07/07/1981: Sandra Day O’Connor được đề cử vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ

Chủ nhật - 07/07/2019 20:40
Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng ý tưởng tự do đã “lỗi thời”. Chẳng có gì ngạc nhiên khi biết rằng chúng tôi (The Economist) không đồng ý với tuyên bố đó. Không chỉ bởi vì Putin nói với Thời báo Tài chính rằng chủ nghĩa tự do chỉ xoay quanh vấn đề nhập cư, đa văn hóa và chính trị giới – một sự hiểu nhầm hoàn toàn – mà còn vì ông ta đã chọn sai mục tiêu
07/07/1981: Sandra Day O’Connor được đề cử vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ


Cuộc khủng hoảng toàn cầu của chủ nghĩa bảo thủ

Nguồn: The global crisis in conservatism”, The Economist, 04/07/2019.
Biên dịch: Phan Nguyên
Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng ý tưởng tự do đã “lỗi thời”. Chẳng có gì ngạc nhiên khi biết rằng chúng tôi (The Economist) không đồng ý với tuyên bố đó. Không chỉ bởi vì Putin nói với Thời báo Tài chính rằng chủ nghĩa tự do chỉ xoay quanh vấn đề nhập cư, đa văn hóa và chính trị giới – một sự hiểu nhầm hoàn toàn – mà còn vì ông ta đã chọn sai mục tiêu. Ý tưởng bị đe dọa nhiều nhất ở phương Tây chính là chủ nghĩa bảo thủ (conservatism). Và bạn không cần phải là người theo chủ nghĩa bảo thủ mới nhận thấy điều đó đáng ngại như thế nào.
Trong các hệ thống hai đảng, như Hoa Kỳ và (nói chung) là Anh, phe hữu đang nắm quyền, nhưng chỉ bằng cách vứt bỏ các giá trị vốn từng định hình bản sắc của họ. Ở các quốc gia có nhiều đảng phái, phe trung hữu đang bị xói mòn, như ở Đức và Tây Ban Nha, hoặc bị đánh bật, như ở Pháp và Ý. Còn ở những nơi khác, như Hungary, nơi có truyền thống dân chủ ngắn hơn, phe hữu đã đi thẳng tới chủ nghĩa dân túy mà không cần thử chủ nghĩa bảo thủ.
Chủ nghĩa bảo thủ không hẳn là một triết lý mà là một khuynh hướng. Nhà triết học Michael Oakeshott đã miêu tả hay nhất: “Bảo thủ nghĩa là thích những gì thân quen hơn bất định, thích thử những điều đã được thử hơn là những gì chưa được thử, thực tế hơn là bí ẩn, thực tại hơn là khả năng, bị giới hạn hơn là không ràng buộc, khoảng cách gần hơn là sự xa xôi”. Giống như chủ nghĩa tự do cổ điển, chủ nghĩa bảo thủ là một đứa con của thời kỳ Khai sáng. Các nhà tự do cho rằng trật tự xã hội xuất hiện tự phát từ những cá nhân hành động tự do, nhưng những người bảo thủ tin rằng trật tự xã hội phải có trước, tạo điều kiện cho tự do. Chủ nghĩa bảo thủ trông chờ vào thẩm quyền của gia đình, giáo hội, truyền thống và các hội đoàn địa phương để kiểm soát và làm chậm sự thay đổi. Nếu bạn quét sạch các thể chế thì phải chấp nhận nguy hiểm. Tuy nhiên, một sự phá hủy như vậy đang xảy ra với chính chủ nghĩa bảo thủ – và điều đó xuất phát từ phe hữu.
Phong trào tân hữu không phải là một sự tiến hóa của chủ nghĩa bảo thủ, mà là một sự phủ nhận nó. Những kẻ tân hữu tiếm quyền đã bất mãn và bực tức. Họ là những người bi quan và phản động. Họ nhìn vào thế giới và thấy những gì mà Tổng thống Donald Trump từng gọi là một “cuộc tàn sát”.
Hãy xem cách họ đang phá vỡ từ truyền thống bảo thủ này đến truyền thống bảo thủ khác. Chủ nghĩa bảo thủ rất thực dụng, nhưng phe tân hữu quá nặng về cảm xúc và ý thức hệ, trong khi xem nhẹ sự thật. Australia đang chịu hạn hán cùng các vùng biển nơi san hô bị tẩy trắng hàng loạt, nhưng phe hữu vừa giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử dưới  tay một đảng mà nhà lãnh đạo của họ đã phát biểu trước quốc hội khi cầm trong tay một cục than đá như thể đó là một thánh tích. Tại Ý, Matteo Salvini, lãnh đạo của Liên đoàn phương Bắc, đã thúc đẩy phong trào chống tiêm vaccine. Đối với ông Trump, các “thực tế” (facts) chỉ là những công cụ để thổi phồng hình ảnh của ông hoặc những khẩu hiệu được thiết kế để khuấy động sự phẫn nộ và lòng trung thành phe nhóm.
Những người bảo thủ thận trọng trước các thay đổi, nhưng phe hữu bây giờ lại hào hứng nghĩ về các cuộc cách mạng. Đảng Sự Thay thế cho nước Đức đã bóng gió về một cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên khu vực đồng euro của Đức. Nếu ông Trump thực hiện lời đe dọa rút khỏi NATO của mình, điều đó sẽ chấm dứt sự cân bằng quyền lực. Một Brexit mà không có thỏa thuận sẽ là một cú trượt dài vào sự bất định, nhưng Đảng Bảo thủ lại khao khát điều đó, ngay cả khi một viễn cảnh như vậy sẽ phá hủy sự liên kết với Scotland và Bắc Ireland.
Phe bảo thủ tin vào tư cách đạo đức, bởi vì chính trị liên quan đến sự phán xét cũng như lý trí. Họ nghi ngờ sự thu hút của cá nhân hay nạn tôn sùng lãnh tụ. Nhưng Ở Mỹ, nhiều đảng viên Cộng hòa, những người biết nhiều thông tin, lại ủng hộ ông Trump mặc dù Trump đã bị buộc tội một cách đáng tin cậy bởi 16 phụ nữ khác nhau về hành vi sai trái tình dục. Người Brazil đã bầu cho Jair Bolsonaro, người thích hồi tưởng về thời độc tài quân sự. Một Boris Johnson lôi cuốn đang là ứng viên yêu thích để trở thành thủ tướng tiếp theo của Anh dù không được các nghị sĩ tin tưởng, bởi vì ông được ví như là một đảng viên Bảo thủ “Heineken”, người mà, giống như nhãn hiệu bia, có khả năng làm tươi mới mát lạnh những điều mà các lãnh đạo bảo thủ khác không thể tiếp cận.
Phe bảo thủ thường tôn trọng giới kinh doanh và là người phụng sự nền kinh tế, bởi vì sự thịnh vượng là nền tảng cho mọi thứ. Thủ tướng Hungary Viktor Orban tự coi mình là một người bảo thủ kinh tế muốn thuế thấp, nhưng lại làm suy yếu nền pháp quyền mà các doanh nghiệp cần. Trump là người phát động các cuộc chiến thương mại. Hơn 60% số thành viên Đảng Bảo thủ Anh sẵn sàng gây ra “thiệt hại nghiêm trọng” cho nền kinh tế để đạt được Brexit. Ở Ý, Liên đoàn phương Bắc đang làm thị trường kinh sợ bằng cách phát hành các giấy tờ chính phủ có vai trò như một loại tiền tệ song song với đồng euro. Tại Ba Lan, Đảng Luật pháp và Công lý đã vung tay chi cho phúc lợi. Ở Pháp, trong chiến dịch tranh cử vào Nghị viện châu Âu, một Đảng Cộng hòa hỗn loạn đã đưa ra nhiều tuyên bố giật gân về “gốc rễ Do Thái – Thiên chúa giáo” của Châu Âu hơn là về quản lý kinh tế thận trọng.
Cuối cùng, cánh hữu đang thay đổi những ý nghĩa của sự thuộc về. Ở Hungary và Ba Lan, phe hữu tung hô chủ nghĩa dân tộc “máu và đất” mang tính loại trừ và phân biệt đối xử. Vox, một thế lực mới ở Tây Ban Nha, vọng tưởng về thời kỳ Reconquista (Tái chinh phục), khi các Kitô hữu xua đuổi người Hồi giáo. Một chủ nghĩa dân tộc đầy giận dữ, phản động sẽ làm dấy lên sự nghi ngờ, thù hận và chia rẽ. Điều đó đi ngược lại quan điểm của chủ nghĩa bảo thủ rằng việc thuộc về một quốc gia, một giáo hội hay cộng đồng địa phương có thể giúp đoàn kết mọi người và thúc đẩy họ hành động vì lợi ích chung.
Chủ nghĩa bảo thủ đã bị cực đoan hóa vì nhiều lý do. Một là sự suy giảm của cái mà Edmund Burke gọi là các “trung đội nhỏ” mà nó phụ thuộc vào, chẳng hạn như tôn giáo, các đoàn thể và gia đình. Một điều nữa là các đảng phái cũ ở cả bên tả hữu đã bị mất uy tín bởi cuộc khủng hoảng tài chính, chính sách thắt lưng buộc bụng và các cuộc chiến dài ở Iraq và Afghanistan. Bên ngoài các thành phố, người dân cảm thấy như bị chế nhạo bởi những kẻ thành thị ích kỷ, tham lam. Một số ít đã bị tổn thương bởi tinh thần bài ngoại của các con buôn chính trị. Một số người tin rằng sự sụp đổ của Liên Xô cũng đã nới lỏng chất keo kết dính một liên minh gồm những người hiếu chiến về chính sách đối ngoại, những người theo chủ nghĩa tự do và những người bảo thủ về văn hóa và ủng hộ doanh nghiệp. Không xu hướng nào trong số này sẽ dễ bị đảo ngược.
Hướng đi đúng
Điều đó không có nghĩa là mọi thứ đều sẽ diễn ra theo cách của các đảng tân hữu. Ít nhất là ở Anh và Mỹ, tình hình nhân khẩu học đang chống lại họ. Cử tri trung thành của họ là người da trắng và tương đối lớn tuổi. Các trường đại học là những khu vực mà cánh hữu không tồn tại. Một cuộc khảo sát của Pew năm ngoái cho thấy 59% số cử tri thuộc thế hệ thiên niên kỷ (tức những người đạt tuổi trưởng thành vào đầu thế kỷ 21 – ND) tại Mỹ theo đảng Dân chủ hoặc ủng hộ Đảng Dân chủ; tỷ lệ tương ứng của Đảng Cộng hòa chỉ là 32%. Trong số “thế hệ im lặng”, tức những người sinh trong các năm 1928-45, tỉ lệ ủng hộ Đảng Dân chủ là 43% và Đảng Cộng hòa 52%. Không rõ liệu những người trẻ có trôi về cánh hữu khi họ già đi để lấp đầy khoảng trống hay không.
Nhưng rõ ràng phong trào tân hữu đang chiến thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa bảo thủ truyền thống thời Khai sáng. Đối với những người tự do cổ điển, như tờ The Economist này, đó là điều đáng tiếc. Những người bảo thủ và tự do bất đồng về nhiều thứ, chẳng hạn như về vấn đề ma túy và tự do tình dục. Nhưng họ thường là đồng minh. Cả hai đều phản đối mong muốn không tưởng rằng có thể tìm ra giải pháp chính phủ cho mọi sai trái. Cả hai đều chống lại việc lập kế hoạch của nhà nước và thuế cao. Xu hướng bảo thủ về đạo đức được bù đắp lại bởi sự bảo vệ tự do ngôn luận và thúc đẩy tự do dân chủ trên toàn thế giới. Thật vậy, những người bảo thủ và tự do thường bổ trợ cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Những người bảo thủ giúp kiềm chế bớt nhiệt tình tự do; còn những người tự do giúp xì hơi sự tự mãn của những người bảo thủ.
Ngược lại, phe tân hữu lại thù địch với những người tự do cổ điển. Rủi ro ở đây là những người ôn hòa sẽ bị đẩy ra ngoài khi hai bên tả – hữu đốt nóng không khí chính trị và kích động nhau chuyển sang hai cực. Các cử tri có thể không còn lựa chọn nào khác. Nhằm chống lại ông Trump, Đảng Dân chủ đã dịch chuyển về cánh  tả trong các vấn đề nhập cư hơn so với các cử tri bình thường. Người Anh, với hai đảng lớn, có thể sẽ phải chọn giữa Jeremy Corbyn, nhà lãnh đạo cực tả của Công Đảng, và một Đảng Bảo thủ cực đoan hóa dưới thời Johnson. Ngay cả khi bạn có thể bỏ phiếu cho phe trung dung, như trường hợp Emmanuel Macron ở Pháp, một đảng duy nhất sẽ giành chiến thắng liên tục theo mặc định, điều về lâu dài không có lợi cho nền dân chủ.
Trong thời kỳ tốt đẹp nhất, chủ nghĩa bảo thủ có thể là một lực lưởng gây ảnh hưởng ổn định. Trường phái này hợp lý và khôn ngoan; coi trọng năng lực; và không vội vàng. Những ngày đó đã qua. Ngày nay, cánh hữu đang rực cháy và điều đó rất nguy hiểm.
Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo.
04/07/1826: Thomas Jefferson và John Adams cùng qua đời

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1826, hai cựu Tổng thống Mỹ, Thomas Jefferson và John Adams, những người từng là bạn bè trong nhóm Ái Quốc (Patriot) và sau đó trở thành kẻ thù của nhau, đã qua đời trong cùng một ngày, chỉ cách nhau năm giờ.
Thomas Jefferson và John Adams là những thành viên cuối cùng còn sống trong số các nhà cách mạng Mỹ đầu tiên đứng lên chống lại Đế quốc Anh và tạo nên một hệ thống chính trị mới ở các thuộc địa. Tuy nhiên, dù cả hai đều tin vào dân chủ và quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc, quan điểm của họ về cách đạt được những lý tưởng này đã bị thay đổi theo thời gian.
Adams lên làm Tổng thống trước Jefferson (1797-1800); chính trong thời gian này, những ý tưởng của họ về hoạch định chính sách đã dần bộc lộ nét khác biệt như tính cách của hai người. Adams nóng tính và hay giận dữ, là người tin tưởng vững chắc vào một chính phủ tập trung mạnh mẽ, trong khi đó, Jefferson uyên bác và hiền lành, tin rằng chính phủ liên bang nên có cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn và bảo vệ quyền của từng tiểu bang.
Với tư cách là Phó Tổng thống dưới thời Adams, Jefferson đã rất lo ngại trước những gì ông coi là hành động lạm dụng quyền lực của Tổng thống, đặc biệt là việc Adams thông qua Đạo luật Chống Nổi loạn và Hạn chế Người Nước ngoài (Alien and Sedition Acts of 1798) và ông đã quyết định từ bỏ Adams và Washington để quay về tư gia tại Monticello. Ở đó, ông tìm cách đưa phe Cộng hòa của mình trở lại nắm quyền trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1800. Sau một chiến dịch đặc biệt căng thẳng, trong đó cả hai đảng đều cố gắng vu khống lẫn nhau, Jefferson cuối cùng đã chiến thắng và những người bạn cũ nay trở thành kẻ thù vĩnh viễn.
Sau khi phục vụ hai nhiệm kỳ tổng thống (1801-1809), Jefferson và Adams đều từng bày tỏ với các bên thứ ba rằng họ tôn trọng nhau và mong muốn nối lại tình bạn. Adams là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng; ông đã gửi cho Jefferson một lá thư đề ngày 01/01/1812, trong đó ông chúc Jefferson thêm nhiều năm mới hạnh phúc. Jefferson hồi đáp bằng một lá thư viết rằng ông thích nhớ lại thời kỳ khi họ là những người bạn cùng làm việc vì một lý tưởng. Hai nhà cách mạng đã nối lại tình bạn với 14 năm trò chuyện thư từ trong thời hoàng kim của họ.
Ngày 04/07/1826, ở tuổi 90, Adams hấp hối trên giường trong khi cả đất nước kỷ niệm Ngày Quốc khánh. Lời trăn trối của ông là “Thomas Jefferson vẫn còn sống sót.” Tiếc thay ông đã nhầm: Jefferson đã qua đời năm giờ trước đó tại Monticello ở tuổi 82.
Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo

07/07/1981: Sandra Day O’Connor được đề cử vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ
Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ


Nguồn: O’Connor nominated to Supreme CourtHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1981, Tổng thống Ronald Reagan đã đề cử Sandra Day O’Connor, một thẩm phán tòa phúc thẩm ở Arizona, trở thành người phụ nữ đầu tiên tham gia Tối cao Pháp viện trong lịch sử nước Mỹ. Ngày 21/09, Thượng viện nhất trí phê chuẩn việc bổ nhiệm bà vào tòa án cấp cao nhất của quốc gia, và ngày 25/09, bà đã tuyên thệ nhậm chức trong buổi lễ được chủ trì bởi Chánh án Warren Burger.
Sandra Day được sinh ra ở El Paso, Texas, năm 1930. Bà lớn lên trong trang trại chăn gia súc của gia đình ở phía đông nam Arizona, sau đó theo học chuyên ngành kinh tế tại Đại học Stanford. Một tranh chấp pháp lý liên quan đến trang trại của gia đình đã khơi nguồn cho quan tâm của Sarah đối với luật pháp; năm 1950, bà đăng ký vào Trường Luật thuộc Đại học Stanford. Bà chỉ mất hai năm để nhận được bằng luật và được xếp hạng trong tốp đầu lớp. Sau khi tốt nghiệp, bà kết hôn với John Jay O’Connor III, một anh bạn cùng lớp.
Bởi bà là phụ nữ nên không một công ty luật nào mà Sarah nộp đơn xin việc chấp nhận cho bà làm một vị trí tương xứng, vì vậy bà quyết định chuyển sang lĩnh vực công và đã trở thành phó chưởng lý quận tại San Mateo, California. Năm 1953, chồng bà được nhận vào Quân đội Hoa Kỳ với tư cách là một thẩm phán, và nhà O’Connors đến sống ba năm ở Tây Đức, nơi Sandra làm luật sư dân sự cho quân đội. Năm 1957, họ trở về Mỹ và định cư tại Phoenix, Arizona, nơi hai vợ chồng có với nhau ba đứa con trong sáu năm tiếp theo. Trong thời gian này, O’Connor bắt đầu thành lập công ty luật tư nhân cùng một đối tác và tham gia vào nhiều hoạt động tình nguyện.
Năm 1965, bà trở thành trợ lý Tổng Chưởng lý tại Arizona và năm 1969 được bổ nhiệm vào Thượng viện bang Arizona để giành một ghế trống. Sau khi được bầu và tái đắc cử, bà trở thành phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Mỹ giữ vị trí lãnh đạo phe đa số trong một thượng viện tiểu bang. Năm 1974, bà được bầu làm Thẩm phán Tòa án Cấp cao tại Hạt Maricopa và năm 1979 được Thống đốc Bruce Babbitt, một thành viên Đảng Dân chủ, bổ nhiệm vào Tòa phúc thẩm Arizona.
Hai năm sau, vào ngày 07/07/1981, Tổng thống Reagan đã đề cử bà vào Tối cao Pháp viện, đảm nhận vị trí bỏ trống của thẩm phán vừa về hưu Stewart Potter, người được bổ nhiệm bởi Eisenhower. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1980, Reagan đã hứa sẽ bổ nhiệm một phụ nữ vào Tối cao Pháp viện khi có cơ hội và ông đã chọn O’Connor, trong số hơn 20 ứng cử viên nam nữ, làm đề cử đầu tiên của mình.
Được biết đến như một người bảo thủ ôn hòa, Sarah đã vấp phải sự phản đối của các nhóm chống phá thai, những người chỉ trích lời bào chữa của bà về phá thai hợp pháp trong nhiều trường hợp. Những người theo phe tự do thì ăn mừng việc một phụ nữ được bổ nhiệm vào Tối cao Pháp viện, nhưng vẫn chỉ trích một số quan điểm của bà. Tuy nhiên, vào cuối phiên thảo luận về việc đề cử tại Capitol Hill, Thượng viện đã bỏ phiếu nhất trí tán thành việc đề cử bà. Ngày 25/09/1981, Sandra Day O’Connor tuyên thệ nhậm chức trở thành Thẩm phán thứ 102 – và là Thẩm phán nữ đầu tiên trong lịch sử Tối cao Pháp viện.
Ban đầu được coi là một thành viên của phe bảo thủ tại tòa án, sau đó bà sớm thoát khỏi cái bóng của William Rehnquist (Chánh án Tối cao Pháp viện giai đoạn 1986 – 2005), trở thành một người bảo thủ ôn hòa và thực dụng. Về các vấn đề xã hội, Sarah thường có cùng quan điểm với các thẩm phán tự do, và trong một số trường hợp, bà còn bảo lưu quyền phá thai. Trong thời gian ngồi trên ghế thẩm phán, bà được biết đến với những ý kiến công tư phân minh được nghiên cứu kỹ lưỡng, và được coi là một thẩm phán nổi bật vì xu hướng ôn hòa giữa một Tối cao Pháp viện bị chia rẽ sâu sắc.
O’Connor tuyên bố nghỉ hưu tại Tối cao Pháp viện vào ngày 01/07/2005. Quyết định của bà đã khiến các nhóm ủng hộ phá thai mất tinh thần, những người lo lắng rằng Tổng thống George W. Bush sẽ chọn thẩm phán kế nhiệm có khả năng lật đổ phán quyết Roe v. Wade, một phán quyết năm 1973 vốn giúp định hình quyền phá thai của phụ nữ. Sandra Day O’Connor được thay thế bởi Samuel Alito, người trở thành Thẩm phán Tối cao thứ 110 vào tháng 01/2006.
Nghiên cứu Quốc tế gửi bản báo
P/v


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Lê Duẩn là hảo hán

Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: ‘Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc’ Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và...

Thống kê
  • Đang truy cập56
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm54
  • Hôm nay6,551
  • Tháng hiện tại174,996
  • Tổng lượt truy cập3,487,840
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây