.

“Chiến tranh đơn vị lớn” (big unit war) của Tướng William C. Westmoreland cũng tập trung đáng kể vào bình định. “Tìm và diệt” (search and destroy) – phương pháp mà các đơn vị Quân đội Hoa Kỳ sử dụng để giao chiến với kẻ địch – được xem như một hình thức bình định. Thật vậy, bình định đòi hỏi phải cải thiện an ninh – một nhiệm vụ mà tìm và diệt có thể làm được.

Một báo cáo từ các cố vấn của Quân đội và Cơ quan Phát triển Quốc tế (Agency for International Development) đóng tại tỉnh Phú Yên, dọc bờ biển Việt Nam, vào năm 1966, cho biết: “Sức mạnh quân sự được tăng cường và khu vực hoạt động được mở rộng đang tạo điều kiện cho phép mở rộng [các chương trình kiểu này] vào những khu vực trước đây không được coi là đủ an toàn để đạt được tiến bộ thỏa đáng.” Và chí ít là trên giấy tờ, các chiến dịch quân sự ở Phú Yên – với mật danh như Van Buren, Fillmore  John Paul Jones– đã tạo ra một khu vực có an ninh tốt hơn rõ rệt so với tình hình ở Sài Gòn trước khi người Mỹ cho triển khai lực lượng tác chiến.

Trong một cuộc họp năm 1966 giữa các quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại Honolulu, bình định tiếp tục nhận được nhiều chú ý hơn, và đã giúp cải thiện việc hợp tác giữa các cố vấn dân sự và quân sự. Sau khi cân nhắc trong khoảng giữa tháng hai và tháng ba, Mỹ cuối cùng đã công bố thành lập một tổ chức tư vấn quân sự-dân sự mới: Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách mạng (Civil Operations and Revolutionary Development Support, thường được gọi tắt là Cords).

Dù các nhóm cố vấn trước đây cũng đã giúp miền Nam Việt Nam cải thiện quản trị và kiểm soát vùng nông thôn, phải đến khi có Cords thì các nhân viên dân sự và quân sự với được tập hợp lại với nhau trong một tổ chức. Đến năm 1967, Cords đã xây dựng và điều hành các đội cố vấn ở mỗi tỉnh của Việt Nam Cộng hòa. Được giao nhiệm vụ giúp đỡ các đối tác miền Nam cải thiện khả năng quản trị của tỉnh, sự xuất hiện của các nhóm cố vấn đã gây ấn tượng sai lầm rằng cuộc chiến giờ đây đã bước vào giai đoạn hòa bình hơn, ít tàn phá hơn.

Năm 1965, Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng đã có những bước tiến đáng kể ở Phú Yên, cô lập thành công thủ phủ của tỉnh là thành phố Tuy Hòa và kiểm soát phần lớn vụ thu hoạch lúa quan trọng. Tuy nhiên, hoạt động của các đơn vị Mỹ, Hàn Quốc và Việt Nam Cộng hòa trong năm 1966 đã đẩy Cộng sản lùi sâu vào vùng nội địa miền núi.

Trong khi lùng lục tìm kiếm quân Bắc Việt và Việt Cộng, người Mỹ cũng nhận ra vai trò mấu chốt của việc kiểm soát vụ thu hoạch lúa đối với khả năng kiểm soát toàn tỉnh của chính quyền Sài Gòn. Qua các hoạt động quân sự thông thường, Mỹ tiếp tục chương trình bình định vào năm 1966 bằng cách giữ các cánh đồng lúa khỏi tay Cộng sản.

Các hoạt động bảo vệ thu hoạch lúa đã được tiếp tục vào năm 1967 qua Chiến dịch Adams, diễn ra từ tháng 10/1966 đến tháng 04/1967. Các đơn vị từ Sư đoàn 4 Bộ binh Hoa Kỳ đã tìm cách đánh bẫy và tiêu diệt lực lượng Cộng sản khi những người này cố gắng thoát khỏi thung lũng Tuy Hòa màu mỡ. Điều đó tạo điều kiện cho chính phủ Nam Việt Nam khẳng định quyền kiểm soát sản xuất lúa gạo – và do đó củng cố lòng trung thành của nông dân khu vực – đồng thời có thêm lợi ích là không để những người lính được huấn luyện tốt nhất của địch có gạo ăn.

Chiến dịch Adams đã thành công, chí ít là ở giai đoạn đầu. Nhiều đơn vị Cộng sản rút lui về các khu vực căn cứ ở vùng sâu vùng xa của Phú Yên. Nhưng ngay cả khi như thế thì cũng không có nghĩa là phe Cộng sản đã bỏ rơi thung lũng Tuy Hòa. Ngày 09/03/1967, một lực lượng Cộng sản khá lớn đã đánh bại một trung đội Mỹ. Đáp lại, một tuần sau, người Mỹ phát động một cuộc tấn công bằng trực thăng vào khu vực bị nghi ngờ là căn cứ Cộng sản, và đánh lại họ ba ngày sau đó. Trong con mắt của Sư đoàn 4 Bộ binh, hai trận đánh này đã giúp bảo vệ thung lũng Tuy Hòa. Thật vậy, “khu vực này là một trong những nơi bị kẻ thù tàn phá tồi tệ nhất và bây giờ nó là khu an toàn nhất,” bản báo cáo tóm tắt Chiến dịch Adams đã viết như vậy. Tuy nhiên, những tiến bộ kiểu này chỉ tồn tại chừng nào chiến dịch quân sự còn tiếp tục.

Ngày 17/09/1967, các thành viên Lữ đoàn Không vận 173 đã bắt đầu một nỗ lực khác, Chiến dịch Bolling, để bảo vệ vụ thu hoạch lúa mùa thu. Giống như Adams, Bolling tập trung vào việc bảo vệ an toàn cho vụ thu hoạch lúa và ngăn chặn Trung đoàn 95 của Bắc Việt tiến vào thung lũng Tuy Hòa. Chiến dịch lần này sử dụng ít quân hơn, nhưng vẫn tập trung vào việc bảo vệ nông dân trong suốt vụ thu hoạch, cũng như sử dụng phương pháp tìm và diệt. Tuy nhiên, khác với bất kỳ nỗ lực nào trước đây ở Phú Yên, Bolling đã cho thấy giới hạn của chiến tranh thông thường chính là việc bình định.

Trong khi các tiểu đoàn của Lữ đoàn Không vận 173 càn quét thung lũng Tuy Hòa, lực lượng Cộng sản chỉ đơn giản tìm cách tránh đối đầu. Thay vào đó, họ âm thầm chiếm các ấp, và tiến hành một chiến dịch tuyên truyền hiệu quả trong đó nói rằng đối thủ của Sài Gòn (tức lực lượng Cộng sản) đã “sống sót” sau nhiều nỗ lực của người Mỹ nhằm loại bỏ họ khỏi Phú Yên. Các hầm trú ẩn, đường hầm cũng như kho thực phẩm và vũ khí được tìm thấy bởi Sư đoàn Thiết giáp 16 trong thung lũng Tuy Hòa là minh chứng rõ ràng rằng chiến tranh còn lâu mới đi tới hồi kết.

Tuy nhiên, sự thành công rõ ràng của các lực lượng tác chiến thông thường khi giao chiến với Cộng sản khiến người ta tin rằng bình định đang phát huy hiệu quả. Sang mùa thu, quân Mỹ tiến vào thung lũng Kỳ Lộ xa xôi và giao chiến với Trung đoàn 95 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhưng mỗi bước tiến lại như thể dẫn tới một bước lùi: Ngày 27/12, các đơn vị quân đội Mỹ và quân chính quy Bắc Việt đã có một trận đánh dữ dội ở cách thành phố Tuy Hòa vỏn vẹn 35 dặm, ngay thung lũng Kỳ Lộ. Lính Bắc Việt cuối cùng đã rút lui – nhưng sau đó nhanh chóng quay trở lại để xây dựng lại lực lượng ngay khi người Mỹ rời đi.

Bình định dựa trên chiến tranh thông thường làm cho cuộc chiến ở Việt Nam trông có vẻ đơn giản và dễ chiến thắng. Thông qua tìm và diệt, các đơn vị quân đội đã đảm bảo việc thu hoạch lúa ở thung lũng Tuy Hòa và từ đó tiến tới mục tiêu bình định – ngay cả khi nó làm lu mờ những phần cứng rắn, phi quân sự trong chiến lược.

Nó cũng làm lu mờ một điều khác. Chiến tranh thông thường khiến Phú Yên có vẻ an toàn hơn so với năm 1965. Nhìn lại, các dấu hiệu hoạt động của Bắc Việt tiếp tục chứng minh rằng họ chưa hề bị đánh bại – đồng thời cũng tiết lộ kế hoạch của Cộng sản nhằm lật đổ quyền kiểm soát của Sài Gòn đối với Phú Yên. Thật vậy, Tổng Tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 sẽ làm đảo ngược phần lớn thành quả từ chính sách bình định của các lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả tỉnh Phú Yên.

Robert J. Thomp 
 

Sự lên ngôi của các chính sách tiền tệ trái lệ

Print Friendly, PDF & Email

monetary-policy

Nguồn: Nouriel Roubini, “An Unconventional Truth”, Project Syndicate, 01/02/2015.

Biên dịch: Ninh Thị Thanh Hà | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Ai nghĩ rằng sáu năm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, phần lớn các nền kinh tế phát triển vẫn sẽ bơi trong nồi súp chữ cái các chính sách tiền tệ trái lệ – ZIRP, QE, CE, FG, NDR và U-FX Int? Trước năm 2008, không có ngân hàng trung ương nào cân nhắc đến bất kỳ biện pháp nào như vậy: ZIRP – zero interest rate policy (chính sách lãi suất 0%), QE – quantitative easing (nới lỏng định lượng), CE – credit easing (nới lỏng tín dụng), FG – forward guidance (định hướng thị trường tiền tệ), NDR – negative deposit rate (lãi suất tiền gửi âm), U-FX Int – unlimited foreign exchange intervention (can thiệp không hạn chế vào tỉ giá hối đoái). Ngày nay, những biện pháp này lại trở thành phần chủ yếu trong bộ công cụ của người làm chính sách.

Chỉ trong vòng một năm rưỡi vừa qua, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã thi hành phiên bản FG của chính họ, sau đó chuyển sang ZIRP, rồi CE, trước khi quyết định áp dụng NDR. Vào tháng 1, họ đã hoàn toàn áp dụng QE. Cho tới giờ, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed), Ngân hàng Trung ương Anh, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, ECB, và một loạt ngân hàng trung ương của các nền kinh tế phát triển nhỏ hơn, như là Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ, đều đã dựa vào những chính sách trái lệ này.

Hệ quả của sự kích hoạt chính sách tiền tệ trên quy mô toàn cầu này là sự nổi loạn (phản đối) của những người nghiên cứu kinh tế và những người đang kiếm tiền từ thị trường trong những năm gần đây. Các nhà kinh tế học theo trường phái “Áo”, những người theo chủ nghĩa tiền tệ cấp tiến, kinh doanh vàng, hay tín đồ bitcoin đã liên tục cảnh báo việc tăng quy mô lớn của thanh khoản toàn cầu có thể dẫn tới siêu lạm phát, sự sụp đổ của đồng đô la Mỹ, giá vàng cao ngất ngưởng, và sự sụp đổ cuối cùng của tiền định danh dưới tay tiền ảo.

Không một dự báo thảm khốc nào như vậy trở thành hiện thực. Lạm phát thấp và đang đà giảm ở hầu hết các nền kinh tế phát triển; thực tế, tất cả ngân hàng trung ương của các nền kinh tế phát triển đang không thể thực hiện được – một cách rõ ràng hay không rõ ràng – chỉ tiêu lạm phát 2% của họ, một vài ngân hàng trung ương còn đang vật lộn tìm cách tránh giảm phát. Thêm vào đó, giá trị đồng đô la đã tăng vọt so với đồng yên, euro, và hầu hết đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi. Giá vàng thì giảm mạnh từ 1.900 đô la Mỹ 1 ounce xuống còn khoảng 1.200 đô la Mỹ kể từ mùa thu năm 2013. Và Bitcoin là đồng tiền tồi tệ nhất năm 2014 khi giá trị của nó giảm gần 60%.

Chắc chắn rằng, phần lớn những nhà tiên tri thảm họa có rất ít kiến thức về kinh tế học cơ bản. Nhưng việc đó cũng không ngăn quan điểm của họ được tranh luận rộng rãi. Do đó cần đặt ra câu hỏi tại sao dự đoán của họ lại có thể sai một cách ngoạn mục như vậy.

Nguồn gốc sai lầm của họ nằm ở sự nhầm lẫn nguyên nhân và hệ quả. Điều khiến các ngân hàng trung ương gia tăng sử dụng các chính sách tiền tệ trái lệ là do sự phục hồi sau 2008 quá yếu ớt. Những chính sách như thế là cần thiết để chống lại áp lực giảm phát gây ra bởi yêu cầu phải thoái nợ hết sức đau đớn trong khi lượng nợ công và nợ tư nhân tích tụ ngày càng lớn.

Ví dụ, ở hầu hết các nền kinh tế phát triển, vẫn có một khoảng trống lớn về sản lượng, với lượng cung và lượng cầu ở dưới mức tiềm năng; vì vậy, nhà sản xuất có quyền định giá rất hạn chế. Thị trường lao động cũng sa sút đáng kể: Quá nhiều người thất nghiệp đang  theo đuổi số việc làm ít ỏi, trong khi thương mại và toàn cầu hóa, cùng với cải tiến công nghệ tiết kiệm sức lao động, đang ngày càng co hẹp thu nhập và việc làm của người lao động, làm cho lượng cầu càng cách xa lượng cung.

Thêm vào đó, các thị trường bất động sản đã qua giai đoạn bùng nổ (tại Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, Ireland, Iceland và Dubai) thì vẫn sa sút. Và bong bóng tại các thị trường khác (như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore, Canada, Thụy Sĩ, Pháp, Thụy Điển, Na uy, Úc, New Zealand) lại tạo ra rủi ro mới, vì sự sụp đổ của các thị trường này sẽ kéo giá nhà xuống.

Thị trường hàng hóa cơ bản cũng đã trở thành một nguyên nhân giảm phát. Cuộc cách mạng năng lượng đá phiến của Mỹ đã làm giảm giá dầu và khí, trong khi suy thoái ở Trung Quốc đã làm giảm cầu đối với hàng loạt hàng hóa cơ bản, bao gồm quặng sắt, đồng và các kim loại công nghiệp khác, những hàng hóa đang có lượng cung lớn do nhiều năm giá cao đã kích thích đầu tư mới vào năng lực sản xuất.

Suy thoái của Trung Quốc, hệ quả của nhiều năm đầu tư quá mức vào bất động sản và cơ sở hạ tầng, cũng gây nên dư thừa toàn cầu về hàng hóa sản xuất và công nghiệp. Với lượng cầu nội địa ở những lĩnh vực này giảm mạnh, dư thừa năng lực sản xuất – ví dụ như trong ngành thép và xi măng của Trung Quốc – đã tiếp thêm cho áp lực giảm phát của thị trường công nghiệp toàn cầu.

Tăng bất bình đẳng thu nhập, thông qua việc phân phối lại thu nhập từ những người tiêu dùng nhiều hơn sang những người tiết kiệm nhiều hơn, đã làm trầm trọng hơn sự thiếu hụt cầu. Do vậy mà có sự điều chỉnh bất đối xứng giữa các nền kinh tế chủ nợ tiết kiệm quá nhiều mà không đối mặt với áp lực thị trường phải chi tiêu nhiều hơn, và các nền kinh tế đi vay chi tiêu quá nhiều nhưng phải đối mặt với áp lực thị trường và buộc phải tiết kiệm nhiều hơn.

Nói một cách đơn giản, chúng ta đang sống trong một thế giới nơi lượng cung quá lớn còn lượng cầu quả nhỏ. Hệ quả của nó là áp lực giảm lạm phát, hoặc giảm phát, dai dẳng bất chấp các biện pháp nới lỏng tiền tệ tích cực.

Sự bất lực của những chính sách tiền tệ trái lệ trong việc ngăn chặn giảm phát hoàn toàn phần nào phản ánh một thực tế là những chính sách đó tìm cách làm suy yếu đồng tiền nhằm cải thiện xuất khẩu ròng và tăng lạm phát. Tuy nhiên, việc này là một trò chơi có tổng bằng không khi chỉ đơn thuần chuyển giảm phát và suy thoái sang các nền kinh tế khác.

Quan trọng hơn có lẽ là sự không tương thích sâu sắc (của chính sách tiền tệ) với chính sách tài khóa. Để hiệu quả, các kích thích tiền tệ cần được đi kèm với kích thích tài khóa tạm thời, điều còn thiếu ở tất cả các nền kinh tế lớn. Thật vậy, khu vực đồng euro, Anh, Mỹ và Nhật Bản đều đang theo đuổi chính sách tài khóa thắt lưng buộc bụng và thu hẹp ở các mức độ khác nhau.

Ngay cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng chỉ ra chính xác rằng một phần của giải pháp cho một thế giới với quá nhiều cung và quá ít cầu cần phải là đầu tư công vào cơ sở hạ tầng, thứ đang thiếu – hoặc vụn vỡ – ở hầu hết các nền kinh tế phát triển và các thị trường mới nổi (trừ Trung Quốc). Với lãi suất dài hạn gần bằng 0 tại phần lớn các nền kinh tế phát triển (và tại một số nước còn âm), thì chi tiêu cho cơ sở hạ tầng là hợp lý. Nhưng một loạt các ràng buộc chính trị – nhất là thực tế rằng các nền kinh tế có tài khóa eo hẹp phải giảm đầu tư cơ sở hạ tầng trước khi cắt lương ở khu vực công, trợ cấp, và các khoản chi tiêu thường xuyên khác – đang trì hoãn cuộc bùng nổ về cơ sở hạ tầng cần thiết.

Tất cả những điều này tạo nên một công thức cho sự tăng trưởng tiếp tục chậm chạp, trì trệ, lạm phát xuống thấp và kể cả giảm phát. Đó là lý do khi không có những chính sách tài khóa phù hợp để giải quyết tổng cầu thiếu hụt, các chính sách tiền tệ trái lệ sẽ vẫn là đặc thù của bối cảnh kinh tế vĩ mô.

Nouriel Roubini là giáo sư tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, chủ tịch của Roubini Global Economics. Ông từng làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, và Ngân hàng Thế giới.
 

Mỹ từng giúp Trung Quốc đào tạo nhân tài như thế nào?

Print Friendly, PDF & Email

Qian-Xuesen-001

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Khoản bồi thường năm Canh Tý

Cuối thế kỷ 19, do không chịu nổi ách áp bức bóc lột dã man của phong kiến Mãn Thanh, nông dân một số tỉnh ở Trung Quốc đã nổi dậy chống triều đình. Phong trào này mới đầu có tên Nghĩa Hoà Quyền; từ 1899 đổi tên là Nghĩa Hoà Đoàn, chuyển mục tiêu sang chủ yếu chống đế quốc phương Tây.

Năm Canh Tý (1900), Nghĩa Hoà Đoàn chiếm Bắc Kinh và một số thành phố. Triều đình nhà Thanh của Từ Hy Thái hậu chạy lên Tây An, bỏ ngỏ Bắc Kinh. Quân Nghĩa Hoà Đoàn mặc sức hãm hại giáo sĩ, kiều dân nước ngoài, cướp phá tài sản của họ và các sứ quán. Trước tình hình đó, lấy danh nghĩa bảo vệ kiều dân và sứ quán, quân đội 8 nước Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Ý và đế quốc Áo-Hung liên kết nhau tiến vào Bắc Kinh và các thành phố bị chiếm. Phong trào Nghĩa Hoà Đoàn bị dập tắt.

Tháng 9/1901, triều đình nhà Thanh phải đàm phán với 11 nước phương Tây và ký Điều ước Tân Sửu gồm 12 điều khoản; trong đó điều khoản nhận bồi thường toàn bộ phí tổn và thiệt hại của các nước này do việc Nghĩa Hoà Đoàn chống lại họ (các nước tự khai phí tổn và thiệt hại).

Khoản bồi thường đó gọi là Khoản bồi thường Canh Tý(KBTCT), quy định bằng 450 triệu lạng bạc, tức mỗi người Trung Quốc trả 1 lạng bạc. Được bồi thường nhiều nhất là Nga (28,97%), Đức (20,02%), Pháp, Anh, Nhật, Mỹ (7,32% hoặc 24,4 triệu USD), Ý, Bỉ, đế quốc Áo-Hung, Hà Lan… Theo quy định, KBTCT được trả dần trong 39 năm, lãi suất mỗi năm 4%, tổng cộng cả vốn lẫn lãi sẽ là 982 triệu lạng bạc. Số tiền này vượt quá khả năng chi trả của Trung Quốc.

Điều ước Tân Sửu rõ ràng là bất công, là nỗi sỉ nhục của Trung Quốc. Trong 11 nước phương Tây nói trên, Mỹ là nước duy nhất có chính quyền dân cử và đang muốn đóng vai trò dẫn đầu phong trào dân chủ thế giới; vì vậy chính phủ Mỹ với đại diện là Tổng thống William McKinley và Bộ trưởng Ngoại giao John Hay có quan điểm tương đối công bằng, đã đề nghị các nước phương Tây bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc và giảm khoản bồi thường.

Cuối 1904, Mỹ tuyên bố: qua điều tra thấy phí tổn và thiệt hại của Mỹ chưa đến 24,4 triệu USD và Mỹ sẽ trả lại Trung Quốc phần dôi ra. Cuối 1908, Mỹ công bố lệnh trả lại Trung Quốc 28,9 triệu USD trong tổng số tiền bồi thường 53,35 triệu USD Trung Quốc phải trả (cả vốn lẫn lãi).

Hành động của Mỹ trả lại khoản bồi thường Canh Tý cho Trung Quốc được các nước khác noi theo (Anh, Pháp: 1920; Nhật: 1923; Hà Lan: 1926; Ý: 1933) với quy mô hoàn trả khác nhau. Nhờ đó và nhờ các lý do khác, cuối cùng Trung Quốc chỉ phải trả 58% tổng số tiền quy định trong Điều ước Tân Sửu và có cơ hội đưa nhiều người sang Âu Mỹ du học.

Học bổng Khoản Bồi thường Canh Tý

Năm 1906, Edmund J. James hiệu trưởng Đại học Illinois đề nghị Tổng thống T. Roosevelt cử người sang Trung Quốc khảo sát tình hình giáo dục và tìm cách thu hút học sinh nước này sang Mỹ học nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức có thể tác động tới các lãnh tụ Trung Quốc. Nhà truyền giáo Arthur Henderson Smith cũng thuyết phục Tổng thống Mỹ mở trường học ở Trung Quốc và đưa học sinh nước này sang Mỹ học; đây là “cách tốt nhất để Trung Quốc và Mỹ gắn bó với nhau về kinh tế và chính trị” – ông nói.

Cuối 1907, Tổng thống T. Roosevelt nói nên giúp Trung Quốc về giáo dục và khuyến khích học sinh nước này đến Mỹ học. Năm 1908, Quốc hội Mỹ thông qua đề án trả lại Trung Quốc một nửa số tiền bồi thường quy định (11,6 triệu USD) và giao cho Tổng thống tổ chức thực hiện.

Chính quyền Trung Quốc tuyên bố cảm ơn Mỹ. Để tỏ lòng tri ân, họ lấy tên Tổng thống Mỹ đặt cho Cung Thể thao ở Đại học Thanh Hoa (Roosevelt Memorial Gymnasium), có tạc tượng Roosevelt (sau 1949 tượng này bị phá).

Hai bên thoả thuận sẽ dùng số tiền hoàn trả này để làm học bổng cho học sinh Trung Quốc sang Mỹ du học, gọi là Học bổng Khoản Bồi thường Canh Tý. Phía Trung Quốc dự định mỗi năm cử 100 người, từ năm thứ 5 trở đi mỗi năm 50 người, cho đến khi dùng hết số tiền trả lại. Hai bên thống nhất: 80% học sinh sẽ học các ngành nông nghiệp, khoáng sản, vật lý, hoá học, công trình đường sắt, cơ khí, ngân hàng; 20% học các ngành chính trị, pháp luật, tài chính, kinh tế và sư phạm. Việc tổ chức tuyển chọn du học sinh do Trung Quốc tự làm, phía Mỹ không tham gia.

Năm 1909, chính quyền lập Vụ Du học Mỹ để tổ chức thực thi việc nói trên. Các tỉnh được chọn người đưa lên Bắc Kinh dự thi. Khoá thi đầu tiên (8/1909) có 630 người ghi tên; 68 người lọt qua vòng sơ tuyển (thi quốc văn và Anh văn), rồi thi tiếp các môn toán, lý, hoá, lịch sử Anh, Mỹ, Hy Lạp, La Mã. Sau 5 đợt thi, kết quả chọn được 47 người. Tháng 10/1909 tốp học sinh đầu tiên đi Mỹ du học. Việc thi cử tiến hành nghiêm chỉnh chặt chẽ, thí sinh phải giỏi quốc văn, Anh văn, và phải đạt yêu cầu “khoẻ mạnh, đứng đắn, tướng mạo không có khiếm khuyết, lý lịch trong sạch”. Khoá thi năm 1910 có 400 thí sinh, chọn được 70. Khoá thi năm 1911 chọn được 63 người

Chính quyền còn cấp đất và kinh phí lấy trong KBTCT để xây dựng Trường Dự bị du học Mỹ, năm 1911 đổi tên là Thanh Hoa Học đường (năm 1924 đổi tên là Đại học Thanh Hoa), chia 2 khoa Trung học và Cao đẳng, mỗi khoa học 4 năm, chuyên đào tạo học sinh đi Mỹ du học. Tháng 3/1911 Thanh Hoa Học đường khai giảng, gồm hơn 400 học sinh 12-20 tuổi đã được tuyển chọn nghiêm ngặt từ các địa phương. Nhờ có kinh phí lớn nên trường này có cơ sở vật chất tốt nhất trong các trường ở Trung Quốc. Học sinh tốt nghiệp khoa Cao đẳng của Thanh Hoa Học đường có thể vào thẳng năm thứ 3 đại học Mỹ.

Ngoài ra từ năm 1917, Mỹ còn dùng KBTCT để xây dựng Y viện Hiệp Hoà hiện đại nhất Trung Quốc và Học viện Y khoa Hiệp Hoà.

Năm 1924, Quốc hội Mỹ thông qua luật dùng KBTCT còn lại (12,54 triệu USD) lập Quỹ Xúc tiến Trung Quốc. Quỹ này đã dùng một phần kinh phí cho học sinh ĐH Thanh Hoa du học Mỹ.

Trong thời gian về sau, do tình hình chính trị trong nước không ổn định, việc thi tuyển lưu học sinh đi Mỹ không tiến hành liên tục. Từ năm 1932 bắt đầu tăng trở lại, năm 1935 số lưu học sinh lên tới 1.033 người. Thời kỳ kháng chiến chống Nhật (1937-1945) việc đưa người đi du học bị ngừng. Năm 1946 tiếp tục tổ chức chiêu sinh dự thi toàn quốc đi du học nước ngoài, có 4.463 thí sinh. Sau đó do có cuộc chiến tranh giải phóng nên việc tổ chức du học nói trên chấm dứt. Quỹ Xúc tiến Trung Quốc chuyển sang Đài Loan và dùng số tiền còn lại thành lập trường ĐH Thanh Hoa tại khu Tân Trúc ở Đài Loan.

Kết quả của Chương trình du học bằng học bổng KBTCT

Thời gian 1909-1928, Trung Quốc đưa được hơn 1.000 người sang Mỹ du học; sau đó vẫn cử người đi tiếp, nhưng không có số liệu thống kê. Số người du học Mỹ chưa nhiều lắm, nhưng điều quan trọng nhất là nước Mỹ đã đào tạo cho Trung Quốc nhiều nhà khoa học giỏi, thậm chí hàng đầu thế giới, về sau có đóng góp cực kỳ quan trọng cho sự phát triển khoa học nhân văn và khoa học kỹ thuật của Trung Quốc (hơn hẳn số hàng chục nghìn lưu học sinh sau này đào tạo tại Liên Xô và Đông Âu). Chẳng hạn nhờ đó chương trình làm bom nguyên tử và làm tên lửa, vệ tinh nhân tạo của Trung Quốc hoàn thành sớm được ít nhất 20 năm. Các nhà khoa học chủ yếu trong chương trình này như Đặng Gia Tiên, Tiền Học Sâm … đều học ở Mỹ về.

Dưới đây xin giới thiệu hai gương mặt điển hình của số học sinh đi Mỹ theo chương trình học bổng khoản bồi thường năm Canh Tý.

Về khoa học nhân văn có Hồ Thích (1891-1962), năm 1910 đi Mỹ du học tại Đại học Cornell, về nước 1917. Ông là nhà thơ, sử gia, triết gia, nhà giáo dục, luân lý học, nhà tư tưởng…, một đại học giả của Trung Quốc, từng được tặng 36 bằng tiến sĩ danh dự (chủ yếu ở Mỹ), nổi tiếng có nhiều cống hiến trên nhiều lĩnh vực. Sau khi về nước đã đề xướng cách mạng văn học, trở thành một trong các lãnh tụ Phong trào Tân Văn hoá. Từng là đại sứ Trung Hoa Dân quốc tại Mỹ (1938), hiệu trưởng ĐH Bắc Kinh (1946), Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung ương (Đài Loan, 1957, tức Viện Khoa học). Từ 1949 ở Mỹ và Đài Loan. Hồ Thích là nhà tiên phong chủ nghĩa tự do ở Trung Quốc, đề xuất thuyết điều hoà giai cấp, cho rằng chủ nghĩa Marx và thuyết đấu tranh giai cấp không thích hợp với Trung Quốc. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học thực dụng của J. Dewey. Hồ Thích có ảnh hưởng rất lớn đối với văn hoá Trung Quốc; một thời gian ông từng bị phê phán, phủ định, nhưng về sau được đánh giá cao. Ông là người đầu tiên đề xuất dùng văn Bạch thoại, lật đổ hình thức văn Văn ngôn từng thống trị nước này hơn 2.000 năm. Ông cũng có những ý kiến cực đoan như chủ trương Trung Quốc nên phương Tây hoá toàn bộ, bỏ chữ Hán, dùng ký hiệu phiên âm La Tinh…

Về KHKT có Tiền Học Sâm (1911-2009, tên La Tinh là Qian Xue-sen hoặc H.S.Tsien), người được gọi là Cha đẻ tên lửa và du hành vũ trụ Trung Quốc. 1934 tốt nghiệp ĐH Giao thông Thượng Hải, thi đỗ vào Lớp học sinh du học Mỹ của ĐH Thanh Hoa. 1935 sang Mỹ học tại Học viện Công nghệ Massachusetts, lấy bằng thạc sĩ, 1936 đến Học viện Công nghệ bang California (Caltech) làm nghiên cứu sinh ngành cơ khí hàng không dưới sự hướng dẫn của chuyên gia cơ học nổi tiếng Von Karman. Năm 1939 nhận bằng tiến sĩ, ở lại trường giảng dạy và tham gia nhóm nghiên cứu thiết kế tên lửa. Cuối 1942 được Karman đề cử làm công tác nghiên cứu khoa học cho quân đội Mỹ. Từng tham gia Dự án Manhattan (làm bom nguyên tử) và chương trình chế tạo tên lửa, được phong hàm đại tá. Là người nước ngoài duy nhất được Karman đề cử vào Nhóm Cố vấn khoa học cho Không quân Mỹ (Karman làm Trưởng nhóm). 1947 được Caltech đặc cách phong hàm giáo sư suốt đời, và được cử làm Giám đốc Phòng Thí nghiệm Phản lực của Caltech và trở thành chuyên gia kỹ thuật tên lửa nổi tiếng.

Sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập, Tiền Học Sâm xin về nước nhưng bị chính quyền Mỹ từ chối vì sợ tiết lộ bí mật quân sự. Chính phủ Trung Quốc qua thương lượng với Mỹ, đã xin được Tiền Học Sâm về nước bằng cách trao trả cho Mỹ một số phi công Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ. Sau 5 năm bị giam lỏng, năm 1955 Tiền Học Sâm được trở về Trung Quốc. Ông đề xuất nhiều ý kiến xây dựng ngành tên lửa – hàng không và thám hiểm vũ trụ. Từ 1958 trở đi lãnh đạo công tác nghiên cứu chế tạo tên lửa và tàu vũ trụ. Ông còn được cử làm Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Chủ tịch Hội Phổ biến KHKT toàn quốc.

Do có cống hiến kiệt xuất trong lãnh đạo nghiên cứu thiết kế chế tạo tên lửa và vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ, ông được chính phủ tặng nhiều vinh dự như giải nhất thành tựu khoa học tự nhiên (1957), giải đặc biệt tiến bộ KHKT nhà nước (1985), danh hiệu Nhà khoa học có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước và huy chương anh hùng lao động hạng nhất (1991), huy chương công huân “Lưỡng đạn nhất tinh” (bom nguyên tử, tên lửa và vệ tinh) (1999), giải thưởng danh dự cao nhất 50 năm sự nghiệp hàng không vũ trụ Trung Quốc (2006), cùng nhiều vinh dự khác, tiêu biểu hơn cả là danh hiệu Cha đẻ tên lửa và du hành vũ trụ Trung Quốc mà dư luận nước này dành cho ông.

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và là nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Hình: Tiền Học Sâm. Nguồn: Theguardian.com

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

NÊN CÔNG BẰNG VỚI DÂN KHÔNG LẤY AI ĐÁNH GIẶC!

( Nhân vụ kiện của dân Bằng A lên Tòa án quận Hoàng Mai) Nhà thơ Đỗ Hoàng Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Tòa án Quận Hoàng Mai có công văn gửi ông Chủ tịch UBND quận Hoàng Mai về việc nhận đơn khiếu kiện của ông Lưu Bách Thuật và bà Lưu Thị Hợi trú tại cụm dân cư Bằng A, phường Hoàng Liệt, quận...

Thống kê
  • Đang truy cập18
  • Hôm nay5,732
  • Tháng hiện tại97,153
  • Tổng lượt truy cập4,149,375
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây